CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VỀ CHỬNG cứ VÀ THU THẬP CHỦNG cú TRONG TỐ TỤNG HÌNH sụ 1. Một số vấn đề lý luận về chứng cứ và nguồn chứng cứ 1. Khái niệm về chứng cứ và các thuộc tính của chúng cứ Đe giải quyết, làm sáng tò bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng thì chứng cứ đóng một vai trò vô cùng quan trọng, nó là cơ sở vững chắc nhất, khách quan nhất để xác định sự vật gì, hiện tượng gì là đúng, là sự thật. Trong tố tụng hình sự thì chứng cứ là cơ sở để xác định những nội dung thiết yếu như điều gì đã xảy ra, xảy ra như thế nào từ đó xây dựng được lại toàn bộ quá trình diễn biến của hành vi phạm tội và xác định người thực hiện hành vi phạm tội, tránh oan sai và bỏ lọt tội phạm.
Tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chù nghĩa Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng [15], theo đó BLTTHS Việt Nam lấy chú nghĩa duy vật biện chứng cua chủ nghĩa Mác - Lênin làm cơ sở của chứng cứ. Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng thì phản ánh là thuộc tính chung, phổ biến của mọi đối tượng vật chất, phản ánh là năng lực giữ lại, tái hiện lại của hệ thống vật chất này những đặc điểm của hệ thống vật chất khác và con người có thề nhận thức được thế giới khách quan và quy luật của nó, trên cơ sở đó có thế khắng định, trong thế giới khách quan thì một hành vi phạm tội dù có tinh vi, được che đậy đến đâu cũng sẽ để lại dấu vết và những dấu vết này sẽ được phản ánh lại một cách khách quan. Xác định và thu thập đầy đủ những phản ánh này thì con người sẽ xác định đầy đủ được quá trình một hành vi phạm tội đã xảy ra. Trên cơ sở lý luận đó cũng như tiếp thu kinh nghiệm lập pháp cùa các nước trên thế giới, BLTTHS Việt nam năm 2015 quy định: Chứng cứ là những gi có thật, được thu thập theo trình tự, thủ 6 tục do Bộ luật này quy định, đuợc dùng làm căn cứ đê xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án [25, Điều 86].
Quy định về chứng cứ của BLTTHS Việt Nam năm 2015 với nền tảng là chủ nghĩa duy vật biện chứng đã bao quát được đầy đủ các nội dung cần có của chứng cứ và thể hiện đầy đủ các thuộc tính cần và đủ mà bất kỳ chứng cứ nào cũng phải có. Cụ thể “chứng cứ được sử dụng trong vụ án hình sự phải bảo đảm đầy đủ ba thuộc tính quan trọng sau, đó là tính khách quan (ỉ), tính liên quan (2) và tỉnh hợp pháp (3) ” [5, tr. 161], Thuộc tính thứ nhất: Tính khách quan của chứng cứ. Theo Đại từ điển tiếng Việt, khách quan là: “Cái tồn tại bên ngoài, không phụ thuộc vào ỷ thức của con người” [42, tr.
884], Chứng cứ là những gi có thật, tức là phải tồn tại trong thực tế khách quan chứ không thể coi nhận thức hay những thứ tồn tại trong suy nghĩ, trong tương lai chưa xảy ra là chứng cứ, điều đỏ cũng cỏ nghĩa rằng chứng cứ là những thông tin, tài liệu, đồ vật khách quan, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người. Trong BLTTHS 2015 thì tính khách quan cùa chứng cứ còn được gọi là tính xác thực [25] và để đảm bảo tính khách quan, xác thực của chứng cứ thì nó phải tồn tại một cách thực tế và độc lập với ỷ thức của người tiến hành tố tụng, nếu người tiến hành tố tụng lấy ý chí chủ quan để áp đặt, suy diễn chứng cứ thì “Những tài liệu phán ánh nhận thức của họ sẽ không có thuộc tính khách quan, không được công nhận là chứng cứ” [27]. Thuộc tính thứ hai: Tính liên quan của chứng cứ. Tính liên quan của chứng cứ thể hiện ở mối liên hệ khách quan cơ bản của chứng cứ với sự kiện cần chứng minh.
Những gì có thật, tồn tại khách quan phải có mối liên quan khách quan với những sự kiện cần phải chứng minh 7 trong vụ án hình sự mới đảm bảo tính liên quan của chứng cứ. Ngược lại những gì tồn tại khách quan nhưng không liên quan hoặc sự liên quan đó không khách quan thì cũng không đảm bảo thuộc tính này của chứng cứ và không phải là chứng cứ. Thuộc tính thứ ba: Tính hợp pháp của chứng cứ. Tính hợp pháp của chứng cứ là một thuộc tính thể hiện chứng cứ phù hợp với các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, tại Việt Nam đây còn là một thuộc tính thể hiện pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự [25].
Thuộc tính hợp pháp của chứng cứ được biểu hiện ở những mặt như: chứng cứ phải được xác định từ nguồn chứng cứ theo quy định của pháp luật; chứng cứ phải được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định. Nguồn chứng cử và đặc điểm của các loại nguồn chủng cứ về cơ bản, các quan điểm định nghĩa nguồn chứng cứ trong các tài liệu khoa học hiện nay đều có điểm chung đó là khẳng định nguồn chứng cử là nơi chứa đựng thông tin mà từ đó chứng cứ được rút ra để chứng minh sự thật khách quan của vụ án. Chứng cứ và nguồn chứng cứ là hai khái niệm có mối quan hệ mật thiết với nhau, một bên là thông tin và một bên là nơi chứa đựng thông tin đó, chúng vừa có mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng trong đó nguồn chứng cứ là cái chung còn chứng cứ là cái riêng, vừa có mối quan hệ tiền đề, muốn có chứng cứ trước hết phải có nguồn chứng cứ, chứng cứ phải được và chỉ khi được thu thập từ nguồn chứng cứ thì mới có giá trị chứng minh. Tại Điều 87 của BLTTHS 2015 đã quy định 7 loại nguồn chứng cứ, đây chính là nơi chứa đựng thông tin, là nguồn chứng cứ mà từ đó sẽ tìm và rút ra chứng cứ làm căn cứ chứng minh và giải quyết vụ án hình sự.
Mồi một loại nguồn chứng cứ này lại có đặc điểm, tính chất khác nhau, cụ thề: - Nguồn chứng cứ là vật chứng: Có đặc điếm quan trọng nhất đó là nó 8 phải là “vật”, tức là phải có hình khôi, có kích thước (dài, rộng, cao) và có trọng lượng mà con người có thể nhận biết được thông qua các giác quan như mắt nhìn, tay sờ, cầm, nắm; thông qua các giác quan đó chúng ta cảm giác được nặng, nhẹ, to, nhở, dài, ngắn. “Vật” này có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội cũng như các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. - Nguồn chứng cứ là lời khai, lời trình bày: Loại nguồn chứng cứ này là những thông tin có liên quan đến vụ án được lưu giữ trong ý thức chủ quan của người tham gia tố tụng. Chính vì vậy nó không giống với vật chứng, không thể cầm, nắm, đo, đếm được mà chỉ có thể thu thập thông qua việc hỏi, trả lời của người lưu giữ thông tin đó vì nó nằm “trong đầu”, trong nhận thức của họ, cũng chính vì thế nên nó dễ bị ảnh hưởng bởi người tham gia tố tụng, khi họ bị chi phối bởi các yếu tố bên ngoài như tâm sinh lý, mối quan hệ xã hội.
- Nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử: Đây là một loại nguồn chứng cứ rất mới, lần đầu tiên được ghi nhận trong BLTTHS. Khác với vật chứng và lời khai lời trình bày, dữ liệu điện tử là một dạng thông tin được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử. về bản chất đặc điểm của loại nguồn chứng cứ này là nó hình thành tự động dưới dạng tín hiệu số và thời gian tồn tại có giới hạn, phụ thuộc vào thiết bị và phần mềm lưu trữ, ngoài ra nó rất dễ bị tác động, bị xóa hoặc thay đối trong quá trình lưu trữ, truyền tải, sao chép ., bởi các tác nhân như virus, dung lượng bộ nhớ, phần mềm, phương pháp truy cập, trình độ khai thác, mở, mã hóa, truyền tải trên mạng, sao lưu, cố ý hoặc vô ý sửa đổi, xóa. - Nguồn chứng cứ là Ket luận giám định, định giá tài sản: Đặc điểm của loại nguồn chứng cứ này đó là nó được các cơ quan chuyên môn sử dụng khoa học, công nghệ, trình độ chuyên môn nghiệp vụ để đánh giá, phân tích 9 và kết luận một nội dung được yêu cầu xác định, về mặt lý luận và thực tiễn có thể đánh giá đây là những nguồn chứng cứ quan trọng, có giá trị chứng minh rất cao bởi nó là kết quả được thiết lập từ hội đồng, cá nhân có chuyên môn trên cơ sở khoa học, độc lập, tập thể.
Giá trị chứng minh, thông tin mà loại nguồn chứng cứ này mang lại luôn mang tính khách quan cao và thường có giá trị mang tính chất quyết định trong việc giải quyết vụ án hình sự. - Nguồn chứng cứ là biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án: Đây là các tài liệu được lập bằng văn bản theo mẫu thống nhất do cơ quan, người có thẩm quyền lập để ghi lại diễn biến cụ thể của một hoạt động tố tụng hình sự hoặc để ghi lại tình trạng của một sự việc, đối tượng trong một thời điểm cụ thể để làm căn cứ sử dụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Biên bản tố tụng có vai trò quan trọng, là công cụ đế thực hiện các hoạt động động tố tụng cũng như là cơ sở để những người tham gia tố tụng có thế theo dõi quá trình tố tụng vụ án hình sự bởi vì biên bản có giá trị thể hiện những phương pháp, biện pháp nào đã được thực hiện, có hợp pháp, khách quan hay không, diễn biến tố tụng đang và đã thực hiện như thế nào cũng sẽ được thế hiện qua biên bản tổ tụng. - Nguồn chứng cứ là kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác: Đây là một nguồn chứng cứ mới được xác định trong BLTTHS 2015.