PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Quyền tự do ngôn luận, tự do thể hiện tƣ tƣởng và biểu đạt quan điểm đã đƣợc các thể chế dân chủ trên thế giới thừa nhận trên cơ sở các nguyên tắc, tiêu chuẩn quốc tế và khu vực. Quyền này luôn xuất hiện, tồn tại, đƣợc ghi nhận, tôn trọng và đƣợc bảo đảm trong các xã hội dân chủ, đƣợc xem nhƣ là thƣớc đo mức độ dân chủ của một xã hội. Và phản biện xã hội (PBXH) chính là một hình thức để thể hiện quyền dân chủ đó.
Xét về bản chất chính trị - pháp lý, thì PBXH là một hình thức thực hiện các quyền dân chủ của cá nhân đã đƣợc Việt Nam cam kết thực hiện trong Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự và chính trị.Mọi ngƣời đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp.Mọi ngƣời có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dƣới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phƣơng tiện thông tin đại chúng nào tuỳ theo sự lựa chọn của họ”1. Mọi công dân đều có quyền và cơ hội để “tham gia vào việc điều hành các công việc xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua các đại diện đƣợc họ tự do lựa chọn”2. Nhƣ vậy, quyền tự do ngôn luận đƣợc hiểu chính là tiền đề, là điều kiện cơ bản cần thiết để ngƣời dân thực hiện PBXH, và PBXH cũng chính là một bƣớc phát triển cao của hình thức nhân dân chủ động tham gia vào quá trình quản lý nhà nƣớc và xã hội.
PBXH còn đƣợc xem nhƣ là một phƣơng thức để nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nƣớc. Tại Việt Nam, lần đầu tiên, cụm từ phản biện xã hội xuất hiện tại Văn kiện đại hội Đảng lần thứ X gắn liền với vai trò của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) - tổ chức đại diện cho tiếng nói của nhân dân. Mục VI Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khoá IX về các Văn kiện Đại hội X đã chỉ rõ: Nhà nước ban hành cơ chế để MTTQ và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát và PBXH…3. 1 Điều 19 Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966 2 Điều 25 Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966 3 Báo cáo của Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khoá IX về các Văn kiện Đại hội X của Đảng.
luan an 2 Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI, XII lại tiếp tục khẳng định “Hoàn thiện cơ chế để nhân dân đóng góp ý kiến, PBXH và giám sát công việc của Đảng và Nhà nước, nhất là các chính sách kinh tế, xã hội, về quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển quan trọng”4; “Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả, thực hiện tốt vai trò giám sát và PBXH”5. Trên cơ sở văn kiện Đảng tại các kỳ đại hội, PBXH cũng đƣợc tiếp tục ghi nhận trong Hiến pháp và một số văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) có liên quan. Hiến pháp Việt Nam 2013 tiếp tục kế thừa Hiến pháp 1992 và có sửa đổi bổ sung quy định về một số quyền con ngƣời, quyền công dân có nội dung liên quan mật thiết đến PBXH nhƣ quyền đƣợc thông tin, quyền tự do ngôn luận, quyền trƣng cầu ý dân, quyền tham gia quản lý nhà nƣớc và xã hội. Điều 28 Hiến pháp quy định: “1.Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước.
Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân”. Đặc biệt, Hiến pháp 2013 cũng chính thức ghi nhận PBXH với tính chất là một chức năng của MTTQ Việt Nam. Quy định này lại tiếp tục đƣợc cụ thể hóa tại Luật MTTQ Việt Nam 2015, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2020… Tuy nhiên, dù hoạt động PBXH đã đƣợc ghi nhận thành chủ trƣơng, định hƣớng của Đảng, cũng nhƣ đã đƣợc thể chế hóa trong một số văn bản quy phạm pháp luật, nhƣng vẫn còn tồn tại không ít bất cập, hạn chế khi bàn về PBXH. Thứ nhất, thể chế về PBXH chƣa đầy đủ và còn nhiều hạn chế cả về nội dung và hình thức pháp lý.
Các quy định đƣợc thể hiện rải rác trong nhiều văn bản với mức độ ghi nhận khác nhau. Việc quy định về chủ thể, đối tƣợng, nội dung phản biện vẫn còn chƣa có tính đồng bộ, thống nhất. Trong tƣ duy của nhà làm luật, đây vẫn đƣợc xem là chức năng riêng có của MTTQ mà chƣa thực sự đƣợc xem nhƣ là một quyền của mọi công dân mà nhà nƣớc phải có trách nhiệm ghi nhận, tôn trọng 4 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, NXb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.
5 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, tlđd. luan an 3 và bảo đảm. Một số quy định pháp lý tạo cơ sở nền tảng thuận lợi cho việc vận hành hoạt động PBXH vẫn chƣa đƣợc ban hành hoặc nếu đã ban hành thì vẫn còn chƣa phù hợp hoặc chƣa đƣợc thực thi một cách có hiệu quả… Việc thiếu thể chế pháp lý đồng bộ, thống nhất cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho hoạt động PBXH trên thực tế vẫn chƣa đạt đƣợc hiệu quả nhƣ mong muốn. Thứ hai, hoạt động PBXH còn hình thức, thiếu tính chủ đông, kịp thời; chất lƣợng PBXH chƣa cao; năng lực các chủ thể phản biện còn hạn chế; việc tiếp thu, phản hồi ý kiến PBXH vẫn chƣa đƣợc chủ thể nhận phản biện quan tâm và thực hiện một cách thực chất, bài bản… Thứ ba, quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội và sự tham gia của ngƣời dân vào hoạt động quản lý nhà nƣớc còn nhiều hạn chế.
Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đã đem lại cho đất nƣớc ta nhiều thành tựu quan trọng, mà trong đó không thể không kể đến việc dân chủ hóa các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ kinh tế đến chính trị, văn hóa, xã hội., thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn và hệ trọng của đất nƣớc. Tuy nhiên, những bƣớc tiến về dân chủ xã hội vẫn còn rất khiêm tốn, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của cuộc sống, đặc biệt khi vẫn còn quá nhiều vấn đề đặt ra trong hoạt động quản lý, điều hành đất nƣớc đòi hỏi phải nhanh chóng có bƣớc chuyển mạnh mẽ hơn về dân chủ. Hệ thống chính sách, pháp luật vẫn còn nhiều bất cập, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của thực tiễn. Sự tham gia của ngƣời dân vào hoạt động quản lý nhà nƣớc, xã hội, xây dựng chính sách, pháp luật vẫn còn hạn chế.
Vai trò giám sát của ngƣời dân chƣa đƣợc phát huy mạnh mẽ. Quyền làm chủ của ngƣời dân ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực vẫn còn bị vi phạm, vẫn còn biểu hiện của dân chủ hình thức. Trong bối cảnh hiện nay, xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền (NNPQ) xã hội chủ nghĩa (XHCN) của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân vẫn luôn đƣợc xem là một nhiệm vụ chiến lƣợc của đất nƣớc, nhiệm vụ trọng tâm của cả hệ thống chính trị. Giá trị của NNPQ chính là ở sự phát huy dân chủ, nguyên tắc tổ chức quyền lực đƣợc vận hành một cách dân chủ, quyền con ngƣời và quyền công dân đƣợc tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục đƣa ra định hƣớng phát triển đất nƣớc trong giai đoạn sắp tới, trong đó nhấn mạnh việc xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN trong sạch, vững mạnh, luan an 4 tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nƣớc. Xây dựng nền hành chính nhà nƣớc phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch. Văn kiện cũng đƣa ra yêu cầu: tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ; đa dạng hóa các hình thức vận động, tập hợp, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp Nhân dân cũng như tiếp tục cụ thể hóa phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; thực hiện tốt, có hiệu quả trong thực tế dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, dân chủ cơ sở… Bên cạnh đó, yêu cầu xây dựng và vận hành nền quản trị quốc gia tốt, hiện đại trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0 lấy ngƣời dân và sự tham gia của họ làm trung tâm đòi hỏi cần nâng cao chất lƣợng, hiệu quả của PBXH. Toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0 tạo nhiều thuận lợi cũng nhƣ thách thức cho các nƣớc, đặc biệt là các nƣớc đang phát triển nhu cầu phải nhanh chóng thích nghi với những xu hƣớng tiến bộ, hợp quy luật.
Ở Việt Nam, việc mở cửa, hội nhập quốc tế trong thời đại bùng nổ thông tin là một thuận lợi lớn khi ngƣời dân ngày càng có nhiều cơ hội tiếp cận thông tin mới của thế giới, của khoa học kỹ thuật hiện đại, từ đó mà tạo môi trƣờng, điều kiện cho việc mở mang và nâng cao dân trí, mở rộng thông tin. Sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng công nghiệp 4.0 cũng đã tạo nên những thay đổi trong cách tiếp cận cũng nhƣ những yêu cầu của quản trị nhà nƣớc. Mô hình quản trị tốt /quản trị hiện đại với các nguyên tắc pháp quyền, công khai, minh bạch, hiệu lực và hiệu quả dựa trên nền tảng mới về dân chủ, ngƣời dân có vai trò chủ động và quan trọng trong tất cả các quá trình quản trị, từ ban hành, quyết định và thực thi chính sách, pháp luật. Trong mô hình này, ngƣời dân và các chủ thể khác trong xã hội đƣợc xem nhƣ một “đối tác” của nhà nƣớc, cùng nhau phối hợp vì các mục tiêu chung: Ngƣời dân đƣợc quyền tham gia vào các quyết sách của nhà nƣớc, còn nhà nƣớc thì phải bảo đảm thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.