Chương 1: Một số van dé lý luận về quyền bào chữa của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thâm vụ án hình sự Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành về quyền bào chữa của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thâm vụ án hình sự Chương 3: Thực tiễn thi hành quyền bào chữa của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thâm vụ án hình sự tại TAND Tỉnh Yên Bái và một số kiến nghị 6 CHUONG 1: MỘT SO VAN DE LÝ LUẬN VE QUYEN BAO CHỮA CUA BỊ CÁO TRONG GIAI DOAN XÉT XỬ SƠ THẤM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm quyền bào chữa của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thấm vụ án hình sự Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có, được pháp luật thừa nhận, tôn trọng và áp dụng bình đăng cho mọi người mà không phân biệt hoàn cảnh, lãnh thỏ, sắc tộc hay màu da. Điều đó được thé hiện, ghi nhận trong các văn bản pháp lý quốc tê cũng như các đạo luật của moi quôc gia. Quyền bào chữa là một trong những nguyên tắc thể hiện quyền con người, là nội dung quan trọng góp phần đảm bảo quyền con người.
Quyền bào chữa chính thức được ghi nhận trong Tuyên ngôn về Nhân quyền của Liên hợp quốc: “Moi người, nếu bị cáo buộc về hình sự, đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo pháp luật, tại một phiên tòa xét xử công khai, nơi người đó được dam bảo những điều kiện cần thiết dé bào chữa cho minh”!. Công ước của Liên hợp quốc về quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR) cũng đã khang định: “Trong quá trình xét xử về một tội hình sự, mọi người đều có quyền được hưởng một cách day đủ và hoàn toàn bình dang những bảo đảm tôi thiểu sau đây:. Được có mặt trong khi xét xử và được tự bào chữa hoặc thông qua sự trợ giúp pháp lý theo sự lựa chọn của mình; được thông báo về quyền này nếu chưa có sự trợ giúp pháp lý; và được nhận sự trợ giúp pháp lý theo chỉ định trong trường hợp lợi ích của công lý đòi hỏi và không phải trả tiền cho sự trợ giúp đó nếu không có đủ điều kiện tra”?. Những quy định trên ra đời đã khẳng định bị cáo có quyền bảo vệ, đưa ra những chứng cứ chứng minh mình vô tội trước cơ quan có thâm quyền tiễn hành tố tụng.
Dưới góc độ pháp ly, tùy thuộc vào kỹ thuật lập pháp và cách hiệu khác nhau mà mỗi quốc gia khi tiễn hành nội luật hóa văn bản pháp lý quốc tế lại có những quan điểm, quy định khác nhau về quyên bào chữa. Tại Việt Nam, quyén bào chữa là một trong những chế định quan trọng, bao dam cho hoạt động tố tụng hình sự được công bằng, khách quan và đúng người, đúng tội.1 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyên của Đại hội đồng Liên hợp quốc năm 1948 ? Điểm d Khoản 3 Điều 14 Công ước Quốc tế về quyền dân sự và chính trị của Đại hội đồng Liên hợp quốc năm 1966 + Chức năng bào chữa luôn đối trọng với chức năng buộc tội của co quan có thắm quyền tiễn hành tô tụng. “Có buộc tội mà không có bào chữa thì hoạt động tố tụng sẽ mang tính chất một chiều và kết buộc chứ không phải là tranh tụng. Tố tụng hình sự không thê được thừa nhận là dân chủ khi chức năng buộc tội không có đối trọng là chức năng bào chữa.
Quyền bào chữa được ghi nhận kể từ bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hiến pháp 2013 ra đời, quyền bào chữa của bị cáo đã trở thành quyên hiến định, được xếp trong các nhóm quyền cơ bản của công dân. Khoản 4 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”. Điều đó khang định quyền bào chữa là một trong những quyền cơ ban của công dân, mọi cá nhân, tô chức đều phải tôn trọng, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ, được Nhà nước bảo đảm thực hiện.
Vệ khái niệm quyền bào chữa, trải qua quá trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, cho đên nay vân tôn tại nhiêu quan điêm khác nhau. Theo quan điểm của M.Xtrôgôvích: “Quyền bào chữa là tổng hòa các hành vi tố tụng hướng tới bãi bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hoặc nhằm làm giảm nhẹ trách nhiệm của bị can’. Theo tác giả, việc chỉ đặt ra đôi với chủ thé là bị can như quan điêm này là quá hẹp so với phạm vi bao gồm tông hòa tat cả các hành vi tố tụng như nội đung quan điểm đã thể hiện. Theo quan diém của PGS.TS Hoang Thị Sơn: “Quyền bào chữa của bị can, bị cáo là tổng thé các quyền mà pháp luật quy định bị can, bị cáo có thé sử dung nhằm bác bỏ một phần hay toàn bộ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho họ”.
Buộc tội và bào chữa song song tồn tại, có buộc tội thì sẽ có bào chữa và bị can, bị cáo có quyền bào chữa vì ho bị buộc tội." Do đó, với quan điểm này, quyền bào chữa sẽ không thuộc về người bi tạm gift và người bi kết án do họ chưa phải đối tượng bị buộc tội. Lê Tiên Châu (2003), Một số van đề về tranh tung trong té tụng hình sự, Tạp chí Khoa học pháp lý số 01 (Trích từ Hà Thị Minh Ngân (2019), Quyền bào chữa của người bị buộc tội theo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Luận văn thạc sĩ Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội) *M. Xtrôgôvích, “Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Xô Viết, tập 1, Nxb Khoa học, M-1968, tr.196 (trích từ PGS.TS Phạm Hồng Hải (1999), Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.TS Hoàng Thị Sơn (2000), Về khái niệm quyền bào chữa và việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo”, Tạp chí luật học (số 05) 8 Theo giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam: “Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bi cáo và pháp nhân thương mại phạm tội là tổng hợp tat ca các hành vi/phương thức mà pháp luật quy định cho người bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc pháp nhân thương mại sử dung trong các giai đoạn của quá trình tô tụng hình sự dé chống lại sự buộc tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho ho”. Mỗi quan điểm trên đều đã được thé hiện theo nhiều khía cạnh khác nhau, với những góc độ tiếp cận khác nhau và đều có tính đúng đắn riêng tong ứng với cơ sở pháp lý cũng như cái nhìn nhất định mà mỗi tác giả nghiên cứu, tìm hiểu.
Tuy có những quan điểm chưa thật sự day đủ, nhưng đều có một điểm chung về ban chất của hoạt động bào chữa, đó là chứng minh sự vô tội dé chống lại việc buộc tội. Đối với quan điểm riêng của mình, tác giả xin được phân tích cụ thé các khái niệm “quyền”, “bảo chữa” và “bị cáo” kết hợp với các quy định của pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam dé đưa ra một khái niệm chung về quyền bào chữa của bị cáo. Theo Từ điển tiếng Việt, “Quyền” được hiểu là “điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏï””. Đó bao gồm các quyền mà pháp luật cho phép công dân được hưởng, được làm, được đòi hỏi (quyền bầu cử, quyền bào chữa,.); quyền được toàn xã hội và nhân loại thừa nhận, công nhận (quyền được sống, quyền được mưu cầu hạnh phúc,.
Theo từ điển Luật học, thuật ngữ “Quyền” có nghĩa là “những điều mà pháp luật công nhận và bảo đảm thực hiện đối với cá nhân, tô chức dé theo đó cá nhân, tổ chức được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn can, hạn chế””. Có thê hiểu đơn giản, “Quyền” là những việc rz làm nào đó mà pháp luật cho phép mỗi chủ thê được làm vì lợi ích cá nhân hay của người khác, và khi quyền bị xâm phạm, bị ngăn cản, hạn chế thì chủ thé ấy có thê yêu cau cơ quan có thâm quyên giải quyết. Thuật ngữ “Bào chữa” theo Từ dién tiếng Việt được hiểu là “dùng lý lẽ và chứng cứ dé bênh vực cho một bên đương sự nào đó thuộc một vụ án hình sự hay dân sự trước tòa án hoặc cho việc nào đó bị lên án””. Theo tác giả, thuật ngữ “Bao chữa” ® PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí — TS.
Lê Lan Chi (2023). Giáo trình Luật Tế tụng hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.200 7 Viện ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr. 815 Š Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp và Nxb Từ điển Bách khoa, tr. 648 ? Viện ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr.
Ũ được hiểu theo cách trên chưa bảo dam tính chính xác và phù hợp. Bản chất, “Bao chữa” thường chỉ được đặt song song với việc buộc tội, ở đâu có sự buộc tội thì ở đó phát sinh quyền bào chữa. Bởi lẽ hoạt động bào chữa là bảo vệ, đưa ra những chứng cứ chứng minh mình vô tội, bảo vệ bản thân mình của người bị buộc tội. Còn bản chất của việc nguyên đơn dan sự đưa ra những lý lẽ, chứng cứ trong hoạt động tố tụng dân sự là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc cho người mình đang bảo vệ, họ là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự chứ không phải người bào chữa.
Vì vậy, “Bào chữa” chỉ được dùng trong Tố tụng hình sự, được hiểu là dùng những lý lẽ, chứng cứ, tài liệu dé bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội trước cáo buộc của cơ quan có thâm quyên tiến hành tố tụng. Vì vậy, có thé đưa ra khái niệm về quyền bào chữa trong Tố tụng hình sự như sau: Quyên bào chữa trong Tó tụng hình sự là tổng thé các quyền mà pháp luật quy định cho người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo sử dụng trong các giai đoạn khởi 10, điều tra, truy 10, xét xử vụ án hình sự dé bác bỏ một phân hoặc toàn bộ sự buộc tội của cơ quan tiễn hành to tụng, nhằm Chứng minh sự vô tội, xóa bỏ trách nhiệm hình sự hoặc làm giảm nhẹ tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mình trong vụ án hình sự.