Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUAT VE THỰC HANH QUYEN CONG TO VA KIEM SAT XET XU SO THAM CAC VU AN TOI PHAM VE MA TUY 1. Khái niệm, đặc điểm thực hành quyền công to và kiểm sát xét xử sơ thâm các vụ án tội phạm về ma túy 1. Khái niệm, đặc điểm thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm vu án hình sự * Khái niệm “quyên công to”: Dưới góc độ ngôn ngữ, “công tố” là một từ ghép Hán - Việt. Theo đó, “công” nghĩa là thuộc về Nhà nước, chung cho mọi người; “tố” là nói công khai cho mọi người biết việc làm sai trái, phạm pháp của người khác [20, tr.
Tại Từ điển Luật học, định nghĩa “quyền công tố” như sau: “?à quyển buộc tội nhân danh nhà nước đối với người phạm toi” [2, tr. Một số chuyên gia cũng đưa ra ý kiến về khái niệm của “quyền công tố” như sau: Tác giả Trần Văn Độ cho rang: Quyền công tố là quyền của cơ quan nhà nước được nhà nước ủy quyền thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội nhằm đưa người đó ra xét xử trước Tòa án và đồng thời bảo vệ sự buộc tội đó [5, tr. Nhóm tác giả Lê Hữu Thể, Đỗ Văn Đương, Nông Xuân Trường định nghĩa “quyên công to” là: Quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền này thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là cơ quan Viện kiểm sát) dé phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Dé làm được điều này, cơ quan có chức năng THQCT phải có trách nhiệm bao đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội. Trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa [16, tr. Tác giả Nguyễn Minh Đức đề cập khái niệm của “quyền công tố” như sau: “Quyền công tố là quyền nhân danh nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội” [6, tr45]. “Quyền công tố” có thé được khái niệm như sau: Là quyên buộc tội của Nhà nước đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyên và lợi ích hợp pháp cua cả nhân, cơ quan, tổ chức.
* Khái niệm “thực hành quyên công to” Dưới góc độ ngôn ngữ, thuật ngữ “thực hành” được hiểu là “lam để áp dụng lý thuyết vào thực tế” [20, tr. Hiện nay có rất it quan điểm tiếp cận khái niệm “bực hành quyền công tố” một cách có hệ thống, đầy đủ, toàn diện. Nguyễn Minh Đức: “7c hành quyển công tố chính là thực hiện các hành vi tổ tụng cân thiết theo quy định của pháp luật tổ tụng hình sự dé truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội, đưa người phạm tội ra trước Tòa án và bao vệ sự buộc tội đó ” [6, tr. Quan điểm của TS.
Nguyễn Minh Đức có thể đưa đến cách hiểu “thực hành quyền công tố” gồm nhiều hoạt động khác nhau: truy tố, buộc tội, bảo vệ sự buộc tội. Theo tác giả Lê Hữu Thể: “Thuc hành quyển công tổ là việc sử dụng tong hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyên công to dé thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, fruy t6 và xét xử”[16, tr. Quan điểm này nêu rõ hơn nghĩa của từ “thực hành” tức là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý của quyền công tố, nhưng cũng chưa xác định chủ thé THQCT. Theo tác giả, “thực hành quyền công tố” có thé được khái niệm như sau: là hoạt động áp dụng pháp luật cua Viện kiểm sát thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đổi với người có hành vi phạm tội, được bắt dau từ khi tiếp nhận tin báo, tổ giác tội phạm và kiến nghị khởi tổ cho đến khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.
* Khái niệm “kiểm sát việc tuân theo pháp luật” Theo Từ điển Tiếng Việt, “kiểm sát” nghĩa là “kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật của Nhà nước” [9, tr. Khái niệm này còn mang tính chất chung chung, nhưng phần nào đã phản ánh được một số khía cạnh của kiểm sát. Kiểm sát là một loại quyền lực Nhà nước, được thực hiện bởi Viện kiểm sát, với đối tượng của hoạt động này là việc chấp hành pháp luật của Nhà nước. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Vién kiểm sát nhân dân thực hành quyên công tố, kiểm sát hoạt động tw pháp” (khoản 1 Điều 107 Hiến pháp năm 2013).
Nội dung này được cụ thể tại khoản 1 Điều 2 Luật Tổ chức VKSND năm 2014: “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyên công to, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Như vậy, chủ thể thực hiện hoạt động kiểm sát được Nhà nước trao quyên chính là Viện kiểm sát. Hiện nay, có một số quan điểm cho rằng tại một số lĩnh vực đặc thù như tố tụng hình sự thì chủ thể thực hiện “kiểm sát” không chỉ gồm Viện kiêm sát mà còn có chủ thể khác như người tham gia tố tụng, các cơ quan, tô chức, cá nhân,. Tuy nhiên, theo tác giả, nếu xét về bản chat, các hoạt động kiểm tra, giám sát của các chủ thé không phải Viện kiểm sát đều không mang tính quyên lực Nhà nước, không thê được coi là kiểm sát việc tuân theo pháp luật, các chủ thể khác này chỉ được xem như hỗ trợ và chủ yếu là giám sát.
Theo tác giả, “kiểm sát việc tuân theo pháp luật” có thể được khái niệm như sau: là hoạt động của VKSND để giám sát các hành vi, quyết định của các chủ thé trong quá trình thực hiện pháp luật, nhưng khác với các hình thức giám sát khác, hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân là hoạt động giám sát một cách trực tiếp, liên tục, giám sát bên trong hệ thống các co quan tiến hành tố tụng, sắn với chức năng, nhiệm vụ, thâm quyền luật định của Viện kiểm sát nhân dân. * Khái niệm “xét xử sơ thẩm” Xét xử là thủ tục tố tụng được thừa nhận ở tất cả các quốc gia trên thé giới, là hoạt động đặc trưng của Tòa án - cơ quan duy nhất của một nước được đảm nhiệm chức năng xét xử. Dưới góc độ ngôn ngữ, “xét xử” là “hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp ly cua vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc ” [3, tr. Một số quan điểm khoa học cho rằng: Nhiệm vụ giải quyết thực chất vụ án hình sự đã quy định xét xử sơ thâm là giai đoạn trung tâm của tố tụng hình sự, các giai đoạn trước đó chỉ là quá trình chuẩn bị điều kiện cho xét xử sơ thâm, các giai đoạn sau xét xử sơ thâm là kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của nó, khắc phục những thiếu sót, sai lầm nếu có và đưa các quyết định, bản án sơ thâm đã có hiệu lực pháp luật vào thực tiễn thi hành [8, tr.
Tác giả khái niệm “xét xử sơ thâm” như sau: là giai đoạn tiếp theo sau giai đoạn diéu tra, truy tổ của quá trình tố tụng hình sự, bắt dau từ khi Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý hồ sơ vụ án và kết thúc khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Trong đó, Tòa án xem xét, giải quyết vụ án hình sự lan dau và toàn bộ vụ án bằng cách kiểm tra, đánh giả chứng cứ và cân nhắc quan điểm của các bên buộc tội, gỡ tội trong quá trình tranh tụng dé ra bản án, quyết định tổ tụng theo quy định của pháp luật. * Khái niệm “thực hành quyén công to và kiểm sát xét xử sơ thẩm vu án hình sự” Theo quy định tại Điều 18 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 thì thực hành quyền công tố xét xử sơ thầm vụ án hình sự bao gồm: (i) Công bố cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, quyết định khác về việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa; (ii) Xét hỏi, luận tội, tranh luận, phát biéu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa; (iii) Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội; (iv) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc buộc tội theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn này thể hiện tập trung tại phiên tòa sơ thẩm với đặc trưng của nó là trực tiếp và bằng lời nói nên ở giai đoạn này Kiểm sát viên phải công bố các quyết định và yêu cầu bằng lời nói, mặc dù quyết định truy tố bằng bản cáo trạng đã ban hành băng văn bản trước đó.
Kiểm sát viên tham gia xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên toa mà không ban hành các văn bản cá biệt. Như vậy, tác giả khái niệm “thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thâm vụ án hình sự” là: việc Viện kiểm sát thực hiện buộc tội thông qua các hoạt động trước va tại phiên tòa hình sự sơ thấm như tham gia xét hỏi, luận tội, đối đáp. để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội. Thực hành quyền công tô của VKSND trong xét xử sơ thâm có quan hệ chặt chẽ với kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại giai đoạn này, gắn liền với 10 việc thực hiện quyền năng cụ thể như quyền buộc tội và luận tội đối với bị cáo tại phiên tòa.
Kiểm sát hoạt động tư pháp là chức năng hiến định của VKSND, đây là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước khi tham gia tố tụng, nhăm mục đích bảo đảm cho pháp luật được áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ đề cập đến một trong những hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp đó là KSXX. KSXX là cách gọi tắt trong thực tiễn của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử sơ thâm vụ án hình sự.