Chương 1. Lý luận chung về vật quyền Chương 2. Quyền sở hữu — Vật quyền gốc trong hệ thống các vật quyền Chương 3. Các vật quyền khai thác lợi ích từ tài sản của người khác Chương 4.
Các Vật quyền bảo đảm Chương 5. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vật quyền PHAN TÓM LƯỢC TONG QUAN VE TÌNH HÌNH NGHIÊN CUU Tổng quan tình hình nghiên cứu được trình bày theo các nội dung cụ thé tại Phụ lục 2. Trong Phụ lục 2, nghiên cứu sinh trình bày cụ thé và chi tiết về Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến dé tài. Nội dung của Phần Tổng quan này gồm 3 phan cụ thể: (1) Phần 1 — nêu rõ các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu; (2) Phan 2 — Đánh giá các công trình liên quan đến dé tài nghiên cứu theo từng van đề ma Luận án cần nghiên cứu; (3) Phần 3 — Nêu rõ các vấn đề mà nghiên cứu sinh cần nghiên cứu tiếp tục và những van dé mới mà Luận án nghiên cứu chỉ ro.
Trong phần tóm lược tổng quan tình hình nghiên cứu, nghiên cứu sinh trình bày tóm tắt những nội dung liên quan đến việc đánh giá các công trình nghiên cứu, đưa ra câu hỏi nghiên cứu, giải thiết nghiên cứu và đưa ra định hướng nghiên cứu mới của Luận án. Đánh giá về các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án 1. Đánh giá các công trình nghiên cứu liên quan đến những van đề chung về vật quyền Bài viết “Sự cần thiết của việc xây dựng chế định vật quyén và trái quyén trong luật dân sự” đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 23/ 2010 và bài viết “Lợi ích của việc xây dựng chế định vật quyên đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật tài sản” đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 2+3/ 2011 của cùng tác giả Nguyễn Ngọc Điện cũng đã phân tích về khái niệm vật quyền và nêu ra những đặc điểm cơ bản của nó. Tác giả đã nêu lên quan niệm về vật quyền được hiểu là quyền được chủ thể (người có quyền) thực hiện trực tiếp và tức thì trên một vật mà không cần vai trò trung gian của người khác.TS Dương Đăng Huệ đã nêu ra khái niệm về vật quyền cần được hiểu dưới hai góc độ chủ quan và khách quan.
Dưới góc độ chủ quan, vat quyền là quyền của một chủ thé nhất định đối với một tài sản nhất định, cho phép chủ thể nay trực tiếp thực hiện các quyên năng được pháp luật thừa nhận đối với tài sản đó. Theo nghĩa này, vật quyên là quyên đối vật, khác với trái quyên là quyên của một người yêu câu một người khác thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi nhất định (quyên đối nhân). Dưới góc độ khách quan thi vật guyễn là toàn bộ các quy phạm pháp luật quy định về vật với tư cách 'Duong Đăng Huệ (2015), “Nên sử dụng khái niệm vật quyền trong Bộ luật dân sự”, Nghiên cứu lập pháp, số 13 (293), tr. là đối tượng của vật quyên, về các loại vật quyên và nội dung của từng loại vật quyên, về căn cứ phát sinh, cham dứt các loại vật quyên, nguyên tắc thực hiện, bảo vệ vật quyên, vê các hạn chế mà người có vật quyên phải tuân thủ khi thực hiện các quyển năng của mình.
Bài viết “Áp dung nguyên tắc vật quyên nhằm khắc phục những hạn chế của chế định tài sản và quyên sở hữu trong Bộ luật Dân sự” của tác giả Vũ Thị Hồng Yến trên tạp chí Luật học, số đặc biệt, năm 2015 cũng đề cập chung đến lý luận về vật quyên. Bài viết đưa ra các nguyên tắc của chủ thuyết vật quyền: nguyên tắc luật định; nguyên tắc tuyệt đối; nguyên tắc công khai; nguyên tắc tin cậy; nguyên tắc trừu tượng tách biệt. Tác giả đã phân tích khá cụ thé về các nguyên tắc trên của vật quyên. Bài viết “Ché định vật quyên và vấn dé sửa đổi phan “tài sản và quyên sở hữu” trong BLDS năm 2005 của Việt Nam” của TS.
Hoàng Thị Thúy Hằng đăng trên tạp chí luật học số 4/ 2013 cũng đã tiếp cận vật quyền với các nguyên tắc nêu trên. Đồng thời, tác giả còn nêu lên đặc trưng của các vật quyền: quyền ưu tiên giữa các vật quyền; quyền ưu tiên đối với trái quyền; quyền theo đuổi; quyền yêu cầu mang tính vật quyền”. Đây là những gợi mở có giá trị trong việc xây dựng các vật quyền và sửa đổi, bổ sung BLDS năm 2005. Kết luận: Các công trình nghiên cứu về lý luận của vật quyền nêu trên bước đầu đã khái quát tiếp cận về khái niệm vật quyền, làm rõ tính chất, nguyên tắc của vật quyên, đưa ra các loại vật quyền nhưng chưa thật sự đưa ra được khái niệm chung về vật quyên, chưa nghiên cứu làm rõ được hệ thống các nguyên tắc của vật quyền, chưa đưa ra cách thức phân loại các vật quyền theo tiêu chí phù hợp nhất.
Van dé này còn nhiều quan điểm khác nhau về việc phân định các loại vật quyền, chưa tìm ra được mối liên hệ cụ thể giữa các vật quyền với nhau. Đánh giá các công trình liên quan đến quyền sở hữu 1. Khái niệm quyén sở hữu Luận án tiến sĩ “Quyên sở hữu của cá nhân và phương thức bảo vệ” của tác giả Hoàng Ngọc Thỉnh (Đại học Luật Hà Nội, 2001) đã nghiên cứu rất cụ thể về quyền SỞ hữu của cá nhân. Tác giả đã đưa ra được khái niệm quyền sở hữu dưới một số góc độ nhất định.
Tác giả đã khăng định: “Quyên sở hữu là một phạm trù pháp lý, phản ánh các “Duong Đăng Huệ (2015), tldd, tr. a "Hoang Thi Thuy Hang (2013), “Chê định vật quyên và van đê sửa đôi phân “tài san và quyên so hitu”trong BLDS 2005 của Việt Nam”, Luật học, sô 4, tr. 10 quan hệ sở hữu trong một chế độ xã hội nhất định, là tổng hợp các qui phạm pháp luật diéu chỉnh các quan hệ sở hữu trong xã hội. Các quy phạm pháp luật về sở hữu xác nhận, qui định và bảo vệ các quyền lợi của các chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng, định Nà 2 4 đoạt tài sản”.
Luận án Phó tiến sỹ khoa học (1996) “Quyên sở hữu của công dân ở Việt Nam” của tác giả Hà Thị Mai Hiên đã nêu lên những quan điểm về quyền sở hữu. Tác giả đã đi nghiên cứu về quyền sở hữu và từ đó nghiên cứu về quyền sở hữu của công dân Việt Nam. Theo tác giả, chế định quyền sở hữu cần được xác định rõ thông qua các khách thé của quyền sở hữu. Tác giả khang định: “tat cả những diéu đó chứng tỏ sự lỗi thời và không thể tiếp tục sự quan niệm nội dung quyên sở hữu với ba quyên năng như trước đây”.
Tác giả nêu lên các quan điểm khác nhau về quyền sở hữu. Theo đó, quan niệm về quyền sở hữu được nhìn nhận theo 3 hướng: 1- Dua khái niệm ngắn gọn về quyền sở hữu, trong đó chỉ nhân mạnh hạt nhân co bản của nó; 2- Không thé đưa ra khái niệm duy nhất về quyền sở hữu. Cần phân biệt khái niệm sở hữu trong các ngành luật khác nhau: luật Nhà nước, luật dân sự, luật kinh tế; 3- Các tác giả của các nước theo hệ thống công luật “Common Law” cố gắng đưa ra khái niệm có tính chất tổng hợp bằng cách liệt kê hàng loạt quyền năng của chủ sở hữu. Trong bài viết “Quá trình phát triển của khái niệm quyên sở hữu” của PGS.TS Bùi Đăng Hiếu đăng trên tạp chí Luật học số 5 năm 2003 đã khái quát được về quyền sở hữu trong quá trình phát triển của nó.
Trong bài viết này, tác giả đề cập đến khái niệm quyền sở hữu đưới góc độ là mức độ xử sự (quyền năng) mà pháp luật cho phép chủ sở hữu được thực hiện các hành vi nhất định (chiếm hữu, sử dụng, định đoạt) lên tài sản theo ý chí của mình. Dưới góc độ này, tác giả đã chỉ ra các thế hệ của quyền sở hữu, hay là các bước phát triển của quyền sở hữu. Đóng góp về mặt lý luận, tác giả đã làm rõ được các cách thức biểu hiện quyền sở hữu. Tác giả cho rằng, khái niệm quyền sở hữu đòi hỏi không chỉ bổ sung thêm quyền năng mà cần phải có một bước thay đổi cơ bản về cách hiểu khái niệm quyền sở hữu.
Tức là, khái niệm quyền sở hữu trong tương lai có thé sẽ không liệt kê quyền năng mà chỉ liệt kê các hạn chế của chủ sở hữu. Các công trình nghiên cứu đều chỉ ra rằng, khái niệm quyền sở hữu hiện tại đang được sử dụng là bước phát triển lớn so với trước đây. Khái niệm này được khái quát bởi “Hoàng Ngọc Thinh (2001), Quyên sở hữu của cá nhân và phương thức bảo vệ, Luận án Tiến sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, tr. 11 nội hàm của quyền sở hữu gồm ba quyền năng là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt.
Tuy nhiên, các công trình cũng đưa ra nhận xét răng với sự phát triển kinh tế xã hội ngày nay thì dần dần cơ chế ba quyền năng nêu trên sẽ không bao quát hết khái niệm quyền sở hữu. Do vậy, kết quả nghiên cứu của Luận án này cũng hướng đến đưa ra một cách nhìn nhận khái niệm về quyền sở hữu một cách phù hợp hơn. Hơn nữa, các công trình nêu trên chỉ mới nghiên cứu thuần tuý về quyền sở hữu dưới góc độ là quyền năng của một chủ thê nhất định đối với tài sản nhưng chưa có nghiên cứu nào thê hiện được mỗi liên hệ giữa quyền sở hữu này với các vật quyền khác, chưa có công trình nào nghiên cứu để đưa ra xác định được vị trí của quyền sở hữu trong hệ thống các vật quyền trong pháp luật dân sự. Nội dung, đặc điểm, căn cứ xác lập quyên sở hữu Về nội dung quyền sở hữu được nhiều công trình nghiên cứu và chỉ ra nội hàm cụ thé của quyền này gồm ba quyên năng là quyền chiếm hữu, quyên sử dụng, quyên định đoạt.
Trong quá trình hoàn thiện quy định về quyền sở hữu từ BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 đều đề cập đến nội dung quyền sở hữu bao gồm ba quyền năng nêu trên. Đối với đặc điểm của quyền sở hữu: có rất ít công trình khoa học chỉ ra và phân tích cụ thé đặc điểm của quyền sở hữu. Các công trình nghiên cứu chỉ mới nhìn nhận khái quát về tính chất của quyền sở hữu, không đi sâu nghiên cứu về đặc điểm của quyền sở hữu. Đặc điểm của quyền sở hữu được đề cập rất sơ lược trong Giáo trình Luật La Mã, do TS.