Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA NGHIỆP VỤ VÀ THI HÀNH ÁN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH 1. Khái quát về Tòa án nhân dân tỉnh Trong bộ máy nhà nước ta hiện nay, Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp. Luật tổ chức TAND năm 2014 đã qui định tổ chức TAND bao gồm: TAND tối cao; các TAND cấp cao; các TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; các TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; các Toà án quân sự (Điều 3 Luật tổ chức TAND năm 2014). Như vậy Tòa án nhân dân tỉnh là một bộ phận trong hệ thống tổ chức Tòa án nhân dân hiện nay.
Vị trí của Tòa án nhân dân tỉnh Tòa án nhân dân tỉnh xét xử nhân danh Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, căn cứ vào pháp luật hiện hành của nhà nước để đưa ra những phán quyết thể hiện trực tiếp ý chí của nhà nước, của nhân dân đối với từng vụ việc cụ thể. Ý chí đó được thể hiện bằng những quyết định mang tính chất pháp lý cao, đánh giá khách quan bản chất sự việc cụ thể và được thể hiện dưới hình thức là bản án hay quyết định. Như vậy, hoạt động xét xử của TAND tỉnh phản ánh một cách trực tiếp và sâu sắc bản chất của Nhà nước, ý chí của nhân dân. Thông qua hoạt động xét xử của mình, Tòa án nhân dân tỉnh thực hiện được việc kiểm tra hành pháp của các cơ quan nhà nước, quyền công dân, quyền con người thông qua hoạt động xét xử, hơn nữa là còn góp phần bảo vệ trật tự xã hội.
Trong giai đoạn hiện nay, TAND cấp tỉnh có vị trí trung tâm trong việc tổ chức, thực hiện quyền tư pháp ở cấp tỉnh, với chức năng tổ chức và tiến hành hoạt động xét xử. Đây là một trong những quan điểm cơ bản định hướng hoạt động cải cách tư pháp đã được khẳng định trong Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp nước ta đến năm 2020 và đã được Hiến pháp năm 2013 quy định tại điều 102. Chức năng của Tòa án nhân dân tỉnh Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Tòa án nhân dân gồm: Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định, là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp. Trên cơ sở các qui định nêu trên, các đạo luật về tổ chức TAND các năm 1960, 1981, 1992, 2002 và 2014 đều khẳng định chức năng xét xử của cơ quan Tòa án.
Xuất phát từ địa vị pháp lý của Tòa án, trên cơ sở các qui định của pháp luật, nhất là các qui định của các đạo luật về tổ chức Tòa án và các đạo luật về tố tụng, chúng ta có thể nhận thấy rằng, chức năng xét xử của Tòa án là chức năng xuyên suốt, thống nhất trong suốt quá trình ra đời và phát triển của Tòa án. Với tư cách là một trong các cấp của hệ thống Tòa án, TAND tỉnh có chức năng xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính thuộc thẩm quyền theo qui định của pháp luật. Bên cạnh chức năng xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền, theo qui định của pháp luật tố tụng, TAND tỉnh còn có trách nhiệm trong một số hoạt động thi hành án hình sự, hành chính. Cụ thể như việc ra quyết định thi hành án hình sự, hoãn hoặc tạm đình chỉ thi hành án phạt tù, xét giảm hình phạt hoặc thời gian thử thách của án treo, xét miễn chấp hành hình phạt, ra quyết định thi hành án và thành lập Hội đồng thi hành hình phạt tử hình; ra quyết định thi hành án hành chính.
Điểm mới theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 là thêm chức năng kiểm tra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, khi phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới theo quy định của luật tố tụng thì kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, kháng nghị. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân tỉnh Theo quy định tại Điều 37 Luật Tổ chức TAND năm 2014, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có các nhiệm vụ và quyền hạn như sau: - Sơ thẩm vụ việc theo quy định của pháp luật. - Phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật. 9 Luan van - Kiểm tra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, khi phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới theo quy định của luật tố tụng thì kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, kháng nghị.
- Giải quyết việc khác theo quy định của pháp luật. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Thẩm quyền xét xử của Tòa án là một trong các nội dung của hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động của TAND. Theo từ điển Luật học thì “thẩm quyền xét xử là sự phân định thẩm quyền xét xử các vụ án giữa các Tòa án với nhau. Việc phân định thẩm quyền xét xử căn cứ vào những dấu hiệu nhất định và tính chất của từng vụ án cụ thể; thẩm quyền xét xử theo loại việc, thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ hoặc theo địa phương, thẩm quyền xét xử theo vụ án có liên quan với nhau”.
Vấn đề thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp tỉnh là nội dung phức tạp vì nó có liên quan đến thẩm quyền xét xử đối với các vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính và các việc khác theo qui định của pháp luật qua các thời kỳ khác nhau, đáp ứng với yêu cầu của thực tiễn tư pháp. - Thẩm quyền của TAND cấp tỉnh được qui định như sau: + Điều 37 Luật Tổ chức TAND năm 2014 và khoản 2 Điều 268 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 qui định TAND cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử: Sơ thẩm những vụ việc theo quy định của pháp luật tố tụng; sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp dưới mà TAND cấp tỉnh lấy lên để xét xử; phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật. Kiểm tra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, khi phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới theo quy định của luật tố tụng thì kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, kháng nghị; và giải quyết việc khác theo quy định của pháp luật. 10 Luan van + Theo Điều 37 BLTTDS 2015, TAND cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ việc: Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của BLTTDS, trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 35 của BLTTDS; yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 27, 29, 31 và 33 của BLTTDS, trừ những yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 35 của BLTTDS; tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 3 Điều 35 của Bộ luật này.
Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại Điều 35 của BLTTDS mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh tự mình lấy lên để giải quyết khi xét thấy cần thiết hoặc theo đề nghị của Tòa án nhân dân cấp huyện. + Theo Điều 32 Luật Tố tụng hành chính 2015 thì Tòa án cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện sau đây: Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán nhà nước, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và quyết định hành chính, hành vi hành chính của người có thẩm quyền trong cơ quan đó mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án; trường hợp người khởi kiện không có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên lãnh thổ Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nơi cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, có hành vi hành chính. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan thuộc một trong các cơ quan nhà nước quy định tại khoản 1 Điều này và quyết định hành chính, hành vi hành chính của người có thẩm quyền trong cơ quan đó mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án; trường hợp người khởi kiện không có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên lãnh thổ Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nơi 11 Luan van cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, có hành vi hành chính. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước cấp tỉnh trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án và của người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước đó.
Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án.