CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE ÁN TREO VÀ THI HANH AN TREO 1. Khái niệm và các đặc điểm co bản của án treo và thi hành án treo 1. Khải niệm an treo Chế định án treo trong Luật Hình sự nước Việt Nam đã có từ rất lâu, theo các văn bản pháp luật Hình sự ở nước ta từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, án treo đã được ghi nhận tại Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ lâm thời số 33C ngày 13 tháng 9 năm 1945 được ban hành để thành lập các Tòa án Quân sự (gọi tắt là Sắc lệnh 33C ngày 13/9/1945). Sau đó, án treo từng bước phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của pháp luật Hình sự Việt Nam, thé hiện tính nhân dao của Nhà nước ta, là một trong những biểu hiện cụ thé của nguyên tac trừng trị kết hợp với khoan hồng của pháp luật, án treo mang tính giáo dục người phạm tội song song đó còn mang tính ran đe những người xung quanh.
Pháp luật hình sự Việt Nam không đưa ra khái niệm án treo. Từ khi ra đời cho đến khi chính thức được quy định tại Điều 44 Bộ luật Hình sự năm 1985 đã có những quan niệm khác nhau. Cụ thể, Điều IV Sắc lệnh 33C ngày 13-9-1945 về án treo quy định: “Khi có căn cứ chính đáng thì tha vì non trẻ, hối quá, lỗi lầm, v.”, thì tòa án có thể cho người phạm tội hưởng án treo. Theo Điều 10 Sắc lệnh tô chức các Tòa án quân sự của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoa số 21 ngày 14 tháng 2 năm 1946 thì án treo được hiểu là một biện pháp “tạm đình chỉ việc thi hành án”; còn theo Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 05/01/1986 của Hội đồng Tham phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985 và cho đến hiện tại thì “án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện”.
Bộ luật Hình sự năm 1999 được Quốc hội thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999 (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2000) (còn gọi là Bộ luật Hình sự năm 1999) quy định những vấn đề liên quan đến tạm đình chỉ thi hành án. không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ. Nếu xét thay không cần thiết phải thi hành hình phạt tù thì Toa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm.” Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định một khái niệm cụ thé về án treo. Cho đến Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bé sung năm 2017) (sau đây gọi là “Bộ luật Hình sự 2015”), án treo được quy định tại Điều 65, tuy có một số thay đổi so với Bộ luật Hình sự năm 1999, nhưng vẫn chưa nêu lên được khái niệm của án treo với nội dung: Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt buộc chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự.
Như vậy, trải theo dòng lịch sử lập pháp Việt Nam, các quy định về án treo đã có những bước tiễn và ngày càng hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu dau tranh và phòng ngừa tội phạm và cũng đã có nhiều cách giải thích, có nhiều quan điểm khác nhau được thé hiện ở nhiều văn bản khác nhau. Từ những phân tích trên CO THE HIẾU khái niệm án treo như sau: “An treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có diéu kiện, được áp dụng đối với người bị phạt tù không quá ba năm, nếu người phạm tội có nhân thân tốt và có các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không can thiết phải cách ly họ ra khỏi đời song xã hội và buộc họ phải chịu thử thách từ một năm đên năm năm; nếu trong thời gian thử thách người bị kết án không phạm tội mới thì họ sẽ không phải chấp hành hình phạt của bản án cho hưởng án treo đó”. Việc giải thích khái niệm án treo như trên là rất cần thiết, tạo định hướng để hiểu đúng bản chất của án treo, từ đó giúp áp dụng biện pháp này một cách chính xác và đúng quy định của pháp luật. Việc áp dụng và thực hiện tốt án treo trong thực tiễn sẽ phát huy tốt phương châm “trừng tri kết hợp với giáo dục”, không buộc người bị kết án cách ly khỏi đời sống xã hội mà cũng đạt được mục đích cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội, hòa nhập với cộng đồng, giác ngộ được ý thức chấp hành chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, tuân thủ quy tắc cuộc sống Xã hội chủ nghĩa đồng thời cũng làm tam gương cho mọi người xung quanh nhận thấy mà kiềm chế và làm chủ những hành động đi ngược lại với pháp luật.
Như vậy, án treo có tác dụng khuyến khích người bị kết án tự lao động cải tao tại cộng đồng dé hoàn lương, với sự giám sát, giáo dục, giúp đỡ tích cực của chính quyền địa phương nơi người phạm tội cư trú hoặc nơi người phạm tội công tác hoặc sự giúp đỡ từ gia đình, người thân, bạn bè và xã hội. Án treo là một trong những biểu hiện cụ thể của chính sách hình sự nước ta với phương châm “trừng trị kết hợp với giáo dục” và thé hiện tính nhân đạo XHCN trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta. Theo quy định, án treo được áp dụng cho những tội phạm không nghiêm trong và những người bi kết án có tiền án sạch sẽ. Khi thụ án treo, người bị kết án không phải chịu một phần hoặc toàn bộ thời gian tù, nhưng họ sẽ phải tuân thủ những điều kiện mà tòa án đặt ra trong quyết định xử phạt.
Mục đích chính của án treo là cung cấp cơ hội cho người bị kết án để cải thiện bản thân và hoà nhập trở lại với xã hội. Những điều kiện này có thể bao gôm việc người bi kết án phải tham gia vào các chương trình giáo dục, cải 10 tạo, hoặc lao động xã hội. Mục đích của việc này là giúp người bị kết án nhận ra và thay đổi hành vi sai trái, rèn luyện kỹ năng và kiến thức cần thiết dé tái hòa nhập vào xã hội. Ngoài ra, người bị kết án cũng phải tuân thủ các quy tắc cuộc sống XHCN, tức là phải tuân thủ pháp luật và quy định của Nhà nước, có ý thức chấp hành chính sách của Đảng và đóng góp tích cực vào xã hội.
Điều này nhằm khuyến khích sự phục tùng đúng đắn của người bị kết án và khôi phục niềm tin của cộng đồng vào khả năng họ thay đổi và hòa nhập lại. Tuy nhiên, để đảm bảo hiệu quả của án treo, cần có sự quan tâm và hỗ trợ từ phía hệ thống pháp luật, các cơ quan thi hành án, cũng như các tổ chức xã hội và cộng đồng. Cần đảm bảo răng các chương trình giáo dục và cải tạo được thiết kế và triển khai một cách hiệu quả, nhằm giúp người bị kết án thực sự có cơ hội thay đôi và hòa nhập trở lại. Tóm lại, áp dụng đúng đắn các quy định về án treo có thể đem lại hiệu quả tích cực, như không buộc người bị kết án phải cách ly khỏi đời sống xã hội mà thay vào đó giúp họ nhận ra sai lầm, thay đổi và trở thành những người có ích cho xã hội, hoà nhập với cộng đồng và tuân thủ pháp luật.
Bản chất pháp lý của án treo Án treo đã được áp dụng kể từ khi những văn bản pháp luật đầu tiên về lĩnh vực Hình sự của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của Luật Hình sự Việt Nam. Sau khi BLHS Việt Nam năm 1985 được ban hành, qua thực tiễn xét xử và áp dụng có nhiều ý kiến đề nghị bỏ án treo vì cho rằng bản chất của án treo và cải tạo không giam giữ là như nhau, nhưng bản chất của cải tạo không giam giữ là hình phạt chính được quy định tại Điều 32 BLHS năm 2015 còn án treo lại mang một bản chất khác. Cho đến khi BLHS năm 2015 ra đời và có hiệu lực vẫn giữ cả hai chế định này, bởi về yếu tố phòng ngừa, án treo vẫn giữ một vị trí 11 quan trọng trong việc khuyến khích người bị kết án với sự giúp đỡ của cộng đồng và địa phương cải tạo trở thành người có ích cho xã hội. Xét về yếu tố trừng phạt, thì án treo vẫn đảm bảo được nếu người được hưởng án treo không thực hiện cải tạo tốt trong thời gian thử thách thì vẫn phải chấp hành hình phạt của bản án đã tuyên.
Phát triển qua từng giai đoạn lịch sử của Luật Hình sự ở Việt Nam cũng như trên thế giới thì ban chất pháp lý của án treo tùy thuộc vào yêu cầu dau tranh phòng chống tội phạm, chính sách hình sự và bản chất vận dụng của mỗi quốc gia. Tại Việt Nam, án treo mang bản chất là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, không phải là hình phạt. Theo quy định của các văn bản pháp luật quy định về án treo thì có thể thay một người bi phat tù được hưởng án treo khi có đủ các điều kiện như sau: bị xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vao nhân thân của người phạm tội và các TTGN, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm. Qua nội dung quy định như trên có thé hiểu rang ban chất của án treo không phải là hình phạt mà là một biện pháp không bắt người phạm tội phải chấp hành hình phạt tù mặc dù họ đã bị xử phạt tù nhưng phải chấp hành một nghĩa vụ thay thế trong thời gian thử thách.
Đồng thời, trong thời hạn thử thách nếu người được hưởng án treo vi phạm một tội mới thì Tòa án sẽ cộng dồn bản án trước và bản án sau. Hoặc trong thời 9 gian thử thách, người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ thì người đó không được hưởng án treo nữa và phải chấp hành hình phạt đã tuyên.