Luận Án Tiến Sĩ Về Phản Biện Xã Hội Trong Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Tại Việt Nam

Luận án tiến sĩ phân tích vai trò của phản biện xã hội trong xây dựng nhà nước pháp quyền tại Việt Nam, góp phần nâng cao chất lượng quản lý.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ luật học

2021

195
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN TẠI VIỆT NAM

1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của phản biện xã hội trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền tại Việt Nam

1.2. Chủ thể phản biện xã hội trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam

1.3. Đối tượng, nội dung phản biện xã hội trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam

1.4. Hình thức phản biện xã hội trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam

1.5. Các điều kiện đảm bảo thực hiện phản biện xã hội trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam

1.6. Các yếu tố tác động đến phản biện xã hội trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam

1.7. Thực hiện phản biện xã hội tại một số quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm đối với Việt Nam

1.8. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHẢN BIỆN XÃ HỘI TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN TẠI VIỆT NAM

2.1. Thực trạng pháp luật về phản biện xã hội

2.2. Về chủ thể phản biện xã hội

2.3. Về đối tượng, nội dung phản biện xã hội

2.4. Về hình thức phản biện xã hội

2.5. Nhận xét, đánh giá chung quy định pháp luật hiện hành về phản biện xã hội

2.6. Thực tiễn phản biện xã hội tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

2.7. Hạn chế, bất cập và nguyên nhân

2.8. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHẢN BIỆN XÃ HỘI TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN TẠI VIỆT NAM

3.1. Nhu cầu tiếp tục thực hiện phản biện xã hội trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam

3.2. Các quan điểm thực hiện phản biện xã hội đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam

3.3. Các giải pháp bảo đảm thực hiện phản biện xã hội trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam

3.3.1. Tăng cường nhận thức của chủ thể lãnh đạo, quản lý về phản biện xã hội

3.3.2. Hoàn thiện thể chế về phản biện xã hội

3.3.2.1. Tổ chức thực hiện có hiệu quả các quy định pháp luật hiện hành về lấy ý kiến người dân trong quá trình xây dựng pháp luật
3.3.2.2. Rèn luyện năng lực, bản lĩnh của các chủ thể phản biện xã hội. Xác định rõ trách nhiệm phản biện xã hội của báo chí
3.3.2.3. Tạo ra môi trường tự do ngôn luận, hình thành văn hóa tranh luận trong xã hội

3.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khái niệm và vai trò của phản biện xã hội

Trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền tại Việt Nam, phản biện xã hội (PBXH) được xem là một công cụ quan trọng để thực hiện quyền con người và quyền công dân. PBXH không chỉ là một hình thức thể hiện quyền tự do ngôn luận mà còn là một phương thức để người dân tham gia vào quá trình quản lý nhà nước. Theo Hiến pháp 2013, quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội được ghi nhận rõ ràng, tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền này. PBXH giúp tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân. Điều này thể hiện rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật, nơi mà PBXH được xác định là một chức năng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Như vậy, PBXH không chỉ là một quyền mà còn là một trách nhiệm của công dân trong việc giám sát và tham gia vào các quyết định của nhà nước.

1.1. Đặc điểm của phản biện xã hội

PBXH có những đặc điểm nổi bật như tính đa dạng về hình thức và nội dung. Nó có thể diễn ra qua nhiều kênh khác nhau, từ các cuộc họp cộng đồng đến các phương tiện truyền thông. Đặc biệt, PBXH còn thể hiện sự tham gia của người dân trong việc xây dựng chính sách và pháp luật. Điều này không chỉ giúp nâng cao nhận thức của người dân về quyền lợi và nghĩa vụ của mình mà còn tạo ra một môi trường dân chủ, nơi mà ý kiến của công dân được lắng nghe và tôn trọng. Hơn nữa, PBXH còn góp phần vào việc phát triển bền vững, khi mà các ý kiến phản biện được xem xét và đưa vào quá trình ra quyết định của nhà nước.

II. Thực trạng phản biện xã hội tại Việt Nam

Mặc dù PBXH đã được ghi nhận trong các văn bản pháp luật, thực trạng cho thấy còn nhiều hạn chế trong việc thực hiện. Các quy định về PBXH vẫn còn rải rác và thiếu tính đồng bộ, dẫn đến việc khó khăn trong việc thực hiện quyền này. Nhiều công dân vẫn chưa nhận thức đầy đủ về quyền lợi của mình trong việc tham gia vào các hoạt động PBXH. Hơn nữa, sự tham gia của người dân vào quá trình quản lý nhà nước còn hạn chế, thể hiện qua việc ít có ý kiến phản biện được tiếp thu và thực hiện. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng của các quyết định chính sách mà còn làm giảm niềm tin của người dân vào các cơ quan nhà nước.

2.1. Những hạn chế trong thực hiện phản biện xã hội

Một trong những hạn chế lớn nhất là sự thiếu hụt về cơ chế và quy trình thực hiện PBXH. Nhiều quy định pháp luật chưa được thực thi một cách hiệu quả, dẫn đến việc người dân không có cơ hội để tham gia vào quá trình ra quyết định. Bên cạnh đó, sự thiếu minh bạch trong các hoạt động của nhà nước cũng làm giảm khả năng tham gia của người dân. Hơn nữa, việc thiếu sự hỗ trợ từ các cơ quan chức năng trong việc tạo điều kiện cho PBXH diễn ra cũng là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. Do đó, cần có những giải pháp cụ thể để khắc phục những hạn chế này, nhằm nâng cao hiệu quả của PBXH trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả phản biện xã hội

Để nâng cao hiệu quả của PBXH, cần có những giải pháp đồng bộ và cụ thể. Trước hết, cần hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến PBXH, đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất trong các quy định. Thứ hai, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức của người dân về quyền và nghĩa vụ của mình trong việc tham gia PBXH. Thứ ba, cần tạo ra các kênh thông tin và phản hồi hiệu quả, giúp người dân dễ dàng tiếp cận và tham gia vào các hoạt động PBXH. Cuối cùng, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội trong việc thực hiện PBXH, nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của công dân được bảo vệ và thực hiện một cách hiệu quả.

3.1. Hoàn thiện thể chế về phản biện xã hội

Việc hoàn thiện thể chế về PBXH là rất cần thiết để đảm bảo quyền lợi của công dân. Cần xây dựng các quy định cụ thể về chủ thể, đối tượng và nội dung của PBXH, nhằm tạo ra một khung pháp lý rõ ràng cho hoạt động này. Đồng thời, cần có các cơ chế giám sát và đánh giá hiệu quả của PBXH, từ đó có những điều chỉnh kịp thời để nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động này. Hơn nữa, việc tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi cho PBXH sẽ góp phần thúc đẩy sự tham gia của người dân vào quá trình quản lý nhà nước, từ đó nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Quyền tự do ngôn luận, tự do thể hiện tƣ tƣởng và biểu đạt quan điểm đã đƣợc các thể chế dân chủ trên thế giới thừa nhận trên cơ sở các nguyên tắc, tiêu chuẩn quốc tế và khu vực. Quyền này luôn xuất hiện, tồn tại, đƣợc ghi nhận, tôn trọng và đƣợc bảo đảm trong các xã hội dân chủ, đƣợc xem nhƣ là thƣớc đo mức độ dân chủ của một xã hội. Và phản biện xã hội (PBXH) chính là một hình thức để thể hiện quyền dân chủ đó.

Xét về bản chất chính trị - pháp lý, thì PBXH là một hình thức thực hiện các quyền dân chủ của cá nhân đã đƣợc Việt Nam cam kết thực hiện trong Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự và chính trị.Mọi ngƣời đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp.Mọi ngƣời có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dƣới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phƣơng tiện thông tin đại chúng nào tuỳ theo sự lựa chọn của họ”1. Mọi công dân đều có quyền và cơ hội để “tham gia vào việc điều hành các công việc xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua các đại diện đƣợc họ tự do lựa chọn”2. Nhƣ vậy, quyền tự do ngôn luận đƣợc hiểu chính là tiền đề, là điều kiện cơ bản cần thiết để ngƣời dân thực hiện PBXH, và PBXH cũng chính là một bƣớc phát triển cao của hình thức nhân dân chủ động tham gia vào quá trình quản lý nhà nƣớc và xã hội.

PBXH còn đƣợc xem nhƣ là một phƣơng thức để nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nƣớc. Tại Việt Nam, lần đầu tiên, cụm từ phản biện xã hội xuất hiện tại Văn kiện đại hội Đảng lần thứ X gắn liền với vai trò của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) - tổ chức đại diện cho tiếng nói của nhân dân. Mục VI Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khoá IX về các Văn kiện Đại hội X đã chỉ rõ: Nhà nước ban hành cơ chế để MTTQ và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát và PBXH…3. 1 Điều 19 Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966 2 Điều 25 Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966 3 Báo cáo của Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khoá IX về các Văn kiện Đại hội X của Đảng.

luan an 2 Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI, XII lại tiếp tục khẳng định “Hoàn thiện cơ chế để nhân dân đóng góp ý kiến, PBXH và giám sát công việc của Đảng và Nhà nước, nhất là các chính sách kinh tế, xã hội, về quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển quan trọng”4; “Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả, thực hiện tốt vai trò giám sát và PBXH”5. Trên cơ sở văn kiện Đảng tại các kỳ đại hội, PBXH cũng đƣợc tiếp tục ghi nhận trong Hiến pháp và một số văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) có liên quan. Hiến pháp Việt Nam 2013 tiếp tục kế thừa Hiến pháp 1992 và có sửa đổi bổ sung quy định về một số quyền con ngƣời, quyền công dân có nội dung liên quan mật thiết đến PBXH nhƣ quyền đƣợc thông tin, quyền tự do ngôn luận, quyền trƣng cầu ý dân, quyền tham gia quản lý nhà nƣớc và xã hội. Điều 28 Hiến pháp quy định: “1.Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước.

Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân”. Đặc biệt, Hiến pháp 2013 cũng chính thức ghi nhận PBXH với tính chất là một chức năng của MTTQ Việt Nam. Quy định này lại tiếp tục đƣợc cụ thể hóa tại Luật MTTQ Việt Nam 2015, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2020… Tuy nhiên, dù hoạt động PBXH đã đƣợc ghi nhận thành chủ trƣơng, định hƣớng của Đảng, cũng nhƣ đã đƣợc thể chế hóa trong một số văn bản quy phạm pháp luật, nhƣng vẫn còn tồn tại không ít bất cập, hạn chế khi bàn về PBXH. Thứ nhất, thể chế về PBXH chƣa đầy đủ và còn nhiều hạn chế cả về nội dung và hình thức pháp lý.

Các quy định đƣợc thể hiện rải rác trong nhiều văn bản với mức độ ghi nhận khác nhau. Việc quy định về chủ thể, đối tƣợng, nội dung phản biện vẫn còn chƣa có tính đồng bộ, thống nhất. Trong tƣ duy của nhà làm luật, đây vẫn đƣợc xem là chức năng riêng có của MTTQ mà chƣa thực sự đƣợc xem nhƣ là một quyền của mọi công dân mà nhà nƣớc phải có trách nhiệm ghi nhận, tôn trọng 4 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, NXb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.

5 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, tlđd. luan an 3 và bảo đảm. Một số quy định pháp lý tạo cơ sở nền tảng thuận lợi cho việc vận hành hoạt động PBXH vẫn chƣa đƣợc ban hành hoặc nếu đã ban hành thì vẫn còn chƣa phù hợp hoặc chƣa đƣợc thực thi một cách có hiệu quả… Việc thiếu thể chế pháp lý đồng bộ, thống nhất cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho hoạt động PBXH trên thực tế vẫn chƣa đạt đƣợc hiệu quả nhƣ mong muốn. Thứ hai, hoạt động PBXH còn hình thức, thiếu tính chủ đông, kịp thời; chất lƣợng PBXH chƣa cao; năng lực các chủ thể phản biện còn hạn chế; việc tiếp thu, phản hồi ý kiến PBXH vẫn chƣa đƣợc chủ thể nhận phản biện quan tâm và thực hiện một cách thực chất, bài bản… Thứ ba, quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội và sự tham gia của ngƣời dân vào hoạt động quản lý nhà nƣớc còn nhiều hạn chế.

Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đã đem lại cho đất nƣớc ta nhiều thành tựu quan trọng, mà trong đó không thể không kể đến việc dân chủ hóa các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ kinh tế đến chính trị, văn hóa, xã hội., thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn và hệ trọng của đất nƣớc. Tuy nhiên, những bƣớc tiến về dân chủ xã hội vẫn còn rất khiêm tốn, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của cuộc sống, đặc biệt khi vẫn còn quá nhiều vấn đề đặt ra trong hoạt động quản lý, điều hành đất nƣớc đòi hỏi phải nhanh chóng có bƣớc chuyển mạnh mẽ hơn về dân chủ. Hệ thống chính sách, pháp luật vẫn còn nhiều bất cập, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của thực tiễn. Sự tham gia của ngƣời dân vào hoạt động quản lý nhà nƣớc, xã hội, xây dựng chính sách, pháp luật vẫn còn hạn chế.

Vai trò giám sát của ngƣời dân chƣa đƣợc phát huy mạnh mẽ. Quyền làm chủ của ngƣời dân ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực vẫn còn bị vi phạm, vẫn còn biểu hiện của dân chủ hình thức. Trong bối cảnh hiện nay, xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền (NNPQ) xã hội chủ nghĩa (XHCN) của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân vẫn luôn đƣợc xem là một nhiệm vụ chiến lƣợc của đất nƣớc, nhiệm vụ trọng tâm của cả hệ thống chính trị. Giá trị của NNPQ chính là ở sự phát huy dân chủ, nguyên tắc tổ chức quyền lực đƣợc vận hành một cách dân chủ, quyền con ngƣời và quyền công dân đƣợc tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục đƣa ra định hƣớng phát triển đất nƣớc trong giai đoạn sắp tới, trong đó nhấn mạnh việc xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN trong sạch, vững mạnh, luan an 4 tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nƣớc. Xây dựng nền hành chính nhà nƣớc phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch. Văn kiện cũng đƣa ra yêu cầu: tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ; đa dạng hóa các hình thức vận động, tập hợp, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp Nhân dân cũng như tiếp tục cụ thể hóa phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; thực hiện tốt, có hiệu quả trong thực tế dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, dân chủ cơ sở… Bên cạnh đó, yêu cầu xây dựng và vận hành nền quản trị quốc gia tốt, hiện đại trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0 lấy ngƣời dân và sự tham gia của họ làm trung tâm đòi hỏi cần nâng cao chất lƣợng, hiệu quả của PBXH. Toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0 tạo nhiều thuận lợi cũng nhƣ thách thức cho các nƣớc, đặc biệt là các nƣớc đang phát triển nhu cầu phải nhanh chóng thích nghi với những xu hƣớng tiến bộ, hợp quy luật.

Ở Việt Nam, việc mở cửa, hội nhập quốc tế trong thời đại bùng nổ thông tin là một thuận lợi lớn khi ngƣời dân ngày càng có nhiều cơ hội tiếp cận thông tin mới của thế giới, của khoa học kỹ thuật hiện đại, từ đó mà tạo môi trƣờng, điều kiện cho việc mở mang và nâng cao dân trí, mở rộng thông tin. Sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng công nghiệp 4.0 cũng đã tạo nên những thay đổi trong cách tiếp cận cũng nhƣ những yêu cầu của quản trị nhà nƣớc. Mô hình quản trị tốt /quản trị hiện đại với các nguyên tắc pháp quyền, công khai, minh bạch, hiệu lực và hiệu quả dựa trên nền tảng mới về dân chủ, ngƣời dân có vai trò chủ động và quan trọng trong tất cả các quá trình quản trị, từ ban hành, quyết định và thực thi chính sách, pháp luật. Trong mô hình này, ngƣời dân và các chủ thể khác trong xã hội đƣợc xem nhƣ một “đối tác” của nhà nƣớc, cùng nhau phối hợp vì các mục tiêu chung: Ngƣời dân đƣợc quyền tham gia vào các quyết sách của nhà nƣớc, còn nhà nƣớc thì phải bảo đảm thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận Án Tiến Sĩ Về Phản Biện Xã Hội Trong Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Tại Việt Nam" của tác giả Lê Thị Thiều Hoa, dưới sự hướng dẫn của TS. Dương Thị Thanh Mai và TS. Đoàn Thị Tố Uyên, tập trung vào vai trò của phản biện xã hội trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền tại Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ khái niệm và tầm quan trọng của phản biện xã hội mà còn phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình này trong bối cảnh pháp lý và chính trị hiện nay. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ việc hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa phản biện xã hội và sự phát triển của nhà nước pháp quyền, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến pháp luật và nhà nước, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai tại huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, nơi đề cập đến các quy định pháp luật liên quan đến quyền lợi của người dân trong lĩnh vực đất đai, hay Nghiên cứu yếu tố thúc đẩy học tiếng Anh pháp luật tại Đại học Luật Hà Nội, giúp bạn hiểu thêm về vai trò của giáo dục pháp luật trong việc nâng cao nhận thức xã hội. Cuối cùng, bài viết Thái độ của sinh viên Đại học Luật Hà Nội đối với việc tự học tiếng Anh pháp luật cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự quan tâm của thế hệ trẻ đối với việc học hỏi và phát triển trong lĩnh vực pháp luật.