CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỆN PHÁP TẠM GIAM 1. Khái niệm, đặc điểm, mục đích, ý nghĩa của biện pháp tạm giam 1.1 Định nghĩa, đặc điểm biện pháp tạm giam TTHS là lĩnh vực khá nhạy cảm do mỗi một thủ tục hay quyết định, hành vi được đưa ra đều rất nghiêm khắc nhằm đảm bảo giải quyết thỏa đáng các vụ án để bảo vệ công dân, tạo niềm tin và là chỗ dựa của nhân dân. Các cơ quan có thẩm quyền, cá nhân và công dân tìm hiểu về những quy định theo pháp luật của BPNC nói chung và BPTG nói riêng có ý nghĩa quan trọng cần thiết bởi lẽ đây là biện pháp khi áp dụng sẽ ảnh hưởng đến tâm lý cũng như khả năng xâm hại trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ hợp pháp của con người. Do vậy, các cơ quan có thẩm quyền cần nắm bắt rõ về mặt lý luận cũng như các quy định luật định về đối tượng bị áp dụng, thẩm quyền áp dụng, căn cứ cũng như mục đích sử dụng nhằm nâng cao hiệu quả việc đấu tranh phòng chống tội phạm cũng như có thể hiểu thấu đáo để vận dụng vào thực tiễn một cách đúng đắn, hợp lý đảm bảo quyền con người trong TTHS.
Về mặt lý luận, cần tìm hiểu về khái niệm “tạm giam” để từ đó có nền tảng đi sâu vào tìm hiểu cụ thể hơn các lý luận về BPTG. Có thể thấy rằng từ lịch sử của TTHS thì BPTG cũng đã được đề cập tại chương III Luật số 103.SL005 ngày 20/5/1957 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa về "đảm bảo quyền tự do 1 thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân”. Qua thời gian cùng với việc cải cách tư pháp, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước đấu tranh, phòng chống tội phạm thì tạm giam được xem là một trong những BPNC trong TTHS, là biện pháp cưỡng chế bảo đảm cho hoạt động điều tra đạt được thuận lợi, đồng thời thể hiện được sự nghiêm khắc của Nhà nước đối với người phạm tội. Hiện nay, BPTG được diễn đạt với nhiều khái niệm khác nhau trong khoa học pháp lý.
Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông của Viện ngôn ngữ học thì “tạm” là chỉ 2 trong một thời gian nào đó, khi có điều kiện thì sẽ có thay đổi, mang tính tạm thời ; “giam” tức là giữ người bị coi là có tội ở một nơi nhất định không cho tự do đi lại, 3 tự do hoạt động, bị nhốt. Như vậy, có thể hiểu khái quát dưới góc độ của ngôn ngữ 1 http://vanban.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&_page=14&mode=detail &document_id=2422 2 Hoàng Phê (chủ biên) (1992), Viện ngôn ngữ học, Trung tâm từ điển ngôn ngữ- Hà Nội, tr. 3 Hoàng Phê (chủ biên) (1992), Viện ngôn ngữ học, Trung tâm từ điển ngôn ngữ- Hà Nội,tr 345. 9 học thì: Tạm giam được xem là biện pháp tạm giữ một người bị xem là có tội ở một nơi cụ thể nhất định và người bị tạm giam sẽ bị hạn chế tự do hoạt động, đi lại trong một khoảng thời gian, khi có điều kiện hoặc VAHS được giải quyết thì sẽ có thay đổi.
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội, đã định nghĩa biện pháp tạm giam rằng: “Tạm giam là biện pháp cách ly bị can, bị cáo với xã hội trong thời gian nhất định nhằm ngăn chặn hành vi trốn tránh pháp luật, cản trở việc điều tra, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội của bị can, bị cáo 4 đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử thi hành án được thuận lợi” Tại giáo trình Luật tố tụng hình sự của trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh thì: “Tạm giam là một biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với bị can, bị cáo trong những trường hợp luật định nhằm ngăn chặn tội phạm hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động điều 5 tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Tạm giam là một trong các BPNC được quy định trong Bộ luật TTHS, là BPNC nghiêm khắc nhất trong TTHS. “Người bị áp dụng biện pháp tạm giam bị cách ly với xã hội trong một thời gian nhất định, bị hạn chế một số quyền công dân tác động trực tiếp đến quyền tự do thân thể, đi lại của công dân được Nhà nước thừa nhận”. Phân tích các khái niệm nêu trên thì theo học viên việc liệt kê các cơ quan có thẩm quyền áp dụng của BPTG theo quy định của pháp luật TTHS có thể sẽ không phù hợp trong trường hợp các quy định của pháp luật TTHS sẽ có sự thay đổi về các điều kiện áp dụng.
Vì vậy, theo học viên xây dựng khái niệm BPTG có thể dựa vào các đặc điểm thuộc về bản chất đó là: Là BPNC được quy định cụ thể trong pháp luật TTHS. Đối tượng bị áp dụng BPTG là những người mà cơ quan có thẩm quyền có căn cứ cho rằng người đó đã thực hiện hành vi được quy định trong BLHS là tội phạm (tại thời điểm này được xem là bị can, bị cáo). Quy định nhằm ngăn chặn tình trạng trốn tránh pháp luật, tiếp tục phạm tội phù hợp với các quy định của Hiến pháp và chuẩn mực quốc tế về việc đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, con 4 Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học: luật Hình sự, luật Tố tụng hình sự. Trường Đại học Luật Hà Nội, Công an nhân dân 1999, tr.
5 Võ Thị Kim Oanh (chủ biên) (2017), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, tr. Theo quy định của luật TTHS hiện hành thì những đối tượng sau sẽ bị áp dụng BPTG như là bị can, bị cáo, người bị dẫn độ, người bị yêu cầu dẫn độ khi đã có đầy đủ căn cứ thỏa mãn các điều kiện bị tạm giam. Hệ quả của BPTG là tạm thời tước tự do đối với bị can, bị cáo trong các trường hợp do luật định. Người bị áp dụng sẽ phải cách ly với đời sống sinh hoạt xã hội bên ngoài trong một khoảng thời gian cụ thể nhất định.
Thời hạn của việc tạm giam sẽ phụ thuộc vào tính chất phức tạp của VAHS bao gồm cả việc phụ thuộc vào giai đoạn tố tụng mà bị can, bị cáo phải tuân thủ. Theo đó, người bị áp dụng BPTG sẽ phải chịu sự quản lý, giam giữ sau khi bị cơ quan có thẩm quyền ban hành Lệnh quyết định thực thi biện pháp trong một khoảng thời gian nhất định và trong một số trường hợp có thể rất dài. Việc bị tạm giam tại cơ sở quản lý sẽ đảm bảo việc điều tra được thuận lợi, tránh tình trạng tiêu hủy chứng cứ, bảo vệ được tài sản, tính mạng, sức khỏe của công dân. Tạm giam đúng quy định pháp luật sẽ nâng cao được hiệu quả quản lý Nhà nước, thể hiện được sự nghiêm khắc, chuyên chính của Nhà nước XHCN trong việc phòng, chống tội phạm.
Từ những nhận thức được nêu trên, tác giả có định nghĩa về tạm giam như sau: Tạm giam là biện pháp ngăn chặn được quy định cụ thể trong luật TTHS, do các cơ quan có thẩm quyền áp dụng theo đúng trình tự, căn cứ, mục đích và thời gian, qua đó người bị tạm giam sẽ tạm thời bị cách ly khỏi xã hội tại một không gian có sự quản lý của người có thẩm quyền trong một khoảng thời gian, nhằm ngăn chặn họ không thể thực hiện được bất kì hành vi nào bên ngoài xã hội để tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự.2 Mục đích và ý nghĩa của biện pháp tạm giam - Mục đích Theo như các mục đích chung mà hầu hết các nhà luật học quy định cũng như cơ quan có thẩm quyền khi áp dụng thì BPTG có thể: ngăn chặn không để cho bị can, bị cáo có khả năng tiếp tục phạm tội hoặc thực hiện hành vi gây cản trở đến việc giải quyết vụ án trong từng giai đoạn tố tụng nhất định. Tuy nhiên, ở từng giai đoạn của TTHS khi áp dụng BPTG sẽ có mục đích cũng như nhiệm vụ khác nhau tùy theo tính chất nguy hiểm của VAHS. Ví dụ: Việc áp dụng BPTG trong giai đoạn điều tra có thể giúp cho cơ quan điều tra giải quyết VAHS được diễn ra thuận lợi nếu trong trường hợp tội phạm được điều tra là tội nghiêm trọng nếu trong thời hạn 3 tháng vẫn chưa được giải quyết, thu thập chứng cứ xong thì có thể được gia hạn một lần và không quá hai tháng. Việc tạm giam sẽ đảm bảo cho hoạt động lấy 11 lời khai được diễn ra nhanh chóng từ bị can, bị cáo bất kì lúc nào mà không phải mất thời gian đợi triệu tập nhiều lần.
- Ý nghĩa Là một BPNC trong TTHS, BPTG có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình giải quyết VAHS trong công tác đấu tranh, phòng chống các nhóm tội phạm những vẫn đảm bảo được đầy đủ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, quyền con người trong TTHS, cụ thể: Một là, BPTG góp phần đảm bảo cho công tác điều tra VAHS nói chung và tội phạm xâm phạm đến các hoạt động tư pháp nói riêng được hiệu quả. Chất lượng công tác quản lý của BPTG đã góp phần cho hoạt động thu thập các chứng cứ trong giai đoạn điều tra được tiến hành nhanh chóng, bảo đảm tiến độ giải quyết VAHS được thuận lợi theo đúng quy định của pháp luật. Thông qua áp dụng BPTG đảm bảo được trật tự xã hội ổn định, các chứng cứ cũng được đảm bảo không có khả năng bị tiêu hủy hoặc người bị tạm giam không trốn tránh pháp luật tạo điều kiện cho Điều tra viên lấy lời khai, hỏi cung, thu thập chứng cứ từ các hoạt động điều tra khác. Hai là, tạm giam tạo ra cơ sở pháp lý giúp củng cố và tăng cường pháp chế thể hiện tinh thần kiên quyết đấu tranh phòng, chống tội phạm của Nhà nước, thể hiện được sự nghiêm khắc với công dân đảm bảo sự tuân thủ và tôn trọng quy định pháp luật.
Nhưng vẫn thể hiện được sự tôn trọng các quyền cơ bản của công dân mà Hiến pháp đã quy định. Tạm giam còn đảm bảo cho mọi công dân, cá nhân được tôn trọng, các quyền, lợi ích hợp pháp được bảo vệ, không có sự xâm hại từ bất kì thế lực nào, không người nào bị tạm giam trái pháp luật. Trong trường hợp công dân bị tạm giam trái pháp luật thì có quyền khiếu nại đến các cơ quan có thẩm quyền để được bảo vệ và giải quyết.