Chương 1: Một số vấn đề lý luận và quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam về xét xử phúc thầm vụ án hình sự tại Tòa án nhân dân cap cao 1. Một số van đề lý luận về xét xử phúc thẩm vụ án hình sự 1. Khái niệm xét xử phúc thẩm vụ án hình sự Tòa án nhân dân được Hiến pháp ghi nhận là cơ quan có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyên va lợi ích hợp pháp của tô chức, cá nhân. [Điều 102 Hiến pháp.
Trên cơ sở đó, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân cũng đã khang định: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chu nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tu pháp”. Vì vậy, xét xử các vụ án nói chung và xét xử các vụ án hình sự nói riêng là chức năng đặc thù của Tòa án và chỉ có Tòa án mới được Nhà nước trao quyền thực hiện. Bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tô chức không chỉ là quyền mà còn là trách nhiệm của Tòa án. Chính vì vậy, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của hoạt động tố tụng hình sự là “bao dam phát hiện chính xác và xu lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội”.
Việc quy định hai cấp xét xử sơ thâm và phúc thâm chính là một trong những quy định thê hiện rõ quan điểm của Nhà nước trong việc xét xử, nhằm bảo vệ các quyên tự do dân chủ của nhân dân, tránh bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội. Đây là một nguyên tắc tiến bộ nhằm đảm bảo tối đa quyền lợi hợp pháp cho người dân, đó là người dân có quyền yêu cầu tòa án xét xử hai lần đối với vụ việc của mình nếu chưa đồng ý với lần xét xử đầu tiên. Tòa án tuân thủ nguyên tắc hai cấp xét xử là để bảo đảm thực hiện quyền được xét xử hai lân của người dân. Hiện nay, nguyên tắc xét xử hai cấp được quy định tại khoản 6 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 và cụ thé hóa tại Điều 6 Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2014 với nội dung chính như sau: “Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm.
Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thé bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật to tụng. Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do luật định thì có hiệu lực pháp luật. Bản án, quyết định sơ thâm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án có hiệu lực pháp luật ”.
Như vậy, sau khi xét xử sơ thâm, bản án, quyết định sơ thâm được tuyên nhưng chưa có hiệu lực pháp luật ngay mà còn trong thời hạn để các đương sự có thê kháng cáo, viện kiểm sát có thể kháng nghị. Trường hợp có kháng cáo hoặc kháng nghị đối với bản án, quyết định sơ thấm thi sẽ xảy ra việc xét xử phúc thâm. Việc yêu cầu được xét xử phúc thẩm là quyền của các bên đương sự và tòa án có nghĩa vụ thực hiện; nếu kháng cáo phúc thâm đã được đưa ra một cách hợp pháp theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự thì tòa án không có quyên từ chối xét xử phúc thẩm. Khi ban án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà bi phát hiện có sai sót thì tòa án phải chịu trách nhiệm đối với những sai sót đó và phải bồi thường thiệt hại cho người dân.
Vì vậy, nguyên tắc hai cấp xét xử không chỉ thé hiện nguyên tắc bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người dân, mà còn đồng thời thé hiện tính thận trọng của nhà nước trước khi kết luận một cá nhân/tô chức nào đó phạm tội, kịp thời phát hiện và khắc phục sai sót về xét xử của Tòa án cấp sơ thâm. Vậy thé nào là “xét xử phúc thầm vụ án hình sự”? Trong khoa học luật TTHS chưa có khái niệm chính xác thế nào là xét xử phúc thâm vụ án hình sự; do đó, khái niệm xét xử phúc thâm vụ án hình sự có thể được hiểu dưới hai góc độ khác nhau: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng. Theo nghĩa hẹp, có thé hiểu: (i) xét xử phúc thâm vụ án hình sự là một giai đoạn của hoạt động tô tụng với các bước công việc cân thực hiện - giai đoạn xét xử phúc thâm; (ii) xét xử phúc thâm vụ án hình sự là một chế định với các quy định pháp luật quy định về phạm vi, trình tự, thủ tục. - chế định phúc thâm; (iii) xét xử phúc thâm vụ án hình sự là một thủ tục tố tụng với các quy định pháp luật về trình tự, thủ tục tiến hành - thủ tục xét xử phúc thâm.
Theo nghĩa rộng, khái niệm xét xử phúc thâm vụ án hình sự được hiểu theo cả ba nghĩa nêu trên: Xét xử phúc thâm vụ án hình sự là một giai đoạn, một chế định của tố tụng hình sự, đồng thời là một thủ tục xét xử vụ án hình sự. Thứ nhất, xét xử phúc thâm vụ án hình sự là một giai đoạn của TTHS: Trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ trước đến nay chưa bao giờ ghi nhận định nghĩa pháp ly của khái niệm “giai đoạn tô tụng”. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, dưới góc độ khoa học pháp lý, khái niệm giai đoạn tố tụng hình sự có thê được định nghĩa là các bước của quá trình tố tụng hình sự với các chức năng nhất định gắn liền với từng loại chủ thé tiến hành tố tụng, có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc để giải quyết vụ án hình sự một cách công bằng, có căn cứ và đúng pháp luật. Trong đó, giai đoạn tố tụng trước là tiền đề cho giai đoạn tổ tung sau.
Theo cách hiểu nay, các giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự bao gồm: - Khởi tố vụ án hình sự - Điều tra vụ án hình sự - Truy tố - Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự - Xét xử phúc thâm vụ án hình sự - Thi hành án hình sự Có ý kiến cho rằng, phúc thâm không phải là một giai đoạn độc lập của quá trình TTHS vì không phải tất cả các vụ án hình sự đều được xét xử phúc thâm mà chỉ có những vụ án mà bản án có kháng cáo, kháng nghị mới được đưa ra xét xử phúc thâm. Theo tác giả, ý kiến này đang đồng nhất "giai đoạn phúc thâm" với "thủ tục xét xử phúc thẩm". Thủ tục xét xử phúc thâm không phải là thủ tục bắt buộc mà chỉ được thực hiện khi có kháng cáo, kháng nghị 10 đối với bản án, quyết định sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Còn dưới góc độ giai đoạn tố tụng, cho dù không tiến hành xét xử phúc thấm vụ án hình sự thì giai đoạn phúc thâm vẫn tôn tại và được bắt đầu ngay sau khi tuyên bản án sơ thâm và kết thúc khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định pháp luật.
Thứ hai, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự là chế định của TTHS: Xét xử phúc thâm bao gồm một hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thé tham gia vào giai đoạn tô tụng nay. Các quy phạm pháp luật này không chỉ bao gồm các quy định trong Chương XXII - Phần thứ tư BLTTHS mà còn bao gồm cả Những quy định chung tại Phan thứ nhất, Chương XX Phan thứ tư - Những quy định chung về xét Xử Vụ án hình sự (bao gồm cả sơ thâm, phúc thâm) và những quy định được chứa đựng tại văn bản luật khác (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.), các văn bản dưới luật (Pháp lệnh, Nghị quyết, Thông tư. Thứ ba, xét xử phúc thâm vụ án hình sự là thủ tục tố tụng: Xét xử phúc thâm là một trong những hình thức xem xét lại việc xét xử của Tòa án cấp trên trực tiếp đối với Tòa án cấp dưới. Như đã phân tích ở trên, thủ tục xét xử phúc thâm đối với một vụ án hình sự chỉ phát sinh khi bản án, quyết định sơ thâm về vụ án đó bị kháng cáo hoặc kháng nghị theo quy định của pháp luật và sẽ kết thúc sau khi Tòa án cấp phúc thấm ra bản án hoặc quyết định về vụ án đó.
Vì vậy, không phải tất cả các vụ án hình sự sau khi xét xử sơ thẩm đều được tiến hành xét xử phúc thâm nhưng đều tồn tại giai đoạn phúc thâm đối với mỗi vụ án. Thời điểm bắt đầu của giai đoạn phúc thâm và thời điểm bắt đầu của thủ tục xét xử phúc thẩm là khác nhau. Thời điểm bat đầu của giai đoạn phúc thâm là cố định - ngay sau khi tuyên bản án, quyết định sơ thẩm. Còn thời điểm bắt đầu thủ tục phúc thâm phụ thuộc vào thời điểm các chủ thê có quyền kháng cáo, kháng nghị tiến hành kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật và được xác định từ thời điểm Tòa án nhận được kháng 11 cáo hoặc kháng nghị.
Thời điểm kết thúc giai đoạn phúc thâm và thời điểm kết thúc thủ tục phúc thâm sẽ trùng nhau trong trường hợp vụ án có kháng cáo, kháng nghị - được tính là ngay sau khi Tòa án cấp phúc thẩm ra ban án hoặc quyết định phúc thẩm. Đối với vụ án không có kháng cáo, kháng nghị, thủ tục phúc thâm không phát sinh nên không có thời điểm bắt đầu và kết thúc thủ tục này. Từ những phân tích nêu trên, có thé hiểu khái niệm xét xử phúc thâm vụ án hình sự như sau: Xét xử phúc thâm vụ án hình sự là một giai đoạn, một chế định của tố tụng hình sự, đồng thời là một thủ tục xét xử vụ án hình sự, trong đó Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hình sự mà bản án, quyết định sơ thâm bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định nhằm kiểm tra tính hợp pháp, tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thâm, khắc phục kịp thời các sai lầm của Tòa án cấp sơ thầm, bảo vệ công lý, quyền con người, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.