phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được bố cục thành 03 chương: Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận về biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong tố tụng hình sự. Quy định của pháp luật về biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong tố tụng hình sự. Thực tiễn áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong tố tụng hình sự, giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật và bảo đảm thực hiện.
10 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP TẠM HOÃN XUẤT CẢNH TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Khái niệm và đặc điểm của biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong tố tụng hình sự 1. Khái niệm biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong tố tụng hình sự Biện pháp tạm hoãn xuất cảnh là một BPNC mới được ghi nhận tại Điều 124 BLTTHS năm 2015. Việc bổ sung biện pháp này nhằm đáp ứng yêu cầu phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời tội phạm, phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm hiện nay.
Trước khi đi vào tìm hiểu khái niệm tạm hoãn xuất cảnh trong TTHS, tác giả sẽ trình bày khái niệm của BPNC. Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy đến thời điểm hiện tại chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào chính thức ghi nhận khái niệm chung về các BPNC. Tuy nhiên, tác giả đồng tình với khái niệm về BPNC được trình bày trong Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh năm 2018, cụ thể như sau: “Biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế do pháp luật tố tụng hình sự quy định và được áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố hình sự nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn chặn họ tiếp tục phạm tội, hoặc có những hành động gây 3 khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự”.
Khái niệm này dựa trên quá trình nghiên cứu sự hình thành và phát triển, kết hợp với việc phân tích tính chất, mục đích, căn cứ, đối tượng áp dụng của BPNC. Tạm hoãn xuất cảnh là một biện pháp không chỉ có trong TTHS mà còn xuất hiện trong thi hành án hình sự, thi hành án dân sự, kinh doanh thương mại, hành chính… Thuật ngữ “tạm hoãn xuất cảnh” được giải thích tại khoản 3 Điều 3 Thông tư số 21/2011/TT-BCA ngày 25/4/2011 của Bộ Công an (Thông tư số 21/2011/TT- 4 BCA), đó là: “Việc cơ quan, người có thẩm quyền quyết định tạm dừng xuất cảnh có thời hạn đối với người nước ngoài, người Việt Nam mang hộ chiếu nước ngoài đang cư trú ở Việt Nam”. Theo như giải thích này thì tạm hoãn xuất cảnh chỉ áp 3 Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh (2018), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Hồng Đức, tr.
4 Quy định về trình tự, thủ tục thực hiện các quyết định chưa cho nhập cảnh, chưa được xuất cảnh, tạm hoãn xuất cảnh. 11 dụng đối với người nước ngoài, người Việt Nam mang hộ chiếu nước ngoài đang cư trú ở Việt Nam. Đối với công dân Việt Nam thì có thể bị áp dụng biện pháp “chưa được xuất cảnh”, được hiểu là: “Việc cơ quan, người có thẩm quyền quyết định 5 không cho phép công dân Việt Nam xuất cảnh”. Về bản chất thì hai khái niệm này khá giống nhau, nhưng có thể cơ quan lập pháp dùng hai tên gọi để phân biệt đối tượng áp dụng của chúng.
Khái niệm “tạm hoãn xuất cảnh” sau đó được giải thích lại theo Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2019). Theo đó thì: “Tạm hoãn xuất cảnh là việc người có thẩm quyền của Việt Nam quyết định tạm dừng xuất cảnh có thời hạn đối với người nước 6 ngoài đang cư trú tại Việt Nam”. Tiếp đến, Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam năm 2019 giải thích như sau: “Tạm hoãn xuất cảnh là việc dừng, 7 không được xuất cảnh có thời hạn đối với công dân Việt Nam”. Như vậy theo hai văn bản quy phạm pháp luật này thì tạm hoãn xuất cảnh nhìn chung là biện pháp tước bỏ quyền ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, được áp dụng đối với cả người nước ngoài và công dân Việt Nam.
Với tính chất là BPNC trong TTHS, khái niệm tạm hoãn xuất cảnh đã được ghi nhận trong Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của một số cơ sở đào tạo luật, cụ thể như sau: Giáo trình của Trường Đại học luật Hà Nội trình bày: “Tạm hoãn xuất cảnh là biện pháp ngăn chặn áp dụng với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố về hình 8 sự khi có căn cứ xác định việc xuất cảnh của họ có dấu hiệu bỏ trốn”. Khái niệm này khá đơn giản nhưng cũng đã phản ánh được một số nội dung cơ bản như đối tượng và căn cứ áp dụng của BPNC này. Tương tự, tạm hoãn xuất cảnh trong giáo trình của Trường Đại học luật thành phố Hồ Chí Minh được hiểu là: “Biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với người chưa bị khởi tố về hình sự, bị can, bị cáo khi có căn cứ xác định việc xuất cảnh của 9 họ có dấu hiệu bỏ trốn”. Khái niệm này bổ sung thêm thẩm quyền áp dụng và thay đổi thứ tự trình bày về đối tượng áp dụng so với khái niệm trong giáo 5 Khoản 2 Điều 3 Thông tư số 21/2011/TT-BCA.
6 Khoản 7 Điều 3 Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2019). 7 Khoản 7 Điều 3 Luật xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam năm 2019. 8 Trường Đại học luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB. Công an nhân dân, tr.
9 Trường Đại học luật thành phố Hồ Chí Minh (2018), tlđd (3), tr. 12 trình của Trường Đại học luật Hà Nội. Tuy nhiên, điểm thiếu sót của cả hai khái niệm trên là không đề cập hay giải thích nghĩa của cụm từ “tạm hoãn xuất cảnh” và mục đích áp dụng của BPNC này. Cùng với đó, khi đưa ra khái niệm về BPNC tạm hoãn xuất cảnh, Khoa luật trường Đại học quốc gia Hà Nội trình bày như sau: “Tạm hoãn xuất cảnh là biện pháp ngăn chặn mà ở đó cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định tạm dừng xuất cảnh có thời hạn đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ 10 và bị can, bị cáo”.
Khái niệm này có điểm tiến bộ khi giải thích tạm hoãn xuất cảnh là tạm dừng xuất cảnh có thời hạn. Tuy nhiên, cách trình bày lại khá dài dòng do trích dẫn nguyên văn quy định tại khoản 1 Điều 124 BLTTHS năm 2015 mà không có sự chắt lọc, chỉnh sửa cho phù hợp với đặc điểm của một khái niệm trong khoa học pháp lý. Hơn nữa, việc sử dụng thuật ngữ “Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng” là không chính xác. Bởi vì cơ quan, người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra mặc dù có thẩm quyền tiến hành tố tụng nhưng theo quy định tại khoản 2 Điều 124 BLTTHS năm 2015 thì người và cơ quan này không được quy định là chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất 11 cảnh.
Trên cơ sở nghiên cứu, tiếp thu những ưu điểm và khắc phục hạn chế trong các khái niệm nêu trên, kết hợp với quy định tại Điều 124 BLTTHS năm 2015, tác giả đưa ra khái niệm như sau: “Tạm hoãn xuất cảnh là một biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự được áp dụng bởi người có thẩm quyền theo trình tự, thủ tục nhằm tạm dừng có thời hạn việc xuất cảnh đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị can, bị cáo khi có đủ căn cứ do luật định để đảm bảo cho việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án”. Khái niệm này mang tính bao quát và đầy đủ hơn so với các khái niệm hiện có. Bởi lẽ, nó giải thích nghĩa của cụm từ tạm hoãn xuất cảnh, nêu rõ thẩm quyền, đối tượng, căn cứ, thời hạn và mục đích áp dụng BPNC tạm hoãn xuất cảnh trong TTHS. 10 Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội (2019), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB.
Đại học quốc gia Hà Nội, tr. 11 Lê Huỳnh Tấn Duy, Trần Thị Hà (2020), “Tạm hoãn xuất cảnh trong tố tụng hình sự Việt Nam”, Tạp chí Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, số 4, tr. Đặc điểm của biện pháp tạm hoãn xuất cảnh trong tố tụng hình sự Nghiên cứu quy định của pháp luật TTHS, các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan cho thấy tạm hoãn xuất cảnh trong TTHS là một BPNC mang đầy đủ những đặc điểm của BPNC nói chung. Đồng thời BPNC này còn có những đặc điểm mang tính đặc thù riêng, đó là: Thứ nhất, tạm hoãn xuất cảnh là một biện pháp mang tính cưỡng chế trong TTHS, thể hiện qua việc tác động trực tiếp đến một số quyền con người, quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013.
Về vấn đề quy định các trường hợp tạm hoãn xuất cảnh, Ông Võ Trọng Việt – Chủ nhiệm Uỷ ban Quốc phòng – An ninh cho rằng: “Đây là nội dung có liên quan trực tiếp đến việc hạn chế quyền con người, quyền công dân, liên quan đến quốc 12 phòng, an ninh, sức khoẻ cộng đồng”. Vì vậy khi xây dựng quy định về BPNC tạm hoãn xuất cảnh, cơ quan lập pháp phải cân nhắc thận trọng các trường hợp cần phải áp dụng, thời hạn áp dụng phù hợp với các đối tượng và yêu cầu của các hoạt động tố tụng để tránh xâm phạm quyền con người nhưng vẫn phải đảm bảo điều kiện giải quyết kịp thời vụ án hình sự. Trên thực tế thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự được phép áp dụng những biện pháp phù hợp, cần thiết theo quy định của BLTTHS năm 2015 và điều này dẫn đến hạn chế một số quyền cơ bản của công dân như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền lựa chọn nơi cư trú, quyền tự do đi lại,.