mở đầu, nội dung vụ án và nhận định, quyết định. Tuy nhiên về mặt hình thức của bản án thì còn nhiều cách hiểu, cách trình bày riêng. Thực tế, trong quá trình viết bản án mỗi Thẩm phán chủ tọa phiên tòa lại có nhiều cách ghi khác nhau như: "Hôm nay, ngày. tại trụ sở tòa án.
xét xử công khai về hình sự với bị cáo. Có bản án lại viết rằng: "họp phiên tòa công khai ngày." hay "mở phiên tòa công 17 khai ngày. Còn một cách khác là: "Tiên hành xét xử sơ thâm công khai ngày. Trong phần lý lịch bị cáo, đa số các bản án đều viết nghề nghiệp trước, rồi trình độ văn hóa.
Nhưng có trường hợp lại trình bày ngược lại. về phần tên bố mẹ bị cáo, tại các bản án cũng đa dạng về cách thể hiện. Chẳng hạn như viết: "bố là."; hay "con ông."; hoặc Theo quy định, trong phân nội dung vụ án phải nêu tóm tăt nội dung vụ án theo bản cáo trạng, rồi đến diễn biến phiên tòa. Nhìn chung các bản án đều thực hiện đúng trình tự trên.
Cá biệt có bản án lại không phản ánh đầy đủ diễn biến quá trình xét xử mà chỉ nói chung rằng tại phiên tòa bị cáo nhận tội, không nêu người bị hại khai thế nào, Viện kiểm sát đề nghị xử lý vụ án ra sao, dần đến bản án khi tuyên đọc không cỏ kết cấu chặt chẽ, không có sự logic giữa các phần trong bản án hình sự, thường có sự mâu thuẫn giữa phần xét thấy với phần nhận thấy hoặc mâu thuẫn giữa phần xét thấy với phần quyết định. Đe xảy ra tình trạng không thống nhất về hình thức bản án như trên là do 2 nguyên nhân. Trước hết, trách nhiệm thuộc về Thẩm phán chủ tọa phiên tòa - người được giao viết bản án. Các Thẩm phán viết theo thói quen, tùy tiện, ngẫu hứng không theo hướng dần.
Họ chưa nhận thức đầy đủ được trách nhiệm, cũng như tầm quan trọng của việc ra bản án nhân danh Nhà nước. Nguyên nhân thứ hai là do quá lâu không có hướng dẫn mới về cách viết bản án của các cấp cỏ thẩm quyền, cũng như quy định nội dung bản án tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 lại quá ngắn gọn, đơn giàn. Giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2015. Với tinh thần các nghị quyết cùa Đảng, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 được Quốc hội khoá XI tại kì họp thứ tư thông qua ngày 26/11/2003, có hiệu lực từ ngày 01/7/2004.
Bộ luật Tố tụng Hình sự có 346 điều quy 18 định trình tự, thủ tục khởi tô, điêu tra, truy tô, xét xừ và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, của các cơ quan, tổ chức và công dân; hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không đề lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 một lần nữa khẳng định ý nghĩa của bản án của Tòa án là “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 9) và được Nhà nước bảo đảm “Bán án và quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành và phải được các cơ quan, tô chức và mọi công dân tôn trọng. Cả nhân, cơ quan, tô chức hữu quan trong phạm vì trách nhiệm của mình phải chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Toà án và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc chấp hành đd”(Điều 22). về nội dung bản án được Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định tại Điều 224.
So với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 thì nội dung bản án của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 tương đối giống nhau. Tuy nhiên Bộ luật Tổ tụng hình sự năm 2003 có bỗ sung một số điểm mới sau: về cách ghi tên và chức danh cùa những người tiến hành tố tụng khác: đối với Thư ký phiên tòa, ngoài việc ghi rõ, đầy đủ họ tên thì phải ghi thêm ngạch chức danh Thư ký Tòa án; Bổ sung thành phần về tiền sự của bị cáo. Sửa đổi “người có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến vụ án” thành “người cỏ quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án”. Sửa đổi cụm từ “chứng cứ xác định vô tội” thành “chứng cứ xác định không có tội”.
Bồ sung “tình tiết tăng 19 nặng, tình tiêt giảm nhẹ trách nhiệm hình sự" trong khi Bộ luật tô tụng hình sự năm 2003 chỉ ghi là “tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ". về hình thức bản án, sau khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có hiệu lực pháp luật, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã ban hành một số Nghị quyết hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, trong đó có Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05-11-2004 hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ ba “Xét xử sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Kèm theo Nghị quyết này, Hội đồng Thẩm phán còn ban hành các mẫu và cách viết một số văn bản, trong đó có mẫu bản án hình sự sơ thẩm. Từ đó nâng cao chất lượng viết bản án từ bố cục đến nội dung trình bày.
Các lồi ngữ pháp, lỗi chính tả đều được khắc phục, hạn chế, đúng văn phạm pháp lý. Đa phần các bản án hình sự sơ thẩm đã đáp ứng được cả về nội dung và hình thức cùa một bản án hình sự như sau: Các quyết định cùa bản án hình sự sơ thẩm khi viện dần đa phần đều chính xác điểm, khoản, Điều của Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự. Các bản án hình sự sơ • • • • • • 4^/ • • thấm rõ ràng, đúng chính tả, đồng thời thể hiện được không gian, thời gian, địa điểm xét xử, tên Tòa án xét xử, thành phần Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng khác như Viện kiểm sát, Thư ký phiên tòa cùng những người tham gia tố tụng. Việc phân tích, đánh giá trong các phần cùa bản án hình sự sơ thẩm bão đảm tính thống nhất, không mâu thuẫn, có kết cấu chặt chẽ.
Khi kết luận bị cáo phạm tội, Hội đồng xét xử đã viện dẫn các căn cứ buộc tội bị cáo, dựa vào các căn cứ đó để áp dụng xử phạt bị cáo với những mức hình phạt tương ứng. Ngược lại, nếu tuyên bố bị cáo không phạm tội thì các bản án hình sự sơ thấm cũng đưa ra chứng cứ, căn cứ để không chấp nhận việc truy tố của Viện kiểm sát. 20 Mặc dù đa phân các Thâm phán đêu nghiên cứu và vận dụng đây đủ và đúng các hướng dẫn của Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05-11- 2004 và cuốn sổ tay viết bản án do Tòa án nhân dân tối cao tổ chức biên soạn với sự giúp đỡ của Chính phủ Nhật Bản trong khuôn khố Dự án hợp tác kỳ thuật trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp của Jica. Tuy nhiên, các Thẩm phán khi viết bản án vần còn nhiều vấn đề chưa thống nhất trong cách trình bày cả về hình thức và nội dung như: về phần mở đầu của Bản án vần có sự không thống nhất về phần lý lịch của bị cáo.
Trong phần Nhận Thấy của Bản án, cũng có nhiều cách trình bày khác nhau. Có Thẩm phán trình bày tóm tắt nội dung của bản Cáo trạng, có Thấm phán vần đưa nguyên văn nội dung của bản Cáo trạng vào trong phần nhận thấy, thậm chí ghi cả nhũng hành vi mà bản Cáo trạng có mô tả, song không truy tố, hoặc những vấn đề xử lý vật chứng, của Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra và truy tố cũng ghi cả vào trong phần nhận thấy, dẫn đến trong phần xét thấy, khi đánh giá về vấn đề xử lý các vật chứng của vụ án, các Thẩm phán lại nêu lại làm bản án rất dài và thừa, về diễn biến phiên tòa, có Thẩm phán ghi tóm tất lời khai của bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa, có Thấm phán lại không ghi mà chỉ ghi “Tại phiên tòa hôm nay bị cáo (các bị cáo) nhận tội như Cáo trạng của Viện kiêm sát đã quy kết”. Có Thấm phán ghi ý kiến đề nghị của Kiếm sát viên tại phiên tòa, có Thấm phán không ghi ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên. Đặc biệt ý kiến của người bào chữa, bị cáo và của những người tham gia tố tụng khác khi tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát cũng như về phần đối đáp thì đa số các Thẩm phán đều không thể hiện trong bản án.
Trong phần Xét Thấy của Bản án, cũng có nhiều quan điểm khác nhau như: Có Thấm phán ghi tóm tắt lời khai của bị cáo và những người tham gia 21 tố tụng khác tại phiên tòa rồi đi vào phân tích đánh giá những vấn đề tranh tụng tại phiên tòa, xác định các chứng cứ buộc tội, gỡ tội, đánh giá bị cáo có phạm tội không và phạm tội gì, theo điều khoản nào của Bộ luật hình sự, phân tích mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, đánh giá vai trò nhân thân của bị cáo (từng bị cáo), xác định thiệt hại, xử lý vật chứng. Có Thẩm phán lại đi thẳng vào phân tích đánh giá những vấn đề tranh tụng tại phiên tòa, xác định các chứng cứ buộc tội, gỡ tội, đánh giá bị cáo có phạm tội không và phạm tội gì, theo điều khoản nào của Bộ luật hình sự, phân tích mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, đánh giá vai trò nhân thân của bị cáo (từng bị cáo), xác định thiệt hại, xử lý vật chứng. chứ không ghi lại lời trình bày của bị cáo hoặc người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa hoặc ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên.