Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong hệ thống pháp luật dân sự, họ và tên là những đặc điểm nhân thân gắn liền, không thể tách rời của mỗi cá nhân, đóng vai trò là dấu hiệu pháp lý cơ bản nhằm cá biệt hóa cá nhân trong xã hội. Quyền có họ, tên là quyền nhân thân nguyên thủy phát sinh kể từ thời điểm cá nhân sinh ra, được ghi nhận tại Điều 26 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan. Trong thực tiễn pháp lý, mọi hoạt động giao dịch, văn bản, thủ tục hành chính tư pháp đều đòi hỏi việc ghi nhận chính xác họ, tên và chữ ký của chủ thể tham gia nhằm xác định tư cách pháp lý, quyền và nghĩa vụ dân sự tương ứng.
Về tình hình nghiên cứu, đề tài quyền nhân thân đối với họ, tên đã được một số tác giả tiếp cận dưới các góc độ khác nhau:
- Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Tự (2019, Đại học Quốc gia Hà Nội) nghiên cứu về quyền đối với họ, tên theo quy định của BLDS 2015 và thực tiễn áp dụng;
- Luận văn thạc sĩ của Hoàng Ngọc Hưng (2012, Trường Đại học Luật Hà Nội) phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn của quyền đối với họ, tên;
- Chuyên đề nghiên cứu của Nguyễn Minh Oanh về các quyền nhân thân liên quan đến cá biệt hóa cá nhân (họ, tên, dân tộc, hình ảnh);
- Các bài viết chuyên sâu trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật của Hoàng Long (2008), Vương Tất Đức và Nguyễn Thị Thanh Xuân (2010), Nguyễn Đình Toản (2008), Thảo Linh (2008) phân tích các vướng mắc trong việc đăng ký khai sinh, xác định họ và thay đổi họ tên.
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm rõ các quy định của pháp luật dân sự hiện hành về quyền về họ, tên cá nhân theo BLDS năm 2015 và các văn bản pháp luật liên quan; phân tích thực trạng áp dụng để chỉ ra các điểm bất cập, mâu thuẫn; từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành.
Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Đánh giá những vấn đề lý luận về quyền về họ, tên, nội dung và các hình thức thực thi pháp luật về quyền về họ, tên cá nhân theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam.
- Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành về quyền về họ, tên cá nhân.
- Nêu và phân tích thực trạng thi hành pháp luật Việt Nam về quyền về họ, tên; đưa ra các định hướng và giải pháp cụ thể nhằm đảm bảo thực hiện hiệu quả các quy định pháp luật trong thực tiễn.
Phạm vi nghiên cứu của khóa luận tập trung vào chế định quyền nhân thân đối với họ, tên trong hệ thống pháp luật dân sự và hộ tịch Việt Nam, giới hạn qua các văn bản pháp luật chủ yếu: BLDS năm 2015, BLDS năm 2005, BLDS năm 1995, Luật Hộ tịch năm 2014, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Luật Công chứng năm 2014, Luật Đất đai năm 2013, Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, Thông tư số 15/2015/TT-BTP cùng các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng trên nền tảng lý luận về quyền nhân thân trong luật dân sự. Theo đó, quyền đối với họ, tên là quyền nhân thân phi tài sản, gắn liền với giá trị tinh thần của cá nhân, không thể chuyển giao, không thể định giá thành tiền, không bị tiêu hủy hay chấm dứt theo thời hiệu. Tác giả kế thừa định nghĩa của Hoàng Ngọc Hưng (2012): "Quyền đối với họ, tên của cá nhân là quyền nhân thân pháp luật quy định cho cá nhân quyền có, sử dụng, khai thác và thay đổi họ, tên để thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự".
Cơ cấu họ tên của người Việt Nam gồm ba thành tố: họ, tên đệm và tên chính. Trong đó:
- Họ: Chỉ nguồn gốc huyết thống, dòng tộc, đứng đầu cụm danh tính;
- Tên đệm: Giữ 5 chức năng cơ bản gồm phân biệt giới tính, khu biệt chi nhánh dòng họ, khu biệt thứ bậc trong gia đình, thể hiện thế hệ con cái và tạo tính thẩm mỹ;
- Tên chính: Thành tố trực tiếp cá biệt hóa cá nhân, thường sử dụng từ Hán - Việt hoặc thuần Việt, gắn với nguyện vọng của cha mẹ và các nguyên tắc văn hóa tránh trùng tên húy, tên xấu.
Về phương diện thực thi, khóa luận tiếp cận 4 hình thức thực hiện pháp luật gồm: tuân theo pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật. Khóa luận cũng sử dụng khái niệm tập quán pháp theo Điều 5 BLDS năm 2015 và định hướng thể chế hóa tập quán theo Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị.
Phương pháp nghiên cứu được triển khai bao gồm:
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định về quyền họ, tên qua các giai đoạn lập pháp (BLDS 1995, 2005, 2015); so sánh với pháp luật nước ngoài gồm BLDS Pháp (Điều 55, Điều 57 Luật số 2002-304) và hệ thống Thông luật (Common Law) cùng luật thành văn tại các bang của Hoa Kỳ.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Mổ xẻ từng quy phạm tại BLDS năm 2015, Luật Hộ tịch năm 2014, Nghị định số 123/2015/NĐ-CP; tổng hợp dữ liệu thực tiễn quản lý hộ tịch, các tập quán đặt tên của đồng bào dân tộc thiểu số.
- Phương pháp quy nạp và diễn dịch: Luận giải từ các trường hợp thực tiễn cụ thể để rút ra các khoảng trống và xung đột pháp lý mang tính hệ thống.
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam, Từ điển Bách khoa Việt Nam (2005), tài liệu nghiên cứu dân tộc học và lịch sử như cuốn "Gia Phả" của Dã Lan Nguyễn Đức Dụ, "Các dân tộc ở Việt Nam - cách dùng họ và đặt tên" của Nguyễn Khôi (2006), các bài báo trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, cùng các văn bản quy định của địa phương như Quyết định số 01/2010/QĐ-UBND của UBND tỉnh Đắk Nông.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề về quyền về họ, tên và thực thi pháp luật về quyền về họ tên
Chương 1 tập trung giải quyết các vấn đề lý luận về danh tính cá nhân, nguồn gốc lịch sử của họ tên người Việt, bản chất pháp lý của quyền về họ tên và kinh nghiệm quốc tế.
Về mặt nguồn gốc, số lượng họ của người Việt tương đối hạn chế, có khoảng 140 họ khác nhau đang được sử dụng phổ biến. Theo tài liệu "Gia Phả" của Dã Lan Nguyễn Đức Dụ, số họ tối đa của người Việt và người Trung Quốc có khoảng 300 họ, trong khi người Nhật Bản sử dụng tới khoảng 100.000 tên họ khác nhau. Đa số người Việt mang một trong 16 họ của các dòng họ từng cai trị trong lịch sử: Thục, Trưng, Triệu, Mai, Khúc, Lý, Phùng, Kiều, Ngô, Đinh, Lê, Trần, Hồ, Mạc, Trịnh, Nguyễn.
| Dòng họ phổ biến |
Tỷ lệ trong dân số Việt Nam (%) |
| Họ Nguyễn |
31,5% |
| Họ Trần |
10,8% |
| Họ Lê |
8,09% |
| Họ Phạm |
Nhóm tỷ lệ cao tiếp theo |
Tác giả phân tích các nguyên nhân lịch sử dẫn đến sự biến đổi họ: sự thay đổi triều đại (năm 1232, Trần Thủ Độ bắt người họ Lý đổi sang họ Nguyễn), việc vua ban quốc tính (như Mạc Cảnh Vinh đổi thành Nguyễn Phúc Vinh, Huỳnh Đức thành Nguyễn Huỳnh Đức), đổi họ để trốn sưu thuế, lánh nạn hình sự ("tru di tam tộc"). Đáng chú ý là hệ thống họ của hoàng tộc nhà Nguyễn được quy định năm 1823 dưới thời vua Minh Mạng qua bài thơ "Đế hệ thi" gồm 20 chữ (bắt đầu bằng Miên, Hường, Ưng, Bửu, Vĩnh...) dành cho dòng chính của vua Gia Long và 10 bài "Phiên hệ thi" dành cho 10 người em vua, được khắc trên kim sách bằng vàng ròng và ngân sách bằng bạc. Hậu duệ của Triệu tổ Nguyễn Kim không thuộc ngành vua Gia Long chỉ mang họ "Tôn Thất".
Quyền về họ, tên có ba đặc điểm pháp lý cốt lõi:
- Là quyền nhân thân gắn liền với cá nhân;
- Là quyền nhân thân không gắn với tài sản (phi tài sản);
- Là quyền nhân thân có chức năng cá biệt hóa cá nhân.
Về mối liên hệ trong hệ thống quyền nhân thân, quyền về họ tên có quan hệ mật thiết với quyền được khai sinh (khai sinh là điều kiện tiên quyết xác lập họ tên pháp lý), quyền thay đổi họ tên (bảo đảm quyền tự quyết cá nhân khi có căn cứ chính đáng), và quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (xâm phạm họ tên có thể gây tổn hại danh dự, uy tín).
| Hình thức thực hiện pháp luật |
Nội dung biểu hiện trong quyền về họ, tên |
| Tuân theo pháp luật |
Kiềm chế không thực hiện các hành vi bị cấm như xâm phạm danh dự, uy tín gắn liền với họ tên người khác, không đặt tên bằng số hay ký tự. |
| Thi hành (chấp hành) pháp luật |
Thực hiện nghĩa vụ đăng ký khai sinh, đăng ký thay đổi hộ tịch theo đúng thời hạn và trình tự luật định. |
| Sử dụng pháp luật |
Cá nhân thực hiện quyền có họ tên, quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ, tên khi đủ điều kiện. |
| Áp dụng pháp luật |
Hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (UBND, công chức tư pháp - hộ tịch) ra quyết định đăng ký khai sinh, cấp giấy tờ, cho phép đổi họ tên. |
Về quá trình phát triển lập pháp, quyền nhân thân được mở rộng dần qua các bản Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992). Tại cấp độ luật dân sự, BLDS năm 1995 quy định quyền có họ tên và thay đổi họ tên tại Điều 28 và 29; BLDS năm 2005 quy định tại Điều 26 và 27; BLDS năm 2015 tiếp tục hoàn thiện, quy định Điều 26 (quyền có họ, tên) và Điều 27 (quyền thay đổi họ, tên) với nội dung chi tiết và chặt chẽ hơn.
Khảo cứu pháp luật quốc tế cho thấy:
- Pháp: Điều 55 BLDS Pháp quy định trong thời hạn 3 ngày từ khi sinh phải khai sinh trước viên chức hộ tịch. Điều 57 Luật số 2002-304 quy định việc đặt tên họ dựa trên thỏa thuận cha mẹ và quan hệ huyết thống (con ngoài giá thú ưu tiên xác định theo họ mẹ nếu mẹ xác lập quan hệ trước).
- Hoa Kỳ: Theo Thông luật, cá nhân có quyền tự do thay đổi họ tên mà không cần qua tòa án, miễn không nhằm mục đích phạm tội hay lừa đảo. Người chưa thành niên (dưới 21 tuổi) cần có sự đồng ý của cha mẹ hoặc người giám hộ; luật các bang có các quy định riêng về quyền đổi tên của phụ nữ sau khi ly hôn.
Chương 2: Thực trạng pháp lý và thực tiễn áp dụng pháp luật quyền về họ tên
Chương 2 đi sâu vào thực trạng các quy phạm pháp luật hiện hành và những bất cập phát sinh trong thực tiễn thi hành Điều 26, Điều 27 BLDS năm 2015, Luật Hộ tịch năm 2014, Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và Thông tư số 15/2015/TT-BTP.
Căn cứ xác định họ của cá nhân theo Khoản 2 Điều 26 BLDS năm 2015 được quy định theo các trường hợp:
- Trường hợp xác định được cha đẻ, mẹ đẻ: Họ của con xác định theo thỏa thuận giữa cha và mẹ (họ cha hoặc họ mẹ); nếu không có thỏa thuận thì xác định theo tập quán; nếu chưa xác định được cha đẻ thì theo họ của mẹ đẻ.
- Trường hợp trẻ bị bỏ rơi, chưa xác định cha mẹ đẻ và được nhận làm con nuôi: Họ xác định theo họ của cha nuôi hoặc mẹ nuôi theo thỏa thuận của cha mẹ nuôi (hoặc theo họ của người nuôi dưỡng duy nhất).
- Trường hợp trẻ bị bỏ rơi chưa được nhận làm con nuôi: Họ xác định theo đề nghị của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng hoặc người có yêu cầu đăng ký khai sinh đang tạm thời nuôi dưỡng.
Về giới hạn đặt tên, Khoản 3 Điều 26 BLDS năm 2015 quy định: Tên công dân Việt Nam phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam; không đặt tên bằng số, bằng ký tự không phải là chữ; không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc trái các nguyên tắc cơ bản tại Điều 3 BLDS.
| Tiêu chí |
BLDS năm 2005 & Nghị định 158/2005/NĐ-CP |
BLDS năm 2015 & Nghị định 123/2015/NĐ-CP |
| Cách thức xác định họ |
Quy định chung chung, tồn tại hai luồng quan điểm (chỉ được chọn họ cha/mẹ hoặc có thể chọn họ thứ ba). |
Quy định rõ họ con là họ cha đẻ hoặc mẹ đẻ; cho phép từ chối đăng ký họ thứ ba. |
| Giới hạn hình thức của tên |
Không cấm đặt tên bằng số/ký tự, dẫn đến các trường hợp như "Thị 1", "Văn 2". |
Cấm tuyệt đối đặt tên bằng số và ký tự không phải chữ; bắt buộc bằng tiếng Việt/tiếng dân tộc khác của Việt Nam. |
| Cơ cấu điều luật thay đổi họ tên |
Gộp chung quyền thay đổi họ và tên tại Điều 27. |
Tách bạch quyền thay đổi họ và quyền thay đổi tên thành các điều khoản riêng biệt. |
| Quy định về chữ đệm |
Chưa quy định cụ thể cách thức xác định chữ đệm. |
Nghị định 123/2015/NĐ-CP (Điều 4) bổ sung nguyên tắc xác định chữ đệm theo thỏa thuận hoặc tập quán. |
Khóa luận chỉ ra hàng loạt bất cập và khoảng trống pháp lý trong thực tiễn áp dụng:
- Khái niệm "tên bằng tiếng Việt" chưa được định chế hóa: Luật chưa có văn bản hướng dẫn thế nào là tên tiếng Việt, tên có bắt buộc phải có nghĩa hay không, và quy tắc chính tả viết liền hay viết rời (ví dụ: FaMy, Nô En hay Fa My, NôEn).
- Thứ tự thành tố họ - chữ đệm - tên không đồng nhất với phong tục địa phương: Luật quy định cấu trúc thông thường (Họ + Chữ đệm + Tên chính), trong khi tập quán một số dân tộc thiểu số đặt tên trước họ. Ví dụ: Người M'Nông cư trú tại Đắk Nông, Lâm Đồng, Bình Phước theo Quyết định số 01/2010/QĐ-UBND tỉnh Đắk Nông đặt tên theo cấu trúc: Tên đệm xác định giới tính (Điểu, Y, K' cho nam; H', Thị cho nữ) + Tên chính + Họ (thường không ghi) như Điểu Nôi, K'Thanh, Y Rơi, H'Hồng.
- Xung đột giữa quy định pháp luật và tập quán các dân tộc thiểu số: BLDS năm 2015 quy định tập quán xác định họ chỉ giới hạn giữa họ cha hoặc họ mẹ. Tuy nhiên, thực tế tồn tại nhiều tộc người không có tập quán dùng họ:
- Dân tộc Ba Na (Tây Nguyên, Bình Định, Phú Yên), Brâu, Xơ Đăng (Kon Tum), Mã Liềng (Tuyên Hóa - Quảng Bình, Hương Khê - Hà Tĩnh) không có họ (nam Ba Na thường mang tên Yang Danh; nữ mang tên Thư, Thớp, Yung, Blui, Aying...).
- Dân tộc H'Mông, Dao, Mường có tục đặt tên nhiều lần trong đời (lễ thôi nôi, lễ "Tì bê lâu" khi người con trai cưới vợ được bố mẹ vợ đặt tên đệm mới; đặt lại tên khi đau ốm, rủi ro).
- Sự cứng nhắc của quy định khiến cán bộ hộ tịch từ chối đăng ký nếu không theo họ cha/mẹ, đẩy người dân vào thế xung đột giữa quy định nhà nước và luật tục dòng họ.
Tác giả so sánh với Điều 1453 BLDS Bắc Kỳ năm 1931 (cho phép duy trì phong tục, tập quán riêng biệt của các dân tộc ít người phía Bắc, thừa nhận thứ bậc ưu tiên của tập quán) và pháp luật Tây Ban Nha (cho phép áp dụng tập quán địa phương thay cho BLDS ở một số vùng) để chứng minh tính cần thiết của việc linh hoạt hóa quy phạm pháp luật.
Chương 3: Định hướng một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật quyền về họ tên
Chương 3 đề xuất hệ thống định hướng và giải pháp cụ thể nhằm tháo gỡ các vướng mắc đã phân tích:
- Đổi mới quan điểm về vị trí của tập quán pháp: Cần quán triệt quan điểm chỉ đạo tại Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Pháp luật cần công nhận và tôn trọng sự đa dạng văn hóa của các dân tộc; xây dựng cơ chế cho phép áp dụng tập quán đặc thù về việc không mang họ hoặc đặt tên theo phong tục của đồng bào dân tộc thiểu số mà không bị coi là vi phạm pháp luật.
- Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành chi tiết:
- Cơ quan có thẩm quyền cần ban hành thông tư hoặc nghị định giải thích rõ tiêu chí "tên bằng tiếng Việt", quy tắc viết hoa, viết rời/viết liền các âm tiết trong tên;
- Hướng dẫn cụ thể thứ tự ghi nhận họ, chữ đệm, tên trên sổ hộ tịch đối với các dân tộc có phong tục đảo vị trí hoặc cấu trúc tên đặc thù (như dân tộc M'Nông, Ba Na).
- Hoàn thiện các quy định về quyền thay đổi họ, tên: Đơn giản hóa thủ tục và tiêu chí xác định các trường hợp thay đổi họ tên do "gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, danh dự, quyền lợi ích hợp pháp", bảo đảm tính thống nhất với các quyền nhân thân khác.
- Cải cách hành chính và nâng cao năng lực áp dụng pháp luật:
- Tăng cường công tác tập huấn chuyên môn, kỹ năng xử lý tình huống nghiệp vụ cho đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã, huyện, đặc biệt tại các địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số;
- Thiết lập cơ chế kiểm tra, thanh tra, giám sát định kỳ (6 tháng, hàng năm) và đột xuất trong công tác đăng ký hộ tịch;
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật dân sự và hộ tịch để người dân nắm rõ quyền và nghĩa vụ đối với họ, tên.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể sau:
- Dữ liệu thực tiễn và số liệu: Tổng hợp số liệu về cơ cấu dòng họ tại Việt Nam (họ Nguyễn chiếm 31,5%, Trần 10,8%, Lê 8,09%); hệ thống hóa 16 dòng họ trị vì trong lịch sử; tái hiện nguồn gốc và cấu trúc bài "Đế hệ thi" và "Phiên hệ thi" ban hành năm 1823 dưới triều Nguyễn.
- Đánh giá lập pháp: Phân tích toàn diện bước tiến của BLDS năm 2015 so với BLDS năm 2005 (khắc phục việc đặt tên bằng chữ số, ký tự lạ; tách bạch điều khoản thay đổi họ và tên; quy định rõ nguyên tắc xác định họ theo cha/mẹ).
- Phát hiện xung đột pháp lý: Chỉ ra mâu thuẫn giữa nguyên tắc cứng chế của Điều 26 BLDS năm 2015 với tập quán không mang họ hoặc đổi tên nhiều lần của các dân tộc Ba Na, Brâu, Xơ Đăng, Mã Liềng, H'Mông, Dao, Mường; chỉ ra khoảng trống pháp lý của Quyết định 01/2010/QĐ-UBND tỉnh Đắk Nông về cấu trúc tên họ người M'Nông.
- Đóng góp học thuật: Khóa luận là công trình nghiên cứu hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền họ tên trong bối cảnh BLDS năm 2015; đưa ra kiến nghị hoàn thiện thể chế dựa trên sự kết hợp hài hòa giữa pháp luật thực định và tập quán truyền thống.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực tiễn hộ tịch và án lệ tư pháp chủ yếu dựa trên các nguồn tài liệu thứ cấp, văn bản hướng dẫn và báo cáo chuyên ngành; chưa có điều kiện thực hiện điều tra xã hội học diện rộng tại tất cả các vùng dân tộc thiểu số trên cả nước.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế giải quyết xung đột pháp lý giữa luật thành văn và tập quán pháp trong các giao dịch dân sự điện tử; nghiên cứu tác động của công nghệ số và cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đối với việc quản lý và thực thi quyền về họ, tên cá nhân.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên ngành Luật: Đặc biệt thuộc chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Hành chính;
- Cán bộ, công chức Tư pháp - Hộ tịch: Làm việc tại UBND các cấp, phục vụ trực tiếp cho việc xử lý các hồ sơ đăng ký khai sinh, thay đổi họ tên có yếu tố phức tạp hoặc yếu tố dân tộc thiểu số;
- Phần đáng tham khảo nhất:
- Mục 1.1.1 & 1.1.2 (Chương 1) về lịch sử, ý nghĩa văn hóa, cấu trúc họ tên và cơ chế phân định thế hệ qua thơ hệ triều Nguyễn;
- Mục 2.1 & 2.3 (Chương 2) về các xung đột pháp lý cụ thể giữa quy định của BLDS 2015, Luật Hộ tịch 2014 với tập quán đặt tên của các tộc người thiểu số tại Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo Điều 26 BLDS năm 2015, họ của con được xác định theo nguyên tắc nào khi xác định được cha đẻ và mẹ đẻ?
Họ của con được xác định là họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha mẹ. Nếu cha mẹ không có thỏa thuận thì họ của con được xác định theo tập quán (tập quán chọn họ cha hoặc họ mẹ). Trường hợp chưa xác định được cha đẻ thì họ của con được xác định theo họ của mẹ đẻ.
2. Pháp luật dân sự hiện hành quy định những giới hạn nào đối với việc đặt tên của công dân Việt Nam?
Khoản 3 Điều 26 BLDS năm 2015 quy định: Tên của công dân Việt Nam phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam; không được đặt tên bằng số, bằng một ký tự mà không phải là chữ; việc đặt tên bị hạn chế nếu xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 BLDS năm 2015.
3. Vì sao quy định về xác định họ theo tập quán tại Khoản 2 Điều 26 BLDS năm 2015 lại phát sinh mâu thuẫn trong thực tiễn?
Vì tinh thần của BLDS năm 2015 ngầm định tập quán chỉ là sự lựa chọn giữa họ của cha hoặc họ của mẹ. Trong khi đó, thực tế một số dân tộc thiểu số tại Việt Nam có tập quán không đặt họ (như người Ba Na, Brâu, Xơ Đăng, Mã Liềng) hoặc mang họ thứ ba. Khi công dân đăng ký khai sinh theo tập quán dòng họ thì công chức hộ tịch từ chối do trái quy định khung của BLDS, dẫn đến quyền nhân thân của cá nhân không được bảo đảm trọn vẹn.
4. Tập quán đặt tên họ của người M'Nông tại tỉnh Đắk Nông có cấu trúc như thế nào so với cấu trúc thông thường?
Theo Quyết định số 01/2010/QĐ-UBND của UBND tỉnh Đắk Nông, người M'Nông đặt tên theo công thức: Tên đệm xác định giới tính + Tên chính + Họ (thường không ghi). Trong đó, nam giới ghép với chữ đệm Điểu, Y, K' (như Điểu Nôi, K'Thanh, Y Rơi); nữ giới ghép với chữ đệm H', Thị (như H'Hồng, Thị Mai, H'Rơm). Cấu trúc này đặt tên trước họ, khác biệt với trật tự Họ + Chữ đệm + Tên chính của đa số người Việt.
5. Khóa luận đã phân tích điểm khác biệt cơ bản nào giữa pháp luật Hoa Kỳ và Việt Nam về quyền thay đổi họ, tên?
Theo Thông luật tại phần lớn các bang của Hoa Kỳ, cá nhân có nhu cầu đổi họ tên có thể tự do thực hiện một cách tự nhiên mà không bắt buộc phải xin phép tòa án, với điều kiện duy nhất là không nhằm mục đích gian lận hay phạm tội; trong khi đó, pháp luật Việt Nam quy định việc thay đổi họ, tên phải tuân theo các căn cứ luật định nghiêm ngặt tại Điều 27 BLDS năm 2015 và phải qua thủ tục hành chính tư pháp tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Xuân Tùng đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý về quyền về họ, tên cá nhân theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam. Nghiên cứu đã làm rõ những bước tiến lập pháp của BLDS năm 2015, đồng thời nhận diện chính xác các khoảng trống quy phạm và xung đột giữa luật thực định với tập quán đặt tên của các dân tộc thiểu số. Các giải pháp do tác giả đề xuất tập trung vào việc ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết, đổi mới cách tiếp cận tập quán pháp và cải cách thủ tục hành chính hộ tịch, mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác lập pháp và áp dụng pháp luật tại Việt Nam.