Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm tranh tụng và tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự 1. Khái niệm tranh tụng trong tố tụng hình sự Có thể nói “tranh tụng” là kết quả, thành tựu tiến bộ của nhân loại trong việc bảo vệ quyền con người. Trong tố tụng hình sự thì đây là cơ chế hữu hiệu để đi đến chân lý trong vụ án, bảo đảm sự công bằng và minh bạch trong giải quyết vụ án hình sự.
Các nhà nghiên cứu lịch sử Nhà nước và Pháp luật thế giới chứng minh rằng tư tưởng về tranh tụng bắt nguồn từ ý tưởng của nhà triết học cổ đại nổi tiếng người Hy Lạp Plato. Ông cho rằng “bằng cách nói chuyện (đối thoại) về một điều gì đó trong một thời gian dài, một vài dấu hiệu hoặc hiểu biết sẽ xuất hiện và cả hai bên sẽ cùng nhìn ra sự thật” [16, tr. Ý tưởng này của Plato được các luật gia Hy Lạp cổ đại phát triển và xây dựng là một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS ở nhà nước Hy Lạp cổ đại. Dưới góc độ ngôn ngữ học thì, tranh tụng là “thưa kiện nhau để giành lẽ phải” [43, tr.
Như vậy, về ngôn ngữ, tranh tụng là sự kiện tụng hay cáo buộc lẫn nhau giữa các bên có lợi ích đối lập nhau. Do đó, có thể hiểu: Tranh tụng là việc các bên đưa ra quan điểm cùng với các luận cứ để bảo vệ và tranh luận với nhau, để bác bỏ một phần hoặc toàn bộ quan điểm của bên ngược lại nhằm đạt mục đích của mình. Trong khoa học luật tố tụng hình sự Việt Nam có nhiều cách hiểu khác nhau và chưa thống nhất quan điểm về tranh tụng. Quan điểm cho rằng: “Tranh tụng là quá trình tranh luận, trao đổi giữa các bên.
Trong tranh tụng, các quan điểm pháp lý khác nhau được cọ sát và chân lý khách quan xuất hiện” [14, tr. Khái niệm này tiếp cận tranh tụng 7 luan an là quá trình tranh luận giữa các quan điểm khác nhau là chưa đúng với bản chất của tranh tụng. Bởi theo tác giả, tranh tụng bên cạnh việc tranh luận còn là quá trình đấu tranh nhằm phủ định, bác bỏ lẫn nhau giữa hai quan điểm buộc tội và gỡ tội, để đi tới chân lý khách quan. Còn theo từ điển Tiếng Việt thì, tranh tụng là “Thưa kiện nhau để dành lẽ phải” [46, tr.
Tác giả Nguyễn Trương Tín có quan điểm: “Tranh tụng trong TTHS được hiểu là quá trình đối trọng bình đẳng nhằm phủ định lẫn nhau giữa chức năng buộc tội và bào chữa” [25]. Nhận xét: các khái niệm tranh tụng nêu trên đều có những yếu tố hợp lý, mặc dù còn có cách tiếp cận khác nhau nhưng các tác giả đều thống nhất ở nội hàm: tranh tụng là hoạt động tố tụng, trong đó có sự tham gia của hai chủ thể là buộc tội và gỡ tội nhằm bác bỏ quan điểm của nhau. Tuy nhiên theo tác giả, để xây dựng được khái niệm tranh tụng với đầy đủ nội hàm cần bao hàm được yếu tố chủ thể, phạm vi và cách thức thực hiện tranh tụng. Tiếp thu các quan điểm về khái niệm tranh tụng nêu trên nêu trên, dưới góc độ phân tích tranh tụng trong tố tụng hình sự, tác giả đưa ra khái niệm tranh tụng trong tố tụng hình sự như sau: Tranh tụng trong tố tụng hình sự là hoạt động nhận thức, tư duy và là hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự do các chủ thể buộc tội và gỡ tội thực hiện trên cơ sở tài liệu, chứng cứ và các kỹ năng tranh luận được thực hiện theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định nhằm bác bỏ một phần hoặc toàn bộ quan điểm của biên kia làm cơ sở để kết luận về vụ án hình sự.
Bên cạnh khái niệm về tranh tụng còn có một số khái niệm liên quan và quan hệ gần gũi, mật thiết là khái niệm về “nguyên tắc tranh tụng”, “bảo đảm nguyên tắc tranh tụng”, “tranh tụng tại phiên tòa” và “tranh tụng ngoài phiên tòa”. Theo đó, nguyên tắc tranh tụng nguyên tắc cơ bản trong tố tụng tư pháp, trong đó có TTHS, mang tính định hướng chỉ đạo hoạt động của các chủ thể 8 luan an thực hiện các giai đoạn tố tụng, là một góc độ tiếp cận của tranh tụng. Tuy nhiên, tranh tụng còn được tiếp cận dưới nhiều góc độ như là một mô hình tố tụng.Tranh tụng trong TTHS diễn ra ở mọi giai đoạn của quá trình tố tụng, tuy nhiên chỉ có thể được tiến hành đầy đủ tại phiên tòa đặc biệt là phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng (trong TTHS) là những điều kiện, cơ sở nhằm tạo điều kiện cho các bên buộc tội, gỡ tội và trách nhiệm của Tòa án trong việc tạo điều kiện cho các bên thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án.
Tranh tụng ngoài phiên tòa là hình thức có sự đấu tranh, phủ định lẫn nhau giữa các bên có chức năng, đối trọng với nhau nhưng không có sự tham gia của Tòa án (Hội đồng xét xử) như là trung gian, trọng tài cho hoạt động tranh tụng mà thay vào đó là một chủ thể khác như Hội động trọng tài. Khái niệm tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự Thứ nhất: Về khái niệm phiên tòa sơ thẩm Phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn của tố tụng hình sự, mà ở đó phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự là hình thức hoạt động xét xử lần đầu của Tòa án cấp sơ thẩm trong việc xét xử vụ án hình sự để xem xét và ra phán quyết lần đầu về toàn bộ vụ án hình sự theo trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định. Phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự cũng chính là nơi mà các chủ thể buộc tội và chủ thể gỡ tội thực hiện chức năng tố tụng của mình một cách công khai và đầy đủ nhất. Tại phiên tòa sơ thẩm thì Kiểm sát viên được phân công là người thực hiện chức năng buộc tội - thực hành quyền công tố tại phiên tòa; bị cáo và người bào chữa của họ thực hiện chức năng bào chữa theo các quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Bản chất của hoạt động xét xử tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự chính là sự kiểm tra một cách công khai tất cả các tài liệu, chứng cứ của vụ án đã được thu thập trong quá trình điều tra, thông qua kết quả tranh tụng của các chủ thể buộc tội và gỡ tội để có 9 luan an cơ sở đánh giá một cách khách quan, toàn diện về quan điểm của Cơ quan điều tra thông qua bản Kết luận điều tra và của Viện kiểm sát, thông qua Cáo trạng truy tố bị can ra trước Tòa án. Thứ hai: Về khái niệm tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự. Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự chính là sự đối trọng nhằm phủ định lẫn nhau giữa chủ thể buộc tội và chủ thể gỡ tội nhưng sự khác biệt là Tòa án mà ở đây là Hội đồng xét xử với vai trò là trọng tài điều hành phần tranh tụng của hai bên. Tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự các chủ thể buộc tội và gỡ tội thực hiện chức năng tố tụng của mình một cách công khai và đầy đủ nhất bởi đây là nơi hội tụ đầy đủ ba chức năng cơ bản của tố tụng hình sự là: Buộc tội, bào chữa và xét xử mà kết quả tranh tụng tại tòa chính là căn cứ để Hội đồng xét xử, bên buộc tội và bên bào chữa xác định sự thật vụ án được khách quan nhất.
Tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự, chức năng buộc tội trực tiếp do Kiểm sát viên, bị hại (trong trường hợp khởi tố vụ án theo yêu cầu bị hại) thực hiện. Kiểm sát viên buộc tội thông qua Cáo trạng, quá trình xét hỏi, luận tội và tranh luận với bên bào chữa. Bị hại được quyền trình bày ý kiến, đưa ra các chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Chức năng bào chữa tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự chủ yếu do bị cáo, người bào chữa, người đại diện hợp pháp của (bị cáo, pháp nhân thương mại) thực hiện.
Phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn trung tâm thể hiện đầy đủ nhất bản chất quá trình tố tụng nói chung và tranh tụng nói riêng. Do vậy, có thể hiểu: Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự là hoạt động nhận thức, tư duy và là hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự do các chủ thể buộc tội và gỡ tội thực hiện tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự, trên cơ sở tài liệu, chứng cứ và các kỹ năng tranh luận được thực hiện theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định nhằm bác bỏ một phần hoặc toàn bộ quan điểm của biên kía, dưới sự điều 10 luan an khiển, quyết định của Tòa án với vai trò trung tâm, trọng tài nhằm đi đến việc giải quyết vụ án hình sự. Đặc điểm và ý nghĩa của tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự 1. Đặc điểm của tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự Từ khái niệm nêu trên, dưới góc độ pháp lý, chúng ta có thể thấy những đặc điểm của tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự như sau: Thứ nhất, về chủ thể tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự Tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự thì bên cạnh sự xuất hiện của hai chủ thể là chủ thể buộc tội và gỡ tội thì còn có sự xuất hiện của chủ thể thứ ba là Hội đồng xét xử.
Ba chủ thể trên gắn liền với ba chức năng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là buộc tội, bào chữa (gỡ tội) và xét xử do các chủ thể có địa vị pháp lý khác nhau thực hiện. - Nhóm chủ thể có chức năng tranh tụng gồm: Chủ thể chính là bên buộc tội và bên gỡ tội. + Chủ thể thực hiện chức năng buộc tội: Viện kiểm sát (đại diện là Kiểm sát viên), thực hành quyền công tố tại phiên tòa để nhân danh Nhà nước buộc tội bị cáo tại phiên tòa.