Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam. Chương 2: Pháp luật tố tụng hình sự và thực tiễn bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam ở Việt Nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Nam Định). Chương 3: Giải pháp tăng cường bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam theo pháp luật tố tụng hình sự việt nam trên địa bàn tỉnh Nam Định. 6 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƢỜI CỦA NGƢỜI BỊ TẠM GIAM 1.
Khái niệm ngƣời bị tạm giam và bảo đảm quyền con ngƣời của ngƣời bị tạm giam 1. Khái niệm người bị tạm giam Người bị tạm giam là người bị cáo buộc phạm tội và khi thỏa mãn các các căn cứ do pháp luật tố tụng hình sự quy định họ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam. Người bị tạm được pháp luật TTHS quy định các quyền và nghĩa vụ nhằm bảo đảm giải quyết vụ án khách quan, đồng thời bảo đảm các quyền con người của họ trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự. Dưới góc độ nghiên cứu khoa học, để đưa ra định nghĩa người bị tạm giam thì cần phải làm rõ các nội hàm sau: Thứ nhất, người bị tạm giam là người tham gia tố tụng bao gồm: Bị can, Bị cáo, Bị án (người bị kết án phạt tù, người bị kết án tử hình mà bản án chưa có hiệu lực pháp luật hoặc đang chờ thi hành án).
Những người này là những người tham gia tố tụng trong từng giai đoạn tố tụng nhất định trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Bị can là người tham gia tố tụng trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, Bị cáo là người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự và Bị án là người đã bị kết án bằng một bản án của Tòa án nhưng vẫn phải áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam để chờ hiệu lực thi hành của bản án. Những người này được gọi là người bị tạm giam khi họ có đầy đủ những căn cứ, điều kiện để áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong từng giai đoạn của TTHS. Thứ hai, những người bị tạm giam có quyền hạn, nghĩa vụ tố tụng khác nhau trong từng giai đoạn TTHS.
Bị can, Bị cáo và Bị án là những người bị 7 tạm giam ở những giai đoạn khác nhau trong TTHS, do đó, quyền hạn và nghĩa vụ của họ cũng sẽ khác nhau trong từng giai đoạn. Người bị tạm giam khi đóng vai trò là bị can thì họ sẽ có quyền hạn và nghĩa vụ được quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 60 Bộ luật TTHS; Người bị tạm giam khi đóng vai trò là bị cáo thì họ sẽ có quyền hạn và nghĩa vụ được quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 61 Bộ luật TTHS; Khi đóng vai trò là bị án thì người bị tạm giam sẽ có quyền hạn và nghĩa vụ quy định tại Điều 9 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam. Bản chất của sự khác nhau này là do ở mỗi giai đoạn tố tụng khác nhau thì đều có chức năng, mục đích khác nhau, do đó quyền hạn, nghĩa vụ của người bị tạm giam trong từng giai đoạn của TTHS cũng phải khác nhau để phù hợp với giai đoạn tố tụng đó, từ đó tạo điều kiện thuận lợi nhất để các cơ quan THTT có thể làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội. Bên cạnh đó, việc quy định những quyền hạn, nghĩa vụ khác nhau của người bị tạm giam trong từng giai đoạn tố tụng cũng một phần là để đảm bảo QCN của họ, tránh những quy định không rõ ràng khiến việc giải quyết vụ án làm ảnh hưởng và xâm hại QCN của người bị tạm giam.
Thứ ba, các quyền con người của người bị tạm giam phải được các cơ quan có thẩm quyền THTT bảo đảm thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Tạm giam là sự cưỡng chế của Nhà nước, tước quyền tự do thân thể của bị can, bị cáo, bị án nhằm ngăn chặn việc người đó trốn, cản trở điều tra truy tố xét xử hoặc tiếp tục phạm tội mới cũng như nhằm đảm bảo thi hành án. Tạm giam được thực hiện bởi sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước bắt buộc người bị áp dụng phải chấp hành. Do đó, quyền hạn và nghĩa vụ của người bị tạm giam cũng mang tính cưỡng chế, người bị tạm giam không được quyền lựa chọn mình có quyền như thế nào, và nghĩa vụ ra sao, họ chỉ được hưởng những quyền mà Nhà nước cho họ hưởng và phải có nghĩa vụ đối với những 8 việc mà Nhà nước yêu cầu họ thực hiện.
Phải hiểu rằng, những người bị tạm giam là để phục vụ, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, họ không còn là một người bình thường trong xã hội để có thể được hưởng sự tự do, dân chủ mà phải chịu sự cưỡng chế, áp đặt của Nhà nước để phục vụ công tác giải quyết vụ án hình sự, thi hành án, đảm bảo công lý cho xã hội. Từ những phân tích trên, có thể đưa ra định nghĩa về người bị tam giam như sau: Người bị tạm giam bao gồm: bị can, bị cáo, bị án mà đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nhằm ngăn chặn việc tiếp tục phạm tội và đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Khái niệm bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam Quyền con người trong tố tụng hình sự là tổng hợp các quyền thuộc nhóm quyền dân sự, chính trị nhằm mục đích khẳng định việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tôn trọng danh dự nhân phẩm của con người trong mọi hoàn cảnh cũng như bảo đảm việc xét xử công bằng bởi một tòa án độc lập khách quan đối với những người yếu thế (người bị cáo buộc phạm tội, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người chấp hành án và những người tham gia tố tụng khác) khỏi sự tùy tiện và sự lạm quyền của các cơ quan và cá nhân có thẩm quyền trong các hoạt động tố tụng hình sự. Việc bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam bao gồm những yếu tố như sau: - Thứ nhất, xây dựng pháp luật về bảo đảm QCN và xử lý nghiêm minh đối với các hành vi xâm hại đến QCN.
Pháp luật có vị trí quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người, việc xây dựng pháp luật để bảo đảm QCN vừa phải phù hợp với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, vừa phải phù hợp với thực tiễn tình hình tội phạm và giải quyết vụ án hình sự ở Việt 9 Nam. Bên cạnh đó, cũng phải chú trọng đến việc xây dựng những cơ chế kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện những hành vi xâm hại đến QCN của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền THTT và phải có các quy định, chế tài xử lý các hành vi xâm hại QCN. Pháp luật TTHS đã quy định chặt chẽ các trình tự, thủ tục trong quá trình giải quyết vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hình sự nhằm tôn trọng quyền con người, tránh sự lợi dụng của người và cơ quan có thẩm quyền khi tiến hành tố tụng. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án hình sự các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự được áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp điều tra thu thập chứng cứ và các biện pháp cưỡng chế nhà nước khác nhằm ngăn chặn, làm rõ và xử lý tội phạm.
Việc quy định những biện pháp cưỡng chế này trong luật TTHS mang tính khách quan, là yêu cầu tất yếu của cuộc đấu tranh, phòng ngừa tội phạm ở mỗi quốc gia. Tuy nhiên, khi các cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng các biện pháp cưỡng chế sẽ tạo ra nguy cơ hạn chế các quyền tự do cơ bản của con người. Nói một cách khác, hoạt động TTHS với các biện pháp cưỡng chế dễ trở thành mối đe dọa thực tế với quyền con người nếu vi phạm các quy định của luật về điều kiện, trình tự, thủ tục, căn cứ áp dụng. Người bị tạm giam bị hạn chế về một số quyền nhất định như: quyền tự do đi lại, quyền bầu cử, ứng cử.
Tuy nhiên, họ vẫn phải được đảm bảo về một số Quyền con người nhất định. Do đó, việc xây dựng hệ thông pháp luật để Bảo đảm QCN nói chung và QCN của người bị tạm giam nói riêng là vô cùng quan trọng. - Thứ hai, xây dựng cơ chế thực thi pháp luật có hiệu quả trong việc bảo đảm QCN. Thực thi pháp luật có ý nghĩa quan trọng bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự được thực thi trên thực tế, nếu không tổ chức thực thi tốt thì các quyền con người được ghi nhận trong các văn bản pháp luật sẽ trở nên không có ý nghĩa.
Để có một cơ chế thực thi pháp luật có hiệu quả thì cần phải xây dựng hệ thống các cơ quan có trách nhiệm thực thi 10 pháp luật bảo đảm QCN trong lĩnh vực tư pháp. Hình thành hệ thống tòa án và các cơ quan tiến hành tố tụng khác, cơ quan bổ trợ tư pháp để thực hiện các chức năng của của quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền; Xây dựng đội ngũ cán bộ trong tòa án và các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan bổ trợ tư pháp có đủ năng lực, phẩm chất giải quyết được các chức năng tư pháp; Có hệ thống pháp luật bảo đảm mối liên kết trong hoạt động tư pháp giữa các cơ quan, các cán bộ trong toàn bộ hệ thống tư pháp hướng tới việc bảo đảm quyền con người. TSKH Lê Văn Cảm cho rằng: Tổ chức quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền là việc thành lập, kiện toàn theo luật định không chỉ tòa án, mà cả các cơ quan bảo vệ pháp luật và hệ thống các cơ quan bố trợ tư pháp, cũng như hoạt động thực tiễn và đội ngũ cán bộ của ba hệ thống cơ quan này, đồng thời xây dựng hệ thống pháp luật có liên quan nhằm đạt hiệu quả cuối cùng với tính chất là các chế định pháp lý và các giá trị tinh thần cao quý nhất của nền văn minh nhân loại trong nhà nước pháp quyền [6, tr. Ở góc nhìn khác, GS.