Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống tư pháp Việt Nam, Tòa án nhân dân giữ vị trí trung tâm thực hiện quyền tư pháp theo quy định của Hiến pháp. Nhằm bảo đảm tính đúng đắn, khách quan và bảo vệ quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự, chế định hai cấp xét xử (sơ thẩm và phúc thẩm) đóng vai trò then chốt. Căn cứ Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Văn kiện Đại hội Đảng khóa XIII, định hướng cải cách tư pháp xác định rõ mục tiêu "xét xử là trọng tâm, tranh tụng là đột phá". Trong quy trình tố tụng, xét xử phúc thẩm không chỉ có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp pháp, tính có căn cứ của bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị mà còn hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật. Việc Hội đồng xét xử (HĐXX) phúc thẩm thực hiện thẩm quyền sửa bản án sơ thẩm có ý nghĩa trực tiếp trong việc khắc phục kịp thời các sai sót về áp dụng pháp luật hoặc đánh giá chứng cứ của cấp sơ thẩm, bảo đảm nguyên tắc xét xử đúng người, đúng tội và không làm oan người vô tội.

Từ thực tiễn áp dụng Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội – trung tâm tư pháp có số lượng vụ án hình sự thụ lý và giải quyết hàng năm ở mức cao, bên cạnh các kết quả đạt được, quá trình thực hiện thẩm quyền sửa bản án sơ thẩm vẫn ghi nhận một số vướng mắc và tồn tại cần được tổng kết, đánh giá khoa học.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Góp phần làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về thẩm quyền sửa bản án sơ thẩm của HĐXX phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam (khái niệm, đặc điểm, cơ sở pháp lý và ý nghĩa).
  2. Phân tích toàn diện các quy định của BLTTHS năm 2015 liên quan đến thẩm quyền sửa bản án hình sự sơ thẩm của HĐXX phúc thẩm theo cả hai hướng có lợi và không có lợi cho bị cáo.
  3. Phân tích thực tiễn thi hành thẩm quyền sửa bản án hình sự sơ thẩm tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giai đoạn 2020 – 2023, chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế, nguyên nhân, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật.

Nhiệm vụ nghiên cứu

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về thẩm quyền sửa bản án hình sự sơ thẩm của HĐXX phúc thẩm, bao gồm khái niệm, cơ sở quy định và ý nghĩa pháp lý, chính trị - xã hội.
  2. Phân tích, đối chiếu hệ thống quy định của BLTTHS năm 2015 (so sánh với BLTTHS năm 2003) về các trường hợp, điều kiện sửa bản án sơ thẩm.
  3. Khảo sát, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giai đoạn 2020 – 2023, phân tích nguyên nhân của các vướng mắc và đề xuất các kiến nghị lập pháp cũng như kiến nghị tổ chức thực hiện.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận, quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thẩm quyền sửa bản án hình sự sơ thẩm của HĐXX phúc thẩm và thực tiễn áp dụng quy định này.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Địa bàn thành phố Hà Nội, tập trung vào hoạt động xét xử phúc thẩm hình sự tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
    • Thời gian: Dữ liệu thực tiễn và số liệu thống kê được thu thập trong giai đoạn từ năm 2020 đến hết năm 2023.
    • Nội dung: Quy định của BLTTHS năm 2015, Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và các văn bản hướng dẫn áp dụng có liên quan.

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung pháp lý

Khóa luận được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 27-NQ/TW.

Khung pháp lý được tác giả sử dụng bao gồm:

  • Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 2013;
  • Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 (Điều 9) và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân hiện hành;
  • Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (đặc biệt là các Điều 27, 89, 106, 330, 345, 351, 355, 357, 358);
  • Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (Điều 186, 249) phục vụ mục đích so sánh pháp lý;
  • Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với các điều khoản về phân loại hình phạt, quyết định hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt và án treo (Điều 16, 29, 32, 33, 35, 36, 38, 46, 47, 48, 51, 54, 59, 65, 86, 91, 110, 364, 390);
  • Các văn bản giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao: Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; Thông tư số 19-TATC ngày 02/10/1974 của TAND Tối cao.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để phân tích các khái niệm khoa học pháp lý, quy định pháp luật về thẩm quyền của HĐXX phúc thẩm và tổng hợp các luận điểm lý luận.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các điều khoản tương ứng giữa BLTTHS năm 2015 và BLTTHS năm 2003 nhằm làm rõ những điểm mới, sự phát triển và hoàn thiện của kỹ thuật lập pháp.
  • Phương pháp thống kê tư pháp: Xử lý và phân loại số liệu xét xử phúc thẩm hình sự tại TAND thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2020 – 2023.
  • Phương pháp nghiên cứu hồ sơ bản án thực tế: Khảo sát các vụ án cụ thể đã được xét xử sơ thẩm và phúc thẩm trên địa bàn thành phố Hà Nội để đối chiếu giữa quy định lý thuyết và thực tế áp dụng.

Nguồn dữ liệu

  • Dữ liệu thống kê xét xử định kỳ giai đoạn 2020 – 2023 do Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và Thi hành án – Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội cung cấp.
  • Số liệu thống kê dân số, địa giới hành chính từ Tổng cục Thống kê (Niên giám Thống kê Việt Nam năm 2022).
  • Các bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm được trích dẫn trực tiếp từ TAND quận Thanh Xuân, TAND huyện Thường Tín và TAND thành phố Hà Nội.
  • Giáo trình, sách bình luận khoa học BLTTHS và các bài báo khoa học đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Luật học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thẩm quyền sửa bản án hình sự sơ thẩm của Hội đồng xét xử phúc thẩm

Chương 1 tập trung làm sáng tỏ bản chất pháp lý của thẩm quyền sửa bản án sơ thẩm trong tố tụng hình sự thông qua việc tiếp cận nguyên tắc hai cấp xét xử bắt nguồn từ Hiến pháp năm 1959 và Điều 9 Luật Tổ chức TAND năm 1960, hiện được ghi nhận tại Điều 27 BLTTHS năm 2015.

Tác giả đưa ra định nghĩa: Thẩm quyền sửa bản án sơ thẩm của HĐXX phúc thẩm là tập hợp các quyền mà pháp luật tố tụng hình sự cho phép HĐXX xem xét và quyết định các vấn đề cụ thể nhằm làm thay đổi nội dung bản án sơ thẩm theo hướng có lợi hoặc không có lợi cho bị cáo, bị hại, đương sự trong các vụ án mà bản án chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị.

Nội dung chương phân tích 03 đặc điểm cốt lõi của thẩm quyền này:

  1. Không sửa chữa các sai sót về thủ tục tố tụng: HĐXX phúc thẩm chỉ sửa các nội dung liên quan đến trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, tội danh, hình phạt, xử lý vật chứng. Sai sót nghiêm trọng về thủ tục tố tụng là căn cứ để hủy bản án để điều tra hoặc xét xử lại, không thuộc phạm vi sửa bản án.
  2. Phạm vi sửa chữa được mở rộng theo hướng có lợi cho bị cáo: HĐXX có thể sửa bản án theo hướng có lợi cho cả bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị (Điều 345, Điều 357 BLTTHS năm 2015).
  3. Không sửa bản án từ tuyên không có tội thành có tội: HĐXX phúc thẩm tuyệt đối không được sửa bản án sơ thẩm tuyên bị cáo không có tội thành có tội nhằm bảo đảm quyền bào chữa và nguyên tắc suy đoán vô tội.

Cơ sở quy định thẩm quyền được xác lập dựa trên:

  • Tính chất của xét xử phúc thẩm (Điều 330 BLTTHS năm 2015): Là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị, tiến hành theo nguyên tắc trực tiếp, bằng lời nói và cho phép xuất trình chứng cứ mới.
  • Nhiệm vụ của xét xử phúc thẩm: Kiểm tra tính hợp pháp, tính có căn cứ của bản án sơ thẩm, đồng thời sửa chữa sai lầm về nhận định sự việc và áp dụng pháp luật của Tòa án cấp dưới.

Về mặt ý nghĩa, chế định này bảo đảm tính chính xác của hoạt động tư pháp, kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, khắc phục sai sót của cấp sơ thẩm, thống nhất thực tiễn áp dụng pháp luật và củng cố niềm tin của nhân dân vào công lý.

Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thẩm quyền sửa bản án hình sự sơ thẩm của Hội đồng xét xử phúc thẩm

Chương 2 phân tích chi tiết Điều 357 BLTTHS năm 2015 và các điều luật liên quan của Bộ luật Hình sự:

1. Sửa bản án theo hướng có lợi cho bị cáo (Khoản 1 Điều 357 BLTTHS năm 2015)

HĐXX phúc thẩm được quyền sửa bản án theo hướng có lợi mà không bị ràng buộc bởi phạm vi hoặc hướng của kháng cáo, kháng nghị, bao gồm các trường hợp:

  • Miễn trách nhiệm hình sự (TNHS) hoặc miễn hình phạt: Áp dụng các căn cứ tại Điều 29 BLHS (chuyển biến tình hình, mắc bệnh hiểm nghèo, tự thú lập công lớn, hòa giải thành...) hoặc Điều 59 BLHS.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung, không áp dụng biện pháp tư pháp: Đây là quy định mới bổ sung so với BLTTHS năm 2003, bảo đảm sự đồng bộ khi bị cáo được miễn TNHS, miễn hình phạt hoặc khi hình phạt bổ sung/biện pháp tư pháp không còn cần thiết.
  • Áp dụng điều, khoản của BLHS về tội nhẹ hơn: Áp dụng tội danh nhẹ hơn hoặc chuyển khung hình phạt nhẹ hơn trong cùng tội danh. Tiêu chí xác định tội nhẹ hơn căn cứ theo Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP.
  • Giảm hình phạt: Giảm mức phạt tù (tối thiểu không dưới 03 tháng theo Điều 38 BLHS), giảm mức phạt tiền (Điều 35 BLHS), giảm mức cải tạo không giam giữ (Điều 36 BLHS), hoặc áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung theo Điều 54 BLHS. Tác giả dẫn chứng Bản án số 822/2021/HSPT của TAND TP. Hà Nội giảm án cho bị cáo Phạm Đình S. từ 06 tháng tù xuống 04 tháng tù về tội "Chống người thi hành công vụ".
  • Giảm mức bồi thường thiệt hại và sửa quyết định xử lý vật chứng: Quy định tại Điều 89, 106 BLTTHS năm 2015, Điều 47, 48 BLHS. Tác giả nêu quan điểm phê bình quy định tại khoản 3 Điều 357 cho phép Tòa án tự ý giảm bồi thường cho bị cáo không kháng cáo vì có thể vi phạm quyền tự định đoạt và thỏa thuận dân sự của đương sự.
  • Chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn: Chuyển đổi loại hình phạt chính trong hệ thống chế tài tại Điều 32 BLHS.
  • Giữ nguyên hoặc giảm mức hình phạt tù và cho hưởng án treo: Điểm mới tại điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS năm 2015 cho phép HĐXX đồng thời vừa giảm mức hình phạt tù vừa cho hưởng án treo (khắc phục điểm đ khoản 1 Điều 249 BLTTHS năm 2003 vốn chỉ cho phép giữ nguyên mức tù mới được cho hưởng án treo). Dẫn chứng Bản án số 774/2021/HSPT của TAND TP. Hà Nội giữ nguyên mức 16 tháng tù đối với bị cáo Vũ Thị Thu T. về tội "Cố ý gây thương tích" nhưng cho hưởng án treo do có tình tiết bồi thường mới.

2. Sửa bản án theo hướng không có lợi cho bị cáo (Khoản 2 Điều 357 BLTTHS năm 2015)

Chỉ được thực hiện khi có kháng cáo của bị hại hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát theo hướng tăng nặng:

  • Tăng hình phạt, áp dụng điều, khoản của BLHS về tội nặng hơn: Việc tăng hình phạt chỉ được tiến hành trong phạm vi khung hình phạt mà Tòa án sơ thẩm đã áp dụng. Về việc áp dụng tội danh nặng hơn, BLTTHS năm 2015 sử dụng dấu phân tách ";" giữa "Điều; khoản", khẳng định HĐXX phúc thẩm được quyền đổi sang tội danh nặng hơn trên cơ sở chứng cứ công khai tại phiên tòa mà không bị giới hạn bởi quyết định truy tố sơ thẩm.
  • Áp dụng hình phạt bổ sung, áp dụng biện pháp tư pháp.
  • Tăng mức bồi thường thiệt hại: Tác giả chỉ ra hạn chế kỹ thuật lập pháp khi khoản 2 Điều 357 chỉ quy định căn cứ vào kháng cáo của bị hại, kháng nghị của VKS, bỏ sót quyền kháng cáo của người đại diện, người bảo vệ quyền lợi của bị hại và nguyên đơn dân sự (quy định tại Điều 62, 63, 64, 331 BLTTHS).
  • Chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nặng hơn; không cho bị cáo hưởng án treo.

3. Điều kiện sửa bản án sơ thẩm

  • Sửa theo hướng có lợi: Không phụ thuộc vào phạm vi và hướng của kháng cáo, kháng nghị; áp dụng cho cả bị cáo không có kháng cáo hoặc không bị kháng nghị (Khoản 3 Điều 357).
  • Sửa theo hướng không có lợi: Bắt buộc phải có yêu cầu trong kháng cáo của bị hại hoặc kháng nghị của VKS; không được vượt quá phạm vi yêu cầu kháng cáo/kháng nghị; bị cáo phải có mặt tại phiên tòa trừ trường hợp vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan (Điểm c Khoản 1 Điều 351).

Chương 3: Thực tiễn áp dụng quy định về thẩm quyền sửa bản án hình sự sơ thẩm của Hội đồng xét xử phúc thẩm tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và một số kiến nghị

1. Thực trạng tổ chức và khối lượng thụ lý tại TAND thành phố Hà Nội

TAND thành phố Hà Nội có quy mô nhân sự gồm 192 người (64 Thẩm phán, 124 Thư ký và chức danh khác; 35 Thạc sĩ Luật, 143 Cử nhân Luật; 51 người có trình độ cử nhân hoặc cao cấp lý luận chính trị). Cơ cấu tổ chức gồm Ủy ban Thẩm phán, 06 Tòa chuyên trách, 03 Phòng nghiệp vụ/Văn phòng và quản lý chuyên môn đối với 30 TAND cấp huyện. Hàng năm, đơn vị thụ lý trên 3.000 vụ án các loại, trong đó có hơn 1.000 vụ án hình sự ở cả hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm.

2. Kết quả thụ lý, giải quyết và sửa bản án phúc thẩm hình sự (2020 – 2023)

Dữ liệu thống kê công tác xét xử phúc thẩm hình sự tại TAND TP. Hà Nội trong giai đoạn 2020 – 2023 thể hiện qua các bảng sau:

Bảng 1: Tình hình thụ lý và giải quyết án hình sự phúc thẩm (2020 – 2023)

Năm Tổng số thụ lý (vụ) Đã giải quyết (vụ) Tỷ lệ giải quyết (%) Số án tồn đọng (vụ) Tỷ lệ tồn đọng (%)
2020 1.071 1.057 98,69% 14 1,31%
2021 886 855 96,50% 31 3,50%
2022 1.164 1.139 97,85% 25 2,15%
2023 1.103 1.084 98,28% 19 1,72%
Tổng cộng 4.224 4.135 97,89% 89 2,11%

(Nguồn: Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và Thi hành án – TAND Thành phố Hà Nội)

Bảng 2: Kết quả giải quyết các vụ án hình sự phúc thẩm (2020 – 2023)

Năm Tổng số giải quyết (vụ) Giữ nguyên bản án sơ thẩm (vụ) Tỷ lệ giữ nguyên (%) Sửa bản án sơ thẩm (vụ) Tỷ lệ sửa án (%) Hủy bản án sơ thẩm (vụ) Tỷ lệ hủy án (%)
2020 1.057 830 78,52% 215 20,34% 12 1,14%
2021 855 730 85,38% 114 13,33% 11 1,29%
2022 1.139 893 78,40% 225 19,75% 21 1,85%
2023 1.084 864 79,70% 201 18,54% 19 1,75%
Tổng cộng 4.135 3.317 80,22% 755 18,26% 63 1,52%

(Nguồn: Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và Thi hành án – TAND Thành phố Hà Nội)

Qua 4 năm, tổng số bản án sơ thẩm bị sửa là 755 vụ (chiếm 18,26%), số lượng bản án bị hủy là 63 vụ (chiếm 1,52%). Phần lớn các trường hợp sửa bản án xuất phát từ việc xuất hiện tình tiết giảm nhẹ mới tại phiên tòa phúc thẩm (bị cáo khắc phục hậu quả bồi thường thiệt hại, gia đình có công, lập công chuộc tội) hoặc do Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá chưa toàn diện tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.

3. Đánh giá hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân

  • Hạn chế: Việc áp dụng quy định sửa bản án theo hướng tăng nặng còn gặp vướng mắc do sự khác nhau trong nhận thức pháp lý giữa các cấp Tòa án; việc xác định ranh giới giữa sửa bản án và hủy bản án trong một số trường hợp có vi phạm thủ tục chưa thực sự thống nhất.
  • Nguyên nhân: Do quy định của BLTTHS năm 2015 tại một số điểm còn thiếu sót về kỹ thuật lập pháp (chưa liệt kê đầy đủ chủ thể có quyền kháng cáo yêu cầu tăng bồi thường tại khoản 2 Điều 357); một số hướng dẫn áp dụng văn bản pháp luật chưa kịp thời; áp lực số lượng án thụ lý hàng năm đối với đội ngũ Thẩm phán TAND TP. Hà Nội rất lớn.

4. Các giải pháp và kiến nghị

  • Kiến nghị lập pháp:
    • Sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 357 BLTTHS năm 2015 theo hướng bổ sung các chủ thể có quyền kháng cáo tăng mức bồi thường thiệt hại gồm: người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, nguyên đơn dân sự và người đại diện của họ.
    • Rà soát, sửa đổi quy định tại Khoản 3 Điều 357 về việc giảm bồi thường thiệt hại cho bị cáo không kháng cáo nhằm tôn trọng quyền tự do định đoạt trong quan hệ dân sự.
  • Kiến nghị về tổ chức thực hiện và áp dụng pháp luật: Tăng cường công tác tập huấn, rút kinh nghiệm xét xử giữa TAND TP. Hà Nội và 30 TAND cấp huyện; ban hành kịp thời các văn bản giải đáp nghiệp vụ của TAND Tối cao để thống nhất tiêu chí đánh giá mức độ nặng nhẹ của các khung hình phạt và tội danh.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Tổng kết toàn diện số liệu xét xử phúc thẩm hình sự tại TAND TP. Hà Nội giai đoạn 2020 – 2023: giải quyết 4.135 vụ/4.224 vụ thụ lý (đạt tỷ lệ 97,89%), trong đó giữ nguyên 3.317 vụ (80,22%), sửa bản án sơ thẩm 755 vụ (18,26%), hủy bản án 63 vụ (1,52%).
  • Hệ thống hóa đầy đủ các trường hợp sửa bản án theo hướng có lợi (6 nhóm trường hợp) và không có lợi (4 nhóm trường hợp) theo quy định của Điều 357 BLTTHS năm 2015.
  • Phân tích chi tiết 02 bản án thực tế điển hình (Bản án số 822/2021/HSPT và Bản án số 774/2021/HSPT) để minh chứng cho việc áp dụng điều kiện giảm hình phạt và cho hưởng án treo tại cấp phúc thẩm.

Kiến nghị đề xuất

  • Đề xuất sửa đổi kỹ thuật lập pháp tại Khoản 2 Điều 357 BLTTHS năm 2015 nhằm khắc phục sự thiếu hụt chủ thể kháng cáo liên quan đến phần dân sự trong vụ án hình sự.
  • Kiến nghị điều chỉnh cách thức áp dụng Khoản 3 Điều 357 nhằm tránh xâm phạm nguyên tắc tự thỏa thuận, tự định đoạt dân sự của đương sự khi Tòa án tự ý giảm mức bồi thường ngoài phạm vi kháng cáo.

Đóng góp về mặt học thuật và thực tiễn

Khóa luận đã kế thừa các công trình nghiên cứu trước đây nhưng đi sâu vào phân tích thực tiễn áp dụng các điểm mới của BLTTHS năm 2015 tại địa bàn đặc thù có số lượng thụ lý lớn như Hà Nội. Công trình không dừng lại ở việc diễn giải lý thuyết mà gắn kết chặt chẽ quy định luật định với số liệu thực tế 4 năm liên tục và các vướng mắc lập pháp cụ thể.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Số liệu khảo sát thực tiễn chỉ giới hạn tại một đơn vị hành chính cấp tỉnh là TAND thành phố Hà Nội trong khung thời gian 2020 – 2023; chưa có điều kiện so sánh, đối chiếu số liệu sửa án với các TAND cấp tỉnh khác hoặc TAND cấp cao tại Hà Nội.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh thực tiễn áp dụng thẩm quyền sửa bản án sơ thẩm tại các Tòa án nhân dân cấp cao; nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ giữa tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm và giới hạn quyền sửa bản án theo yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Tố tụng hình sự, Luật Hình sự phục vụ nghiên cứu và làm khóa luận, luận văn.
    • Giảng viên các cơ sở đào tạo luật sử dụng làm tài liệu tham khảo giảng dạy phần thủ tục xét xử phúc thẩm hình sự.
    • Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Luật sư tham khảo các phân tích thực tiễn và bảng số liệu xét xử phúc thẩm.
  • Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Hệ thống bảng số liệu thống kê thực tế giai đoạn 2020 – 2023 tại Chương 3 và phần phân tích đối chiếu kỹ thuật lập pháp giữa BLTTHS 2003 với BLTTHS 2015 tại Chương 2 (đặc biệt là quy định về án treo và chuyển tội danh nặng hơn).

Câu hỏi thường gặp

1. HĐXX phúc thẩm có được quyền sửa bản án sơ thẩm từ tuyên không phạm tội sang có tội không?

Không. HĐXX phúc thẩm tuyệt đối không được sửa bản án sơ thẩm tuyên bị cáo không có tội thành có tội. Quy định này nhằm bảo đảm quyền bào chữa và nguyên tắc suy đoán vô tội; việc tuyên một người có tội phải được tiến hành qua thủ tục xét xử sơ thẩm để bảo đảm quyền kháng cáo của người đó đối với tội danh bị kết án.

2. Điểm mới của BLTTHS năm 2015 so với BLTTHS năm 2003 về việc cho bị cáo hưởng án treo tại cấp phúc thẩm là gì?

Theo điểm đ khoản 1 Điều 249 BLTTHS năm 2003, HĐXX phúc thẩm chỉ được "giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo". Đến điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS năm 2015, nhà làm luật đã bổ sung quyền: HĐXX phúc thẩm được quyền đồng thời "giảm mức hình phạt tù và cho bị cáo hưởng án treo", tháo gỡ vướng mắc thực tiễn khi bị cáo vừa có căn cứ giảm mức án tù vừa đủ điều kiện hưởng án treo.

3. HĐXX phúc thẩm có được áp dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn tội danh cấp sơ thẩm đã xét xử không?

Có. Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 357 BLTTHS năm 2015 (với việc sử dụng dấu ";" phân tách giữa "Điều; khoản"), khi có kháng cáo của bị hại hoặc kháng nghị của VKS yêu cầu, HĐXX phúc thẩm có quyền áp dụng điều luật về tội danh nặng hơn tội danh Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên dựa trên chứng cứ được tranh tụng công khai tại phiên tòa phúc thẩm.

4. Tác giả đã chỉ ra thiếu sót kỹ thuật lập pháp nào tại Khoản 2 Điều 357 BLTTHS năm 2015?

Khoản 2 Điều 357 quy định việc tăng mức bồi thường thiệt hại chỉ căn cứ vào kháng cáo của bị hại hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát. Quy định này bị giới hạn và mâu thuẫn với các Điều 62, 63, 64, 331 BLTTHS năm 2015, bởi đã bỏ sót quyền kháng cáo tăng mức bồi thường của người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền lợi của bị hại, nguyên đơn dân sự và người đại diện của nguyên đơn dân sự.

5. Tỷ lệ bản án hình sự sơ thẩm bị TAND TP. Hà Nội sửa trong giai đoạn 2020 – 2023 là bao nhiêu?

Trong giai đoạn 2020 – 2023, TAND thành phố Hà Nội đã giải quyết 4.135 vụ án hình sự phúc thẩm, trong đó số vụ án bị sửa bản án sơ thẩm là 755 vụ, chiếm tỷ lệ 18,26% tổng số vụ án đã giải quyết.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Mến đã làm sáng tỏ một cách toàn diện các vấn đề lý luận và quy định của BLTTHS năm 2015 về thẩm quyền sửa bản án hình sự sơ thẩm của HĐXX phúc thẩm. Thông qua việc phân tích chuyên sâu các căn cứ, điều kiện sửa án và khảo sát thực tiễn 4.135 vụ án giải quyết tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giai đoạn 2020 – 2023, công trình đã phản ánh chính xác thực trạng áp dụng pháp luật tại địa bàn trọng điểm. Các phân tích chỉ ra hạn chế kỹ thuật lập pháp tại Điều 357 cùng hệ thống giải pháp hoàn thiện được đề xuất mang lại giá trị tham khảo khoa học và thực tiễn thiết thực cho công tác hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự.