Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học "Quyền hưởng dụng theo pháp luật Việt Nam" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Phương Hải thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (chuyên ngành Luật dân sự và Tố tụng dân sự, mã số: 9 38 01 03), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Thị Huệ và TS. Nguyễn Minh Tuấn, hoàn thành vào năm 2025.
-
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Trong hệ thống luật tư, bên cạnh quyền sở hữu đóng vai trò trung tâm, các quyền khác trên tài sản (quyền hưởng dụng, quyền bề mặt, quyền đối với bất động sản liền kề) giữ vị trí quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu khai thác, hưởng lợi từ tài sản trong điều kiện nguồn tài nguyên ngày càng khan hiếm. Bộ luật Dân sự năm 2015 đã chính thức ghi nhận quyền hưởng dụng từ Điều 257 đến Điều 266, đánh dấu bước tiếp cận thông lệ quốc tế và thừa nhận quyền hưởng dụng là một vật quyền tách ra khỏi quyền sở hữu. Tuy nhiên, các quy định này còn mang tính khái quát cao, thiếu các quy định cụ thể dẫn đến khó khăn và bất đồng trong áp dụng thực tiễn. Khái niệm tại Điều 257 chưa làm rõ bản chất vật quyền và khó phân biệt với quan hệ trái quyền trong hợp đồng thuê, mượn tài sản; cấu trúc quy định còn chồng chéo giữa các điều luật; mô hình tiếp cận lý thuyết vật quyền chưa được vận dụng triệt để. Đồng thời, dù có các điều khoản dẫn chiếu, các đạo luật chuyên ngành mới ban hành (Luật Đất đai năm 2024, Luật Nhà ở năm 2023, Luật Doanh nghiệp năm 2020) vẫn thiếu vắng quy định về quyền hưởng dụng. Luận án lựa chọn nghiên cứu đề tài này nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu toàn diện, xuyên suốt từ bình diện lý luận, chuẩn mực chế định đến đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn xét xử tranh chấp tại Việt Nam.
-
Mục tiêu nghiên cứu: Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về quyền hưởng dụng; phân tích, bình luận, đánh giá các quy định trong pháp luật dân sự hiện hành cùng thực tiễn áp dụng nhằm chỉ ra hạn chế, bất cập; từ đó đề xuất phương hướng và hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền hưởng dụng.
-
Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 4 nhiệm vụ được đánh số theo văn bản):
- Xác định đúng những vấn đề lý luận về quyền hưởng dụng để nghiên cứu, nhất là xác định bản chất pháp lý của quyền hưởng dụng và các học thuyết pháp lý liên quan đến quyền hưởng dụng.
- Phân tích, bình luận, đánh giá các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành về quyền hưởng dụng.
- Xác định những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành từ mô hình lý thuyết tiếp cận đến các quy định cụ thể về quyền hưởng dụng, tạo ra tiền đề trong việc đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền hưởng dụng.
- Phân tích về thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật Việt Nam về quyền hưởng dụng để đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về mô hình lý thuyết tiếp cận, cấu trúc của pháp luật và các quy định cụ thể về quyền hưởng dụng nhằm đảm bảo việc thực hiện tốt hơn quyền năng của chủ thể hưởng dụng.
-
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu:
- Câu hỏi nghiên cứu chung: Mô hình lý luận mà Việt Nam tiếp cận trong việc xây dựng chế định quyền hưởng dụng là gì? Thực trạng quy định về quyền hưởng dụng trong pháp luật Việt Nam có bất cập gì và làm thế nào để khắc phục những bất cập đó?
- Giả thuyết nghiên cứu chung: Việt Nam đã tiếp cận lý thuyết vật quyền trong việc xây dựng quy định về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản nói chung và chế định quyền hưởng dụng nói riêng. Tuy nhiên, việc tiếp cận lý thuyết vật quyền ở Việt Nam chưa thực sự triệt để, những nền tảng giá trị cốt lõi của lý thuyết vật quyền vẫn chưa thực sự được thể hiện rõ nét trong cấu trúc cũng như một số quy định của chế định quyền hưởng dụng. Do đó, về cấu trúc cũng như thực trạng một số quy định của chế định quyền hưởng dụng trong pháp luật Việt Nam còn bất cập và cần có giải pháp đồng bộ để khắc phục.
- Các câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu cụ thể:
- Về nghiên cứu lý luận: Câu hỏi về khái niệm, bản chất, đặc điểm pháp lý và các yếu tố cấu thành cấu trúc quyền hưởng dụng dưới góc độ một chế định pháp luật; giả thuyết cho rằng lý luận về quyền hưởng dụng chưa được diễn giải đầy đủ tại Việt Nam và mô hình lý luận vật quyền chưa được tiếp cận triệt để.
- Về nghiên cứu thực trạng pháp luật: Câu hỏi về cấu trúc và những hạn chế, bất cập của chế định quyền hưởng dụng trong pháp luật hiện hành; giả thuyết cho rằng cấu trúc chế định chưa thực sự khoa học và còn tồn tại nhiều điểm bất cập cụ thể.
- Về thực tiễn áp dụng và kiến nghị: Câu hỏi về thực trạng áp dụng trên thực tiễn và các nội dung kiến nghị hoàn thiện; giả thuyết cho rằng thực tiễn áp dụng còn nhiều hạn chế, đòi hỏi hoàn thiện đồng bộ từ lý thuyết tiếp cận, cấu trúc hệ thống đến quy định chi tiết.
-
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống các lý thuyết pháp lý điển hình trên thế giới ảnh hưởng đến việc xây dựng pháp luật về quyền hưởng dụng; các quy phạm pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền hưởng dụng; thực tiễn áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền hưởng dụng; các quan điểm khoa học đã công bố trong và ngoài nước.
- Phạm vi nghiên cứu: Về nội dung, luận án tập trung nghiên cứu quyền hưởng dụng dưới góc độ một chế định pháp luật được quy định chủ yếu trong Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản liên quan. Về thực tiễn áp dụng, luận án nghiên cứu các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân các cấp trên phạm vi toàn quốc từ thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực (01/01/2017) đến thời điểm nghiên cứu (năm 2025).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã phân loại, tổng thuật và đánh giá hệ thống các công trình nghiên cứu khoa học đã công bố trong nước và quốc tế theo các nhóm nguồn tư liệu:
TỔNG QUAN NGUỒN TÀI LIỆU THAM KHẢO CỦA LUẬN ÁN
Pavel Petr - Ondřej Horák - Petr Dostalík (2018), Wesley Newcomb Hohfeld, AM Honore,
Harold Demsetz, Anatoly Vasilievich Venediktov (1948), Laura Solidoro Maruotti (2004),
Vyacheslav Aleksandrovich Savelyev, Boris A. Antonov, Sirotkin Aleksey Gennadievich,
Matsakyan Goar Surenovna (2018), Pobedonostsev K., Mytsyk Galina Yuryevna, J. Hansenne (1996), J. Baron
-
Các hướng nghiên cứu trước đây:
- Về khái niệm và bản chất quyền hưởng dụng: Tiếp cận theo nghĩa khách quan (tập hợp quy phạm điều chỉnh quan hệ chiếm hữu, sử dụng, hưởng hoa lợi lợi tức trên tài sản của người khác và bảo quản bản chất vật - Victor Volcinschi, Violeta Chisilița, Boris A. Antonov, Dương Đăng Huệ) hoặc theo nghĩa chủ quan. Ở nghĩa chủ quan, tồn tại hai luồng quan điểm: (i) coi quyền hưởng dụng là vật quyền hạn chế trên tài sản của người khác (Ngô Huy Cương, Victor Volcinschi, Violeta Chisilița, Sirotkin Aleksey Gennadievich, Trần Thị Cẩm Nhung, Lê Đăng Khoa); (ii) tiếp cận theo lý thuyết sở hữu hạn chế hoặc "bó quyền" (A bundle of rights của Wesley Newcomb Hohfeld, AM Honore với 11 yếu tố của quyền sở hữu, Lawrence C. Becker, Harold Demsetz, E. Tyagay) và lý thuyết sở hữu kép / phân chia tài sản theo chiều dọc (Anatoly Vasilievich Venediktov, Laura Solidoro Maruotti, Vyacheslav Aleksandrovich Savelyev).
- Về đối tượng của quyền hưởng dụng: Tranh luận giữa quan điểm giới hạn đối tượng chỉ là vật không tiêu hao (Nguyễn Minh Tuấn, Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ, Lê Đăng Khoa) và quan điểm mở rộng sang mọi tài sản bao gồm cả tài sản tiêu hao và quyền tài sản thông qua cơ chế chuẩn hưởng dụng - quasi ususfructus (Pobedonostsev K., Matsakyan Goar Surenovna, Violeta Chisilița, A. Yiannopoulos, Mytsyk Galina Yuryevna, Ngô Huy Cương, Phùng Trung Tập, Đỗ Văn Đại, Nguyễn Nhật Thanh, Nguyễn Thanh Phúc).
- Về căn cứ xác lập, thực hiện và chấm dứt: Đánh giá các căn cứ xác lập theo hành vi pháp lý, theo luật định hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền; phân tích các bất cập về kỹ thuật lập pháp tại các điều luật cụ thể của Bộ luật Dân sự năm 2015 như sự trùng lặp giữa khoản 2 Điều 260 và khoản 3 Điều 261, sự phân tán giữa khoản 1 Điều 261 và Điều 264 (Nguyễn Thanh Phúc, Đặng Thị Thu Phương, Nguyễn Minh Oanh, Nguyễn Thị Hường); thủ tục truất quyền hưởng dụng theo khoản 6 Điều 265 và giải quyết hậu quả pháp lý hoàn trả tài sản tại Điều 266 (Nguyễn Thị Thúy, Lê Minh Khoa).
-
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình trước đây chỉ tiếp cận tản mạn theo từng quy định của luật thực định hoặc phân tích luật học so sánh đơn lẻ mà chưa xây dựng được khung lý thuyết hoàn chỉnh về cấu trúc của quyền hưởng dụng với tư cách là một chế định pháp luật độc lập thuộc luật tài sản. Luận án chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách: (1) Luận giải và xác lập cấu trúc lý thuyết 6 thành tố của chế định quyền hưởng dụng; (2) Làm rõ bản chất vật quyền hạn chế của quyền hưởng dụng độc lập với quyền sở hữu trên cơ sở học thuyết vật quyền; (3) Khảo sát thực trạng quy định và thực tiễn xét xử tranh chấp tại Tòa án các cấp từ năm 2017 đến năm 2025; (4) Đề xuất hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật đồng bộ từ mô hình lý thuyết tiếp cận, cấu trúc luật thực định đến sửa đổi các điều luật cụ thể và liên thông với các luật chuyên ngành.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
-
Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, bám sát các quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ quyền sở hữu, quyền tài sản.
-
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng:
- Học thuyết vật quyền (Jura in re aliena): Tiếp cận quyền hưởng dụng có nguồn gốc từ Luật La Mã cổ đại (ususfructus est ius alienis rebus utendi fruendi, salva rerum substantia theo định nghĩa của luật gia Paul), là một vật quyền hạn chế (vật quyền trên tài sản của người khác), có tính tuyệt đối, gắn liền với người hưởng dụng (dịch quyền cá nhân / vật quyền theo người), mang tính tạm thời và có tính bảo toàn bản chất vật.
- Học thuyết sở hữu kép và lý thuyết bó quyền: Luận án đối sánh với lý thuyết "A bundle of rights" trong Thông luật (Wesley Newcomb Hohfeld, AM Honore) và lý thuyết sở hữu kép phân chia theo chiều dọc (Anatoly Vasilievich Venediktov) để chứng minh tính phù hợp của mô hình vật quyền đối với hệ thống pháp luật Việt Nam.
- Khung cấu trúc chế định pháp luật về quyền hưởng dụng: Gồm 6 nhóm nội dung: (1) Khái niệm quyền hưởng dụng; (2) Đối tượng của quyền hưởng dụng; (3) Căn cứ xác lập quyền hưởng dụng; (4) Hiệu lực của quyền hưởng dụng; (5) Nội dung quyền hưởng dụng; (6) Căn cứ chấm dứt và hệ quả pháp lý khi chấm dứt quyền hưởng dụng.
-
Phương pháp nghiên cứu: Luận án thuộc hướng nghiên cứu định tính trong khoa học pháp lý, kết hợp các phương pháp cụ thể:
- Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu nguồn gốc quyền hưởng dụng từ Luật La Mã và quá trình tiếp nhận qua các thời kỳ lịch sử pháp luật Việt Nam (Bộ Dân luật Bắc Kỳ 1931, Bộ Dân luật Trung Kỳ 1936, Bộ Dân luật 1972 của Việt Nam Cộng hòa).
- Phương pháp so sánh luật học: Đối sánh các quy định về quyền hưởng dụng giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức, Liên bang Nga, Romania, Cộng hòa Moldova và Hoa Kỳ.
- Phương pháp thống kê: Thống kê, hệ thống hóa các công trình khoa học trong Tổng quan tình hình nghiên cứu và rà soát các bản án, quyết định giải quyết tranh chấp của Tòa án các cấp.
- Phương pháp phân tích, quy nạp, diễn giải: Áp dụng xuyên suốt các chương để phân tích quy phạm thực định, đánh giá bất cập và luận giải các kiến nghị sửa đổi luật.
- Phương pháp giả định, phân tích tình huống: Phân tích các tình huống thực tiễn xét xử liên quan đến việc định đoạt tài sản trong quan hệ tặng cho, di chúc và tranh chấp quyền khai thác hoa lợi, lợi tức.
-
Nguồn tư liệu và dữ liệu: Văn bản quy phạm pháp luật thực định của Việt Nam (Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Đất đai năm 2024, Luật Nhà ở năm 2023, Luật Doanh nghiệp năm 2020...); các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nhân dân các cấp được tập hợp tại Phụ lục số 2; hệ thống sách chuyên khảo, đề tài khoa học và bài báo chuyên ngành trong và ngoài nước được lập danh mục tại Phụ lục số 1.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền hưởng dụng
Chương 1 xây dựng nền tảng lý luận về quyền hưởng dụng, tập trung vào các nội dung chính:
| Nội dung lý luận | Luận điểm và phát hiện trọng tâm trong Chương 1 |
|---|---|
| Khái niệm quyền hưởng dụng | Phân tích quyền hưởng dụng dưới hai giác độ: (1) Nghĩa khách quan: là một chế định pháp luật thuộc luật tài sản; (2) Nghĩa chủ quan: là quyền dân sự chủ quan của chủ thể được trực tiếp chiếm hữu, sử dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản thuộc sở hữu của chủ thể khác theo quy định của luật hoặc theo thỏa thuận. Kế thừa định nghĩa gốc của luật gia La Mã Paul (ususfructus), Bộ luật Dân sự Pháp (Điều 578) và quan điểm của J. Hansenne. |
| Đặc điểm pháp lý | Xác định 5 đặc điểm cốt lõi: (i) Là quyền trên tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác; (ii) Là một vật quyền có tính tuyệt đối và chi phối trực tiếp; (iii) Là dịch quyền gắn người (vật quyền theo người), gắn liền với nhân thân chủ thể hưởng dụng; (iv) Là quyền có thời hạn tạm thời; (v) Đi liền với nghĩa vụ bảo toàn bản chất hoặc giá trị của tài sản. |
| Bản chất pháp lý | Luận giải và khẳng định quyền hưởng dụng có bản chất là một vật quyền hạn chế (vật quyền trên tài sản của người khác), độc lập với quyền sở hữu, bác bỏ cách nhìn nhận quyền hưởng dụng là một dạng quyền sở hữu hạn chế hoặc quan hệ trái quyền đơn thuần. |
| Cơ sở lý thuyết | Phân tích sâu Học thuyết vật quyền và đối sánh với Học thuyết sở hữu kép. Khẳng định việc lựa chọn lý thuyết vật quyền phù hợp với truyền thống pháp luật thành văn (Romano-Germanic) của Việt Nam. |
| Cấu trúc chế định pháp luật | Xác lập khung lý thuyết gồm 6 thành tố: Khái niệm; Đối tượng; Căn cứ xác lập; Hiệu lực; Nội dung quyền; Căn cứ chấm dứt và hệ quả pháp lý khi chấm dứt. |
Chương 2: Thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền hưởng dụng
Chương 2 phân tích, đối chiếu toàn bộ các quy định từ Điều 257 đến Điều 266 của Bộ luật Dân sự năm 2015 theo khung cấu trúc đã xây dựng, chỉ rõ các điểm tích cực và hạn chế, bất cập:
- Các kết quả quy định thực định: Bộ luật Dân sự năm 2015 lần đầu tiên quy định quyền hưởng dụng như một loại "quyền khác đối với tài sản", xác định phạm vi quyền hưởng dụng, thời hạn, căn cứ xác lập theo thỏa thuận, di chúc hoặc luật định, quyền và nghĩa vụ của các bên, cũng như căn cứ chấm dứt và nghĩa vụ hoàn trả tài sản.
- Những hạn chế, bất cập về mô hình lý thuyết và cấu trúc lập pháp:
- Mô hình tiếp cận thiếu triệt để: Quy định về nội dung quyền hưởng dụng vẫn được thiết kế theo tư duy "quyền" và "nghĩa vụ" tương hỗ giữa người hưởng dụng và chủ sở hữu, mang nặng dáng dấp của quan hệ trái quyền (hợp đồng thuê, mượn) thay vì thể hiện tính chi phối trực tiếp, tuyệt đối của một vật quyền.
- Sự thiếu kết nối với các luật chuyên ngành: Các quy định dẫn chiếu sang luật chuyên ngành không phát huy được hiệu lực do Luật Đất đai năm 2024, Luật Nhà ở năm 2023, Luật Doanh nghiệp năm 2020 không quy định cụ thể về việc đăng ký, thực hiện quyền hưởng dụng đối với quyền sử dụng đất, nhà ở hay phần vốn góp/cổ phần.
- Những bất cập cụ thể trong các điều luật:
- Điều 257 (Khái niệm): Chưa nêu rõ bản chất vật quyền và tính chất "vật quyền theo người", dễ gây nhầm lẫn với quyền khai thác sử dụng của bên thuê tài sản.
- Điều 258 (Đối tượng): Chưa làm rõ đối tượng quyền hưởng dụng có bao gồm tài sản tiêu hao hay quyền tài sản (chứng khoán, cổ phần, quyền sở hữu trí tuệ) hay không, dẫn đến khoảng trống pháp lý đối với cơ chế quasi ususfructus.
- Sự chồng chéo giữa Điều 260 và Điều 261: Khoản 2 Điều 260 quy định về quyền cho thuê quyền hưởng dụng nằm trong điều luật có tiêu đề "Thời hạn của quyền hưởng dụng", vừa sai lệch về mặt cấu trúc điều luật vừa trùng lặp với khoản 3 Điều 261.
- Sự trùng lặp giữa Điều 261 và Điều 264: Quyền thu hoa lợi, lợi tức đã được quy định tại khoản 1 Điều 261 nhưng lại được quy định lặp lại riêng tại Điều 264.
- Khoản 6 Điều 265 và Điều 266 (Chấm dứt và hệ quả pháp lý): Quy định về truất quyền hưởng dụng chưa xác định rõ Tòa án giải quyết theo thủ tục vụ án hay việc dân sự; Điều 266 quy định về hoàn trả tài sản quá sơ lược, chưa bao quát cơ chế thanh toán chi phí bảo dưỡng, cải tạo hoặc xử lý hoa lợi chưa thu hoạch.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về quyền hưởng dụng
Chương 3 tập trung đánh giá thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân các cấp và đưa ra các đề xuất hoàn thiện:
- Thực tiễn áp dụng pháp luật:
- Kết quả tích cực: Tòa án đã bước đầu áp dụng các quy định về quyền hưởng dụng hoặc nguyên tắc tương tự để giải quyết thỏa đáng các tranh chấp thực tế liên quan đến giao dịch tặng cho bất động sản cho con nhưng hạn chế quyền định đoạt để cha mẹ được tiếp tục ở và hưởng dụng, hoặc di chúc để lại tài sản cho con kèm điều kiện cho người thân khác được quyền hưởng hoa lợi, lợi tức suốt đời.
- Những vướng mắc, hạn chế: Do quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 còn sơ sài và thiếu cơ chế đăng ký công khai quyền hưởng dụng đối với bất động sản, cơ quan tiến hành tố tụng gặp khó khăn trong việc phân định giữa quyền hưởng dụng với quyền sử dụng phái sinh từ hợp đồng mượn/thuê; thiếu căn cứ xử lý tranh chấp khi chủ sở hữu tự ý định đoạt tài sản cho người thứ ba ngay trong thời hạn hưởng dụng.
- Hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
HỆ THỐNG KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN HƯỞNG DỤNG
Kết quả và những đóng góp mới
-
Những đóng góp mới về mặt lý luận:
- Luận án là công trình nghiên cứu ở cấp độ tiến sĩ đầu tiên nghiên cứu một cách độc lập, có hệ thống và toàn diện về quyền hưởng dụng dưới góc độ là một chế định pháp luật trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam.
- Tổng thuật, đánh giá có hệ thống các công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước, chỉ rõ những khoảng trống lý luận cần tiếp tục giải quyết.
- Xây dựng và luận giải khái niệm quyền hưởng dụng ở cả hai giác độ: chế định pháp luật khách quan và quyền dân sự chủ quan; xác định rõ 5 đặc điểm pháp lý cơ bản của quyền hưởng dụng.
- Phân tích và khẳng định bản chất pháp lý của quyền hưởng dụng là một vật quyền hạn chế (vật quyền trên tài sản của người khác) trong hệ thống vật quyền, làm rõ mối quan hệ giữa quyền hưởng dụng và quyền sở hữu.
- Xây dựng hoàn chỉnh khung cấu trúc lý thuyết của chế định pháp luật về quyền hưởng dụng gồm 6 nhóm nội dung cơ bản, tạo chuẩn mực đối chiếu với pháp luật thực định.
-
Những đóng góp mới về mặt thực tiễn và kiến nghị lập pháp:
- Phân tích toàn diện thực trạng các quy định từ Điều 257 đến Điều 266 Bộ luật Dân sự năm 2015, chỉ rõ các hạn chế về mô hình lý thuyết tiếp cận, cấu trúc điều luật và kỹ thuật lập pháp.
- Khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật tại Tòa án nhân dân các cấp từ năm 2017 đến năm 2025, nhận diện các vướng mắc trong xét xử tranh chấp quyền hưởng dụng.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ: đổi mới mô hình lý thuyết tiếp cận theo hướng vật quyền triệt để; sửa đổi cụ thể các điều khoản trong Bộ luật Dân sự năm 2015 (sửa Điều 257, bãi bỏ khoản 2 Điều 260, hợp nhất Điều 264 vào Điều 261, làm rõ thủ tục giải quyết vụ án đối với khoản 6 Điều 265, hoàn thiện Điều 266); bổ sung cơ chế đăng ký quyền hưởng dụng đối với bất động sản; đồng bộ hóa quy định quyền hưởng dụng vào Luật Đất đai năm 2024, Luật Nhà ở năm 2023 và Luật Doanh nghiệp năm 2020.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
-
Hạn chế: Theo giới hạn phạm vi nghiên cứu được tác giả xác định, luận án chỉ tập trung làm sáng tỏ quyền hưởng dụng dưới góc độ là một chế định pháp luật trong Bộ luật Dân sự năm 2015 và các đạo luật liên quan trực tiếp, gắn với các bản án dân sự của Tòa án nhân dân các cấp từ khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực đến năm 2025. Do đó, luận án chưa đi sâu phân tích chi tiết việc áp dụng quyền hưởng dụng đối với các loại tài sản tài chính phi truyền thống, tài sản vô hình phức tạp hoặc các dạng tài sản mới phát sinh trong nền kinh tế số mà luật chuyên ngành chưa ghi nhận.
-
Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục nghiên cứu mở rộng cơ chế xác lập và thực thi quyền hưởng dụng đối với các đối tượng tài sản đặc thù như cổ phần, phần vốn góp doanh nghiệp, quyền sở hữu trí tuệ, các quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng và tài sản số khi khung pháp luật chuyên ngành được ban hành, bổ sung.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên luật: Luận án cung cấp tài liệu tham khảo có hệ thống về học thuyết vật quyền, lịch sử phát triển của quyền hưởng dụng từ Luật La Mã đến pháp luật hiện đại, cùng khung lý thuyết phân tích chế định quyền hưởng dụng.
- Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo luật: Là tài liệu phục vụ giảng dạy các học phần Luật Dân sự, Luật Tài sản, Kỹ năng giải quyết tranh chấp dân sự và Luật So sánh tại các cơ sở đào tạo cử nhân, thạc sĩ luật học trên cả nước.
- Đối với cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn phục vụ quá trình rà soát, sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng như việc đồng bộ hóa các quy định về quyền hưởng dụng trong Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Doanh nghiệp.
- Đối với Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư: Cung cấp tài liệu tham khảo hữu ích trong việc nhận diện bản chất quan hệ pháp luật, phân biệt quyền hưởng dụng với quan hệ trái quyền (thuê, mượn) để áp dụng đúng pháp luật trong giải quyết các vụ án tranh chấp tài sản, thừa kế và giao dịch tặng cho có điều kiện.
Câu hỏi thường gặp
-
Câu hỏi 1: Luận án xác định bản chất pháp lý của quyền hưởng dụng là gì?
- Trả lời: Luận án khẳng định bản chất pháp lý của quyền hưởng dụng là một vật quyền hạn chế (vật quyền trên tài sản của chủ thể khác), có tính chi phối trực tiếp và tuyệt đối đối với tài sản, gắn liền với nhân thân người hưởng dụng (dịch quyền cá nhân / vật quyền theo người), độc lập với quyền sở hữu của chủ sở hữu tài sản. Luận án bác bỏ quan điểm coi quyền hưởng dụng là quyền sở hữu hạn chế hoặc chỉ là một dạng quan hệ trái quyền theo hợp đồng.
-
Câu hỏi 2: Cấu trúc của chế định pháp luật về quyền hưởng dụng theo khung lý thuyết của luận án gồm những nội dung nào?
- Trả lời: Luận án xây dựng khung cấu trúc chế định pháp luật về quyền hưởng dụng gồm 6 nhóm nội dung cơ bản: (1) Khái niệm quyền hưởng dụng; (2) Đối tượng của quyền hưởng dụng; (3) Căn cứ xác lập quyền hưởng dụng; (4) Hiệu lực của quyền hưởng dụng; (5) Nội dung quyền hưởng dụng; (6) Căn cứ chấm dứt quyền hưởng dụng và hệ quả pháp lý khi chấm dứt quyền hưởng dụng.
-
Câu hỏi 3: Luận án chỉ ra những điểm chồng chéo, bất hợp lý nào trong các điều khoản về quyền hưởng dụng của Bộ luật Dân sự năm 2015?
- Trả lời: Luận án chỉ rõ hai điểm chồng chéo nổi bật: Thứ nhất, quyền cho thuê quyền hưởng dụng vừa được quy định tại khoản 2 Điều 260 (trong điều luật về thời hạn), vừa được quy định tại khoản 3 Điều 261 (về quyền của người hưởng dụng). Thứ hai, quyền hưởng hoa lợi, lợi tức đã được quy định tại khoản 1 Điều 261 nhưng lại được quy định lặp lại thành một điều riêng tại Điều 264.
-
Câu hỏi 4: Về đối tượng của quyền hưởng dụng, luận án giải quyết tranh luận khoa học giữa tài sản không tiêu hao và tài sản tiêu hao như thế nào?
- Trả lời: Luận án phân tích lịch sử Luật La Mã và luật so sánh để chỉ ra rằng ban đầu quyền hưởng dụng chỉ áp dụng cho vật không tiêu hao nhằm giữ nguyên bản chất vật chất (salva rerum substantia), nhưng sau đó đã phát triển mở rộng sang cả tài sản tiêu hao và quyền tài sản thông qua cơ chế chuẩn hưởng dụng (quasi ususfructus). Từ đó, luận án kiến nghị pháp luật Việt Nam cần mở rộng và quy định rõ cơ chế chuẩn hưởng dụng với nghĩa vụ hoàn trả vật cùng loại hoặc giá trị tương ứng khi chấm dứt hưởng dụng.
-
Câu hỏi 5: Luận án đề xuất giải quyết thủ tục truất quyền hưởng dụng quy định tại khoản 6 Điều 265 Bộ luật Dân sự năm 2015 như thế nào?
- Trả lời: Luận án kiến nghị cần quy định rõ thủ tục truất quyền hưởng dụng của người hưởng dụng vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ phải được Tòa án thụ lý và giải quyết theo trình tự giải quyết vụ án dân sự (thay vì thủ tục giải quyết việc dân sự), nhằm bảo đảm đầy đủ nguyên tắc tranh tụng và quyền tự bảo vệ của các đương sự.
Kết luận
Luận án tiến sĩ luật học "Quyền hưởng dụng theo pháp luật Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Phương Hải là công trình khoa học nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về quyền hưởng dụng dưới góc độ một chế định pháp luật độc lập thuộc luật tài sản. Luận án đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận dựa trên học thuyết vật quyền, xác lập khung cấu trúc 6 thành tố lý thuyết và phân tích sâu sắc các bất cập trong Bộ luật Dân sự năm 2015 cùng thực tiễn xét xử giai đoạn 2017–2025. Các phát hiện và kiến nghị sửa đổi quy định cụ thể, bổ sung cơ chế đăng ký và đồng bộ hóa với luật chuyên ngành có giá trị khoa học và thực tiễn phục vụ công tác đào tạo, áp dụng pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam.