Chương 1 MOT SỐ VAN DE QUYEN VE HO, TÊN VÀ THỰC THI PHAP LUAT VE QUYEN VE HO TÊN 1. Khai niệm họ, tên cá nhân sinh ra déu có tên gọi do cha me đặt cho để phân biết cá nhân dé với những cá nhân khác. Điểu 26 Bộ luật dân sư năm 2015 quy định về quyên của cá nhân đối với họ va tên và Điều 27 quy định vẻ việc thay đổi họ tên. Mặc dit một người có thể có nhiễu tên gọi khác nhau như tên khai sinh, biệt hiệu, bí danh.
nhưng khi tham gia quan hệ pháp luật mỗi cả nhân chi được công nhân mang một tên riêng đó là tên được ghi trong giấy khai sinh Quyển về ho và tên lä một quyển nhân thân của cá nhân Cá nhân có quyền này kế từ khi được sinh ra. Tuy nhiên, cá nhân cũng có quyển yêu cầu cơ quan có thẩm quyên công nhận việc thay đổi họ tên trong trường hợp: Tên. mà ho ding gây nhằm lẫn, ảnh hưỡng tới tỉnh cảm cia mọi người trong gia đính; theo yêu cẩu của cha mẹ nuôi khi nhận con nuôi; theo yêu cầu cia cha me dé, yêu cầu của người xác định lại giới tính. Trong trường hợp, thay đổi họ tên của người từ9 tuổi trỡ lên thì phải được sự đồngý của ho.
Ho, tên (danh tính) là dấu hiệu sắc định hay chỉ định một cá nhân. Ở Việt Nam ho, tên thường có ba thành tổ theo thứ tự: họ, chữ lót va tên. Ho, tên là yêu tổ rất quan trong vẻ mặt công pháp cũng như từ pháp. Vi chính nhữ có ho, tên ma một cá nhân có quyên bau cử, ứng cử hošc phải thi hành nghĩa ‘vu đối với Nhà nước hay thực hiện các quyền và ngiĩa vụ dân sự.
Theo BLDS quy định: “Ca nhân xác lập, thực hiến quyển, nghĩa vụ dân sự theo ho, tên của mình đã được cơ quan nha nước có thẩm quyền công nhận”. Về phương điện. kinh tế, một cá nhân còn có quyển hưởng lợi ích vật chất do chính ho, tên cũa mình dem lai như các nghề sĩ, luật sử, bác sĩ nỗi tiếng (tương tự như doanh. nghiệp được hưởng lợi do thương hiệu uy tin của mình), Đặc tính pháp lý của họ, tên là không thể mua ban, chuyển nhượng giữa người sông, hoặc cho hưởng thửa kế.
Ho, tên không thé bi tiêu hủy hay phá bé như một tài sin vật chất và không thể có được hay mắt i bõi thời hiệu LLL Khái niệm họ Mỗi cá nhân sinh ra, tên tại va phát triển đều can có họ va tên, tiên là dâu hiệu nhận biết, phân biệt cá nhân nay với cá nhân khác, tiếp đó là mỗi cá nhân trong xã hội phải cỏ một cải tên kèm theo một ho nhất định để đảm bảo hiện quả trong quan lý xã hội của Nhà nước. Họ vả tên cả nhân cũng mang một ý nghĩa khác 1a có thể biểu hiện được nguồn gốc, lai lịch giới tinh của cả nhân. Ho vốn để chỉ một tập hợp người cùng tổ tiên, cùng dòng máu (vi dụ họ nội họ ngoại). Họ là một phan trong tên gi, để xác định cá nhân đó thuộc dòng ho nào.
Ho được đất trước tên đệm và tên chính của một người, ding chung cho mét tập hợp những người củng một dòng máu (Sau dây được gọi la cũng một ho) để phân biệt với người thuộc dong họ khác. Họ có chức năng phan biệt một tập hợp người củng tổ tiên, dong máu nảy với một tập hop người có cùng tổ tiên vả dòng máu khác. Họ luôn đi đối với tên chính va tên đệm (néu có) nên gop phan cá thể hóa ca nhân Khi hai hay nhiễu người co cũng tên đêm va tên chính thi ho sẽ lả một yêu tổ quyết định đến chức năng cá thé hóa Vi trí của họ trong tổ hợp họ - tên người, ho của người Việt Nam luôn đứng ở vị trí đầu tiên trong cụm họ tên. Ví dụ như cum họ Nguyễn Văn A thì vi trí đâu tiên lé vi tri ho của người đó (họ Nguyễn).
Néu như cũng là họ đó được đặt 6 vi trí thứ hai thi được coi là tên đệm ví du như họ Bai Lê Quỳnh A (thi ho là Bui, còn Lê lúc nay trở thành tên đêm). Vi trí họ của người Viet Nam có nét khác biệt với vi tri họ của người Châu Âu, ví du: Michael Jordan 8 thi Michael là tên chính, Jordan đứng sau lả họ. Trong giao tiếp người Việt luôn gọi tên để phân biệt, con người Châu Âulại gọi ho để phân biệt. 'VỆ nguồn gốc ho của người Viet Nam rất đa dang, do Việt Nam tử xa xưa đã bi ảnh hưởng bởi sự xâm chiếm, di dân hay giao thoa văn hóa.
Như Bac thuộc, Pháp thuộc v. Thông thưởng ho của người Việt Nam được zác định theo cha, nhưng một sé dan tộc xác định ho theo họ của mẹ. Một số dân tộc thiểu số cũng mang họ như dân tộc Kinh và một số dan tộc đổi họ thành họ Hồ theo Chủ tích Hé Chí Minh. Một sé dan tộc thiểu số cỏ họ của các loài cây hoa quả.
Nhiéu vùng miễn lầy chữ đầu tiên trong tên láng zóm lâm ho Số họ người Việt rat hạn chế, có khoảng 140 họ khác nhau. Một số dong hho nỗi bật có ty lê như sau: Nguyễn (31,5%), Tran (10,8%), Lê (8,09%), Pham (6. Do đỏ có thành ngữ "trăm họ" (bách tinh, còn doc la "bá tánh") thời xua thường ding để chỉ dân ching cả nước Ông Dã Lan Nguyễn Đức Du trong cuốn Gia Phả đã dẫn có nói đến ba trăm họ tối đa co thể có, nhưng ông đã không lap danh sách (2). Cũng theo ông, người Tring quốc cũng chỉ có ba trăm ho trong khi người Nhất Bản xử dụng đến một trăm ngàn tên họ khác nhau.
Người Pháp goi "họ" là ‘nom de famille’ và "patronyme", người Anh Mỹ gọi là “family name" và "patronym Những họ Việt Nam thường gặp nhất la Nguyễn, Trần, Lê, Hujnb/Hoang, Pham, Phan, Vi/V6,. Nhiều người mang cùng một ho không, có nghĩa là họ có cùng một gic gic. Thời xưa và nhất là ở nha qué, người ta phân biệt nhau bằng cách gọi “họ Nguyễn lang Tiên Điển”, “họ Nguyễn láng. Trong nhiễu làng thôn, tắt cả mọi người cùng mang một ho Theo Wikipedia Bic kho toàn terms) 9 Co người cat nghĩa 1a vì vào thời lập quốc, người Việt chi co một tổ tiên chung lả Lạc Long Quân va Âu Cơ.
Đền thời hiện đại, những người Việt nay chứng minh mỗi dong ho một tổ tiên riêng, Từ khi bi người Trung Quốc đô hồ, người Việt chính thức theo chế độ phụ hé, do đó con cải phải lấy ho cha. Theo dân luật, cơn phải lấy ho cha, không có vẫn để tư do lựa chọn. Họ không thé cho người ngoài ho dùng và trên nguyên tắc không thé thay đổi. Co hẳn cả một hiệp ước quốc tế năm 1959 vẻ thay đỗi họ, Tuy nhiên trong Nam tử thời Pháp thuộc cỏ khuynh hướng dùng cả họ cha va họ me mà đặt cho con, thí dụ con đâu lấy họ cha thi con thứ lấy họ me, anh chị em ruột ma họ khác nhau là vi vậy.
Ho kép ‘Nhiéu gia đính mang họ kép, như Vũ - Đỗ Thin, Đặng - Tran Huân, Trần. - Lê Quang, vv. Tuy nhiên cần phân biệt hai loại họ kép, - Họ + tên đệm: Các họ Đăng - Xuân, Đăng:Vũ va Ngô-Vi, Ngô- Thời, xuất phát từ một gia đình gốc ho Đăng va họ Vũ, nhưng vi muôn phân biết chỉ nhánh nên đã thêm tên đêm vào ho. Yêu tổ nay không phải là họ, nhưng giữ nhiệm vụ tên lót trung gian giữa họ và tên.
Nhưng những họ đi kèm với tên đêm "Ba, Thúc" phải được coi nhw họ đơn, vì những tên lút may chi là những chữ lót chung ~ Ho kép hợp bai hai ho: Đây là những họ kép chính thức. Thưởng thấy có: VũĐỗ, Nguyễn-Trản, Trén-Lé, Hỏ-Đăng, Lê-Phan, Vũ-Pham, Đăng. Trin Vì một lý do nào đó, một người sử dụng ho kép và truyền lại cho các thể hé sau. Trước hết là trường hợp người con nuôi, ghi thêm ho gia đỉnh cha me nuôi vào họ gốc.
Ho mới di trước ho gốc. Đó là hoản cảnh của nhà thơ Đăng-Trần Côn, tác giả Bích-Câu kỷ-ngồ và Chính Phụ Ngâm Khúc La con nuôi của một gia đính họ Đăng, ông vốn tên lả Trén Côn. Con chau thường, 10 tiếp tục giữ ho kép đó, Nhưng có trường hợp có người con lấy lại ho cũ, như con chéu Vii-Pham Ham, gốc ho Pham, làm con nuôi người bạn của cha họ Vũ nên mới có ho kép là Vii Pham Vé sau, có người còn giữ ho Vũ-Phạm, nhưng đa số lây lại họ gốc là Phạm vi ông chỉ truyền họ kép Vii-Pham cho "một trong chín người con. Một lý do khác thông thường hon.
Vua chia ngày zưa thường cho phép một số quan lại có công với triểu đình hoặc đỗ đạt cao được đải tên va có khi cho phép theo ho của vua (quốc tính), xem đó la một cách tưởng thưởng trong hậu. Có người bö hẳn họ gốc để lay họ vua như Mạc Cảnh Vinh được chúa. Sãi Nguyén-Phuc Nguyên cho phép đổi thành Nguyễn-Phúc Vinh Nhung thường người được đổi họ được phép giữ họ gốc ghép vào ho mới ma thành ra họ kép. Huynh Đức, quan triểu đại Gia-Long trở thành Nguyễn-Huỷnh Đức.
Các con ống la Nguyễn-Huỳnh Thanh, Nguyén-Huynh Thừa, v. Tuy nhiên con gai vẫn giữ ho gắc Huỳnh, vì con gái không mang quốc tỉnh. Chỉ có thời Tổng Nho mới có những phân biết nam nữ. Hiện nay người ta thây có nhiều họ kép nhưng thường gồm hai họ của vợ ching dùng đất cho con cải.
Các họ kép méi này không thể trường tổn vi không được mọi người và tục lê chấp nhận. Hơn nữa, những người con cia ‘ho, một khi lập gia đính lại sẽ đổi họ kép đặt cho con, họ kép của người phối ngẫu mới có thé là một họ khác. Dưới góc độ văn hóa, họ thể hiến lịch sư hình thánh, phát triển của một tập hợp những người có cùng dong mau, huyết thống. 'Về mặt pháp lý họ có ý nghĩa trong công tác quản lý hộ tịch va quyền của công tân liên quan đến họ tên.
Tóm lại, có thể hiểu một cách tổng quan: “Ho của mỗi cá nhấn thể “hiện đòng máu, nguôn gốc của cả nhân mỗi người. Họ của mỗi cá nhân ià lì căm cức dẫu hiệu phân biệt giữa các cá nhân với nhau được nhà nước quân 1ÿ và công nhậm” Ho các triển đại: Ba số người Việt mang một ho trong số 16 dòng họ đã từng cai tr lấy lừng trong lich sử. Theo thứ tự nién đại, đó là những họ Thục, Trưng, Triệu, Mai, Khúc, Lý, Phùng, Kiểu, Ngõ, Dinh, Lê, Trin, Hả, Mac, Trịnh và Nguyễn.