Tổng quan luận án

Công trình “Phản biện xã hội trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam” là Luận án Tiến sĩ Luật học của tác giả Lê Thị Thiều Hoa, chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật (mã số: 9.06), được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Dương Thị Thanh Mai và TS. Đoàn Thị Tố Uyên, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội (Bộ Tư pháp) năm 2021. Luận án thuộc hướng tiếp cận nghiên cứu định tính kết hợp phân tích chuẩn tắc pháp lý và nghiên cứu tình huống thực tiễn.

Thông tin cơ bản Chi tiết
Tên đề tài Phản biện xã hội trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam
Tác giả Lê Thị Thiều Hoa
Người hướng dẫn 1. TS. Dương Thị Thanh Mai
2. TS. Đoàn Thị Tố Uyên
Cơ sở đào tạo Trường Đại học Luật Hà Nội (Bộ Giáo dục và Đào tạo – Bộ Tư pháp)
Chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số chuyên ngành 9.06
Năm hoàn thành 2021
Loại hình nghiên cứu Nghiên cứu định tính, phân tích chuẩn tắc pháp lý và khảo sát thực tiễn

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt tư tưởng và tham gia quản lý nhà nước là các quyền con người, quyền công dân cơ bản được ghi nhận tại các văn kiện quốc tế như Điều 19 và Điều 25 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR). Phản biện xã hội (PBXH) là một phương thức thực hiện quyền dân chủ trực tiếp, đồng thời là cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước từ phía xã hội.

Tại Việt Nam, thuật ngữ phản biện xã hội được chính thức đưa vào văn kiện Đảng từ Đại hội X (năm 2006) gắn liền với vai trò của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam, tiếp tục được nhấn mạnh tại Đại hội XI, XII, XIII; được hiến định tại Điều 28 và các điều khoản liên quan trong Hiến pháp năm 2013; cụ thể hóa trong Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Tuy nhiên, thực tiễn và thể chế PBXH tại Việt Nam tồn tại nhiều bất cập:

  1. Bất cập về thể chế pháp lý: Quy định còn phân tán, tản mạn, thiếu tính đồng bộ; tư duy lập pháp chủ yếu xem PBXH là chức năng riêng của MTTQ mà chưa nhìn nhận toàn diện dưới góc độ quyền dân chủ hiến định của mọi công dân.
  2. Bất cập về vận hành thực tiễn: Hoạt động PBXH nhiều nơi còn mang tính hình thức, bị động; năng lực chủ thể phản biện chưa đồng đều; cơ chế tiếp thu, phản hồi và giải trình của các cơ quan công quyền chưa thực chất.
  3. Yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền (NNPQ) xã hội chủ nghĩa (XHCN): Bối cảnh hội nhập quốc tế, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và mô hình quản trị quốc gia hiện đại đòi hỏi phải mở rộng sự tham gia của người dân, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về PBXH trong xây dựng NNPQ tại Việt Nam; đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện PBXH; từ đó đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện PBXH có chất lượng, hiệu quả trong giai đoạn mới.

Để đạt được mục tiêu trên, luận án xác định 6 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến PBXH trong xây dựng NNPQ để xác định khoảng trống nghiên cứu.
  2. Làm rõ các vấn đề lý luận: khái niệm, đặc điểm, vai trò, chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức, điều kiện bảo đảm và các yếu tố tác động đến PBXH trong NNPQ.
  3. Nghiên cứu kinh nghiệm thực hiện PBXH tại một số quốc gia trên thế giới và rút ra bài học cho Việt Nam.
  4. Phân tích, đánh giá thực trạng hệ thống văn bản pháp luật về PBXH tại Việt Nam.
  5. Đánh giá thực tiễn thực hiện PBXH giai đoạn hiện nay, chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế, bất cập và nguyên nhân.
  6. Đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện PBXH đáp ứng yêu cầu xây dựng NNPQ tại Việt Nam.

Giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

Giả thuyết nghiên cứu được tác giả xác định: “Phản biện xã hội là một tất yếu khách quan gắn với việc thực hiện quyền công dân, là thước đo mức độ Dân chủ và Pháp quyền trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân ở Việt Nam.”

Để kiểm chứng giả thuyết trên, luận án đặt ra 6 câu hỏi nghiên cứu:

  1. PBXH có phải là một hình thức để thực hiện quyền công dân (đã được Hiến pháp ghi nhận) và trách nhiệm của Nhà nước là công nhận, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ?
  2. PBXH có phải là một cách thức hữu hiệu để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ, kiểm soát hoạt động các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lực nhà nước do nhân dân giao phó/ủy quyền?
  3. Là một hình thức thực hiện quyền dân chủ, chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức PBXH trong quá trình xây dựng NNPQ tại Việt Nam mang những đặc điểm gì?
  4. PBXH trong quá trình xây dựng NNPQ tại Việt Nam chịu tác động, ảnh hưởng của các yếu tố nào?
  5. Thực trạng PBXH và những vấn đề nào đang là trở ngại, thách thức cho việc thực hiện PBXH trong quá trình xây dựng NNPQ ở Việt Nam hiện nay?
  6. Quan điểm và các giải pháp nào bảo đảm cho việc thực hiện PBXH có chất lượng trong quá trình xây dựng NNPQ tại Việt Nam?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận về PBXH trong quá trình xây dựng NNPQ tại Việt Nam; hệ thống quy định pháp luật hiện hành về PBXH; thực tiễn tổ chức và thực hiện PBXH.
  • Phạm vi nội dung và góc độ tiếp cận: Dưới góc độ khoa học luật học, luận án tập trung nghiên cứu hoạt động PBXH đối với việc xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật trên các lĩnh vực kinh tế – xã hội; làm rõ vướng mắc thể chế và điều kiện bảo đảm.
  • Phạm vi thời gian: Về mặt pháp luật, nghiên cứu các quy định từ sau Đại hội Đảng X (2006), trọng tâm là giai đoạn từ sau khi ban hành Hiến pháp năm 2013 đến năm 2020. Về mặt thực tiễn, phân tích dữ liệu, số liệu thống kê và các vụ việc điển hình trong giai đoạn 5 năm (2015 – 2020).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu quốc tế

Tác giả hệ thống hóa các nghiên cứu nước ngoài theo 4 nhóm chủ đề chính:

  1. Mối quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền, dân chủ và kiểm soát quyền lực: Các tác phẩm kinh điển khẳng định nguyên lý quyền lực bắt nguồn từ nhân dân và kiểm soát quyền lực nhà nước như “Bàn về tinh thần pháp luật” của Montesquieu (Hoàng Thanh Đạm dịch, 2004); “Nhà nước pháp quyền” do Josef Thesing biên tập (2002); “Nền dân trị Mỹ” của Alexis de Tocqueville (Phạm Toàn dịch, 2007); “Bàn về Khế ước Xã hội” của Jean-Jacques Rousseau (Hoàng Thanh Đạm dịch, 2004); “Khảo luận thứ hai về chính quyền – Chính quyền Dân sự” của John Locke (Lê Tuấn Huy dịch, 2007).
  2. Quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận và PBXH như điều kiện thực thi quyền con người: Luận điểm về tự do tranh luận của John Stuart Mill trong “Bàn về tự do” (Nguyễn Văn Trọng dịch, 2014); lý thuyết về phê phán xã hội (social criticism) của Michael Walzer trong “Interpretation and Social Criticism” (1985).
  3. Chức năng PBXH của báo chí truyền thông: Tác phẩm “Quyền lực thứ tư và bốn đời tổng bí thư” của Vichto Aphanaxep (1995); hồi ký “Từ thế giới thứ ba đến thế giới thứ nhất: Câu chuyện Singapore 1965 – 2000” của Lý Quang Diệu (1997); báo cáo “Quyền được nói – Vai trò của Truyền thông đại chúng trong Phát triển kinh tế” của Viện Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2006).
  4. Nghiên cứu về các tổ chức xã hội và dân chủ tại Việt Nam: Công trình của Ove Bring và Christer Gunnarsson (Vietnam: Democracy and Human Right, 1998); Straussman (Searching for Balance: Vietnamese NGOs Operating in a State-Led Civil Society, 2004); Eva Hansson (Changing Relations Between the VGCL and the Party-State?, 2001).

Các hướng nghiên cứu trong nước

Luận án điểm lại hệ thống công trình trong nước theo 2 nhóm trọng tâm:

  1. Nhóm nghiên cứu chung về lý luận, thể chế và phương thức PBXH:
    • Đề tài khoa học cấp Nhà nước KX10-06/06-10 do PGS. Trần Hậu làm chủ nhiệm (2010): “Các hình thức và giải pháp thực hiện GSXH và PBXH đối với tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị”.
    • Sách chuyên khảo: “Phản biện xã hội và phát huy dân chủ pháp quyền” của TS. Hồ Bá Thâm và CN. Nguyễn Tôn Thị Tường Vân (2010); “Phản biện xã hội trong hoạt động lập pháp, hoạt động quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, của Quốc hội” của Vũ Hồng Anh, Dương Văn Sao, Đinh Thị Mai (2013); tập tiểu luận “Câu hỏi đặt ra từ cuộc sống: Phản biện xã hội” của TS. Trần Đăng Tuấn (2006).
    • Đề tài, luận văn và chuyên đề: Đề tài cấp Bộ của ThS. Lê Thị Thiều Hoa (2010); Luận văn thạc sĩ của Trương Thị Ngọc Lan (2005), Phạm Thị Thanh Nga (2011); Thông tin Chuyên đề Khoa học pháp lý số 11/2012 của Dương Thanh Mai, Lê Thị Thiều Hoa, Trương Hồng Quang.
    • Các bài báo khoa học của PGS. Nguyễn Minh Đoan, Nguyễn Quang Hiền, PGS. Nguyễn Văn Động, Vũ Văn Nhiệm, Đoàn Minh Huấn, Trần Thái Dương, Vũ Thị Như Hoa, Đỗ Văn Quân, TS. Hoàng Thị Ngân, Nguyễn Quang Vinh...
  2. Nhóm nghiên cứu PBXH dưới góc độ chức năng của MTTQ Việt Nam:
    • Sách của Nguyễn Thọ Ánh (2012); Luận án tiến sĩ của Vũ Thị Như Hoa (2013); Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Phúc Quỳnh (2014), Lê Thị Hồng Diễm (2008); Đề tài cấp Bộ của ThS. Nguyễn Văn Pha (2016).
    • Các bài viết chuyên san của Đỗ Duy Thường, Hoàng Hải, Nguyễn Đăng Dung, Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Trọng Bình, Bùi Xuân Hộ, Trần Ngọc Nhẫn, Đặng Đình Tân...

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Trên cơ sở phân tích tình hình nghiên cứu, luận án xác định 7 khoảng trống cần tiếp tục làm sáng tỏ:

  1. Luận giải sâu sắc nội hàm khái niệm PBXH tiếp cận từ góc độ quyền con người, quyền công dân và là thước đo mức độ dân chủ, pháp quyền trong NNPQ.
  2. Xác định rành mạch chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức và các điều kiện bảo đảm PBXH trong xây dựng NNPQ tại Việt Nam.
  3. Phân tích các yếu tố tác động trực tiếp và gián tiếp đến chất lượng hoạt động PBXH.
  4. Đúc kết kinh nghiệm quốc tế có giá trị tham khảo phù hợp với điều kiện thể chế chính trị Việt Nam.
  5. Đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật về PBXH theo các cấu phần: chủ thể, đối tượng/nội dung, hình thức và cơ chế tiếp thu giải trình.
  6. Đánh giá thực tiễn PBXH tại Việt Nam qua các số liệu thống kê và nghiên cứu tình huống điển hình giai đoạn 2015 – 2020.
  7. Xây dựng hệ thống quan điểm và giải pháp đồng bộ, khả thi nhằm hoàn thiện thể chế và nâng cao chất lượng PBXH.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Hệ thống lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin; Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ quyền nhân dân, nhà nước và pháp luật; các quan điểm, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân chủ, kiểm soát quyền lực nhà nước.
  • Khung lý thuyết tiếp cận:
    • Học thuyết Nhà nước pháp quyền: Nhấn mạnh tính tối thượng của pháp luật, sự giới hạn quyền lực nhà nước và bảo vệ các quyền tự do của công dân.
    • Học thuyết Quyền con người: Xem quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận và tham gia quản lý nhà nước là nền tảng cốt lõi của hoạt động phản biện.
    • Lý thuyết Quản trị xã hội / Quản trị tốt (Good Governance): Hướng tới mô hình quản trị công khai, minh bạch, có trách nhiệm giải trình và lấy sự tham gia của người dân làm trung tâm.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành và liên ngành:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt trong việc phân tích các khái niệm, quy định pháp luật, báo cáo thực tiễn và xây dựng các luận điểm khoa học.
  • Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển của nhận thức lý luận và khung pháp luật về PBXH tại Việt Nam qua các mốc thời gian (Đại hội X, Hiến pháp 2013).
  • Phương pháp luật học so sánh: So sánh quy định pháp luật, mô hình thể chế và phương thức thực hiện phản biện/tham vấn công chúng của Việt Nam với một số quốc gia.
  • Phương pháp thống kê, khảo sát xã hội học: Thu thập, xử lý số liệu hoạt động PBXH của MTTQ và các tổ chức thành viên, các hiệp hội (VUSTA, VCCI); phân tích các tình huống PBXH thực tế điển hình.
  • Phương pháp hệ thống và tiếp cận liên ngành: Đặt PBXH trong chỉnh thể mối quan hệ giữa nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội, báo chí và công dân trong cấu trúc NNPQ XHCN.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, XI, XII, XIII và các nghị quyết chuyên đề của Trung ương.
  • Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013; hệ thống luật chuyên ngành (Luật MTTQ Việt Nam 2015, Luật Ban hành VBQPPL 2015/2020, Luật Tiếp cận thông tin 2016, Luật Báo chí 2016...).
  • Các điều ước quốc tế: Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền 1948 (UDHR), Công ước ICCPR 1966, Công ước Châu Âu về Nhân quyền 1950, Công ước Châu Mỹ về Nhân quyền, Hiến chương Châu Phi về Quyền Con người và Quyền các Dân tộc 1981.
  • Báo cáo tổng kết, số liệu thống kê thực tế về công tác giám sát, phản biện xã hội giai đoạn 2015 – 2020 của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận về phản biện xã hội trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam

Chương 1 tập trung phân tích nguồn gốc ngữ nghĩa, cơ sở lý luận và xác lập khung khái niệm chuẩn xác về PBXH trong mối quan hệ hữu cơ với NNPQ.

1. Định nghĩa và bản chất của PBXH

Về mặt từ nguyên, "phản" nghĩa là xét lại, nhìn từ phía ngược lại; "biện" là tranh luận, biện giải có lý lẽ. Trong tiếng Anh, khái niệm này tương ứng với social criticism (phê phán xã hội) hoặc social counter-argument.

Luận án đưa ra định nghĩa tổng hợp:

“Phản biện xã hội là hoạt động phân tích, đánh giá, lập luận, tranh luận có tính chất độc lập của cá nhân, tổ chức trong xã hội (nhằm) khẳng định hoặc đề xuất thay đổi với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về một hoặc một số vấn đề diễn ra trong hoạt động lãnh đạo, quản lý để hướng tới sự đồng thuận xã hội và hài hoà lợi ích giữa nhà nước, cá nhân, cộng đồng và xã hội.”

Dưới góc độ quyền học thuật và quyền công dân, PBXH được xem là quyền bày tỏ ý kiến có hệ thống, có cơ sở khoa học để thực hiện dân chủ trực tiếp, đòi hỏi Nhà nước phải có trách nhiệm công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm.

2. Phân biệt PBXH với các khái niệm liên quan

Tiêu chí Phản biện xã hội (PBXH) Phản biện khoa học Phản kháng xã hội Góp ý, kiến nghị Trưng cầu dân ý
Bản chất Hoạt động dân chủ trực tiếp, thể hiện quan điểm độc lập của xã hội Thẩm định, đánh giá công trình/kết quả nghiên cứu khoa học Hành vi chống đối cực đoan nhằm gạt bỏ chính sách/phương án Bày tỏ nguyện vọng, đóng góp ý kiến thông thường Hình thức bỏ phiếu trực tiếp quyết định vấn đề quốc gia
Cơ sở lập luận Luận cứ khoa học kết hợp phản ánh lợi ích xã hội Luận cứ khoa học thuần túy, tính hoàn chỉnh cao Cảm tính, cực đoan hoặc lợi dụng danh nghĩa phản biện Không bắt buộc chứng minh bằng luận chứng sâu Thể hiện ý chí đồng ý/không đồng ý qua lá phiếu
Tính tương tác Đòi hỏi đối thoại hai chiều, giải trình, công khai Hội đồng khoa học đánh giá đạt/không đạt Xung đột, áp đặt, tạo áp lực dư luận tiêu cực Một chiều, cơ quan tiếp nhận tùy nghi xem xét Cơ quan nhà nước chủ động hỏi, công dân trả lời

3. Năm đặc điểm cơ bản của PBXH

  1. Luôn hướng tới xem xét, lập luận, phân tích để đề xuất điều chỉnh, thay đổi phương án: PBXH bao gồm cả đánh giá mặt được và chưa được nhưng trọng tâm là chỉ ra bất cập, cảnh báo rủi ro trên tinh thần xây dựng.
  2. Mang tính xã hội sâu sắc và rộng rãi: Chủ thể là các lực lượng nằm ngoài bộ máy quyền lực nhà nước, phản ánh đa dạng các nhóm lợi ích xã hội.
  3. Mang tính độc lập, khách quan: Chủ thể phản biện phải có vị thế độc lập nhất định (về tôn chỉ, tổ chức, chuyên môn) để bảo đảm chính kiến khách quan.
  4. Có tính lan tỏa, tạo hiệu ứng xã hội: Khi phản biện đúng bản chất sự việc và bảo vệ lợi ích công cộng, ý kiến phản biện nhanh chóng tạo được sự đồng thuận trong dư luận.
  5. Mang tính đặc thù trong bối cảnh NNPQ XHCN Việt Nam: Diễn ra dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, không mang tính đối kháng chính trị mà hướng đến củng cố sự đồng thuận và phục vụ nhân dân tốt hơn.

Chương 1 cũng làm rõ các nội dung về chủ thể (cá nhân, tổ chức xã hội, MTTQ, báo chí), đối tượng (chủ trương, chính sách, dự thảo VBQPPL, dự án kinh tế – xã hội), hình thức PBXH (văn bản, hội thảo đối thoại, qua phương tiện truyền thông), các điều kiện bảo đảm và kinh nghiệm quốc tế từ một số quốc gia.


Chương 2: Thực trạng phản biện xã hội trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam

Chương 2 đánh giá thực trạng hệ thống văn bản pháp lý và bức tranh thực tiễn triển khai PBXH tại Việt Nam trong giai đoạn 2015 – 2020.

1. Thực trạng pháp luật về phản biện xã hội

  • Về chủ thể: Pháp luật hiện hành (chủ yếu là Luật MTTQ Việt Nam 2015 và các văn bản hướng dẫn) ghi nhận chủ thể PBXH chính thức mang tính pháp lý chủ yếu là Ủy ban MTTQ các cấp và các tổ chức chính trị – xã hội thành viên. Quyền phản biện của cá nhân công dân, các tổ chức xã hội nghề nghiệp khác (như VUSTA, VCCI, các hội nghề nghiệp) chưa được quy định thành một khung pháp lý thống nhất, bình đẳng.
  • Về đối tượng và nội dung: Quy định đối tượng phản biện khá rộng nhưng ranh giới giữa phản biện với lấy ý kiến góp ý thông thường trong quy trình xây dựng VBQPPL còn mờ nhạt; chưa có quy định bắt buộc đối với một số loại dự án phát triển kinh tế – xã hội nhạy cảm.
  • Về hình thức và quy trình: Các hình thức phản biện (tổ chức hội nghị phản biện, gửi văn bản phản biện, tổ chức đối thoại) đã được định hình nhưng thiếu quy trình chi tiết mang tính ràng buộc pháp lý đối với cơ quan tiếp nhận phản biện trong việc giải trình, tiếp thu.
  • Đánh giá chung: Hệ thống thể chế về PBXH còn thiếu đồng bộ, nằm rải rác ở nhiều văn bản có hiệu lực pháp lý khác nhau, chưa hình thành một đạo luật chung về phản biện xã hội.

2. Thực tiễn hoạt động phản biện xã hội giai đoạn 2015 – 2020

  • Kết quả đạt được: Hoạt động PBXH của MTTQ và các tổ chức thành viên ngày càng đi vào nền nếp; VUSTA đã tổ chức hàng trăm nhiệm vụ tư vấn, phản biện các dự án lớn về môi trường, năng lượng, giao thông; VCCI chủ động phản biện các rào cản chính sách, điều kiện kinh doanh; báo chí phát huy vai trò diễn đàn phản biện nhiều vấn đề bức xúc xã hội.
  • Hạn chế, bất cập:
    • Hoạt động phản biện ở nhiều địa phương, cấp cơ sở còn mang tính hình thức, làm theo phong trào.
    • Chủ thể phản biện thường bị động, nhận dự thảo quá sát ngày lấy ý kiến, thời gian nghiên cứu không đủ.
    • Năng lực chuyên môn sâu của đội ngũ cán bộ phản biện tại các tổ chức chính trị – xã hội còn hạn chế; việc huy động chuyên gia, nhà khoa học độc lập chưa có cơ chế tài chính thỏa đáng.
    • Tình trạng cơ quan chủ trì soạn thảo không phản hồi hoặc phản hồi mang tính chiếu lệ, không giải trình rõ lý do không tiếp thu ý kiến phản biện diễn ra phổ biến.
  • Nguyên nhân của hạn chế:
    • Nguyên nhân nhận thức: Một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý còn tư tưởng e ngại phản biện, xem phản biện là sự cản trở hoặc đối lập.
    • Nguyên nhân thể chế: Thiếu chế tài xử lý cơ quan không thực hiện trách nhiệm giải trình và tiếp thu phản biện; cơ chế tài chính và cung cấp thông tin cho hoạt động PBXH chưa bảo đảm.
    • Nguyên nhân văn hóa – xã hội: Văn hóa tranh luận, đối thoại dân chủ trong xã hội chưa được hình thành vững chắc; tâm lý e dè, ngại va chạm của người dân và chuyên gia.

Chương 3: Quan điểm, giải pháp bảo đảm thực hiện phản biện xã hội trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam

Chương 3 luận giải nhu cầu tất yếu, xác định hệ thống quan điểm chỉ đạo và đề xuất 6 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm bảo đảm thực hiện PBXH hiệu quả trong NNPQ.

1. Nhu cầu và quan điểm định hướng

  • Nhu cầu: Hoàn thiện NNPQ XHCN đòi hỏi phát huy dân chủ thực chất; thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước; đáp ứng chuẩn mực quản trị quốc gia hiện đại trong kỷ nguyên số hóa.
  • Quan điểm chỉ đạo:
    • PBXH phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, phục vụ mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
    • Phải coi PBXH là quyền của công dân và tổ chức xã hội, gắn liền với trách nhiệm công nhận, tôn trọng, bảo đảm của Nhà nước.
    • Kết hợp chặt chẽ giữa dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp; bảo đảm tính độc lập, khoa học, khách quan của hoạt động phản biện.

2. Hệ thống giải pháp cụ thể

  1. Tăng cường nhận thức của chủ thể lãnh đạo, quản lý về PBXH: Đổi mới tư duy của cán bộ, công chức; xem PBXH là kênh tham vấn chính sách khách quan, hữu ích; khắc phục thái độ định kiến, né tránh đối thoại.
  2. Hoàn thiện thể chế pháp luật về PBXH:
    • Xây dựng khung pháp lý đồng bộ, tiến tới ban hành văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực cao điều chỉnh toàn diện hoạt động PBXH.
    • Mở rộng phạm vi chủ thể phản biện hợp pháp (công dân, hội nghề nghiệp, tổ chức nghiên cứu độc lập).
    • Quy định rõ ràng quy trình, thời hạn và chế tài bắt buộc đối với cơ quan nhà nước trong việc tiếp thu, giải trình công khai ý kiến phản biện.
  3. Tổ chức thực hiện hiệu quả các quy định về lấy ý kiến nhân dân trong xây dựng pháp luật: Khắc phục việc lấy ý kiến hình thức; kéo dài thời gian tham vấn; ứng dụng cổng thông tin điện tử, dữ liệu số để người dân tiếp cận dự thảo dễ dàng và đóng góp ý kiến thuận tiện.
  4. Rèn luyện năng lực, bản lĩnh của các chủ thể PBXH: Nâng cao trình độ chuyên môn, phương pháp nghiên cứu và tính chuyên nghiệp của đội ngũ chuyên gia; bảo đảm nguồn lực tài chính, kinh phí độc lập cho các hội đồng phản biện.
  5. Xác định rõ trách nhiệm phản biện xã hội của báo chí: Phát huy vai trò của báo chí như một diễn đàn phản biện độc lập, có trách nhiệm; bảo vệ an toàn cho nhà báo khi thực hiện phản biện các vụ việc tiêu cực, lãng phí.
  6. Tạo lập môi trường tự do ngôn luận và hình thành văn hóa tranh luận trong xã hội: Xây dựng môi trường dân chủ, cởi mở; khuyến khích tinh thần tranh luận khoa học, tôn trọng sự khác biệt trên cơ sở thượng tôn pháp luật.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án bổ sung, làm sâu sắc thêm hệ thống lý luận về PBXH trong NNPQ: Chuyển dịch căn bản góc độ tiếp cận từ việc chỉ coi PBXH là chức năng của một tổ chức chính trị – xã hội sang tiếp cận PBXH như một quyền con người, quyền công dân cơ bản gắn liền với quyền tự do ngôn luận và tham gia quản lý nhà nước.
  • Xác lập khung lý thuyết hoàn chỉnh về PBXH trong NNPQ XHCN Việt Nam: Phân định rành mạch giữa PBXH với phản biện khoa học, phản kháng xã hội, góp ý kiến và trưng cầu dân ý; xác định 5 đặc điểm đặc thù của PBXH tại Việt Nam.
  • Khẳng định tính tất yếu của PBXH như một thước đo mức độ dân chủ và pháp quyền của thể chế chính trị.

Đóng góp về mặt thực tiễn và chính sách

  • Phân tích bức tranh thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành PBXH giai đoạn 2015 – 2020, chỉ ra điểm nghẽn cốt lõi là thiếu vắng cơ chế giải trình bắt buộc và thiếu chế tài xử lý trách nhiệm cơ quan công quyền.
  • Đề xuất hệ thống 6 nhóm giải pháp đồng bộ có tính ứng dụng trực tiếp cho công tác lập pháp, hoạch định chính sách và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức chính trị – xã hội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung chủ yếu dưới góc độ khoa học luật học và lý luận chung về nhà nước và pháp luật; phạm vi khảo sát thực tiễn tập trung vào các chính sách, dự án kinh tế – xã hội và hoạt động của một số chủ thể tiêu biểu (MTTQ, VUSTA, VCCI) trong giai đoạn 2015 – 2020. Luận án chưa đi sâu phân tích hoạt động phản biện trong các lĩnh vực đặc thù như quốc phòng, an ninh hoặc tổ chức bộ máy nội bộ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Nghiên cứu cơ chế tài phán hoặc chế tài hành chính cụ thể để xử lý vi phạm nghĩa vụ tiếp thu, giải trình phản biện của cơ quan nhà nước.
    • Nghiên cứu tác động của chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu mở đối với việc mở rộng không gian PBXH của công dân.
    • Nghiên cứu cơ chế tài chính độc lập và mô hình tổ chức của các viện nghiên cứu chính sách độc lập (think tank) tham gia PBXH tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho nhiều đối tượng:

Đối tượng Giá trị và nội dung tham khảo
Nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Luật học, Chính trị học Tham khảo khung lý thuyết về quyền công dân, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, NNPQ và hệ thống khái niệm, phương pháp phân tích chuẩn tắc tại Chương 1.
Cơ quan soạn thảo văn bản và đại biểu dân cử Tham khảo quy trình tổ chức tham vấn, lấy ý kiến nhân dân, quy định về trách nhiệm giải trình và tiếp thu phản biện tại Chương 2 và Chương 3.
Cán bộ Mặt trận Tổ quốc, các hội khoa học, hiệp hội ngành nghề Tham khảo các điều kiện bảo đảm năng lực phản biện, mô hình tổ chức hội nghị phản biện và phương thức xây dựng báo cáo phản biện độc lập.
Cơ quan báo chí, truyền thông Tham khảo cơ sở pháp lý và lý luận về chức năng phản biện của báo chí, giới hạn quyền tự do báo chí và bảo đảm văn hóa tranh luận chuẩn mực.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án đưa ra định nghĩa phản biện xã hội như thế nào?

Luận án định nghĩa: PBXH là hoạt động phân tích, đánh giá, lập luận, tranh luận có tính chất độc lập của cá nhân, tổ chức trong xã hội nhằm khẳng định hoặc đề xuất thay đổi với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về một hoặc một số vấn đề diễn ra trong hoạt động lãnh đạo, quản lý để hướng tới sự đồng thuận xã hội và hài hòa lợi ích giữa nhà nước, cá nhân, cộng đồng và xã hội.

2. PBXH khác biệt như thế nào so với phản biện khoa học và phản kháng xã hội?

  • So với phản biện khoa học: Phản biện khoa học đòi hỏi sự hoàn chỉnh cao về mặt logic khoa học thuần túy; trong khi PBXH phản ánh cả các yếu tố lợi ích chính trị – kinh tế – xã hội của các nhóm dân cư đa dạng.
  • So với phản kháng xã hội: PBXH mang động cơ xây dựng tích cực, dùng luận cứ khoa học để hoàn thiện quyết sách; ngược lại phản kháng mang tính chất chống đối cực đoan nhằm gạt bỏ phương án.

3. Tại sao luận án tiếp cận PBXH trước hết là quyền của công dân?

Vì xét về bản chất chính trị – pháp lý, PBXH là hình thức thực hiện quyền dân chủ trực tiếp xuất phát từ quyền tự do ngôn luận, tự do tư tưởng được hiến định và công nhận trong các công ước quốc tế. Do đó, PBXH trước hết là quyền của mọi cá nhân (tự mình thực hiện hoặc thông qua tổ chức đại diện), và Nhà nước có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực thi.

4. Đâu là điểm nghẽn thể chế lớn nhất của hoạt động PBXH tại Việt Nam hiện nay?

Theo luận án, điểm nghẽn lớn nhất là hệ thống pháp luật còn tản mạn, chưa đồng bộ; thiếu vắng quy trình chi tiết mang tính bắt buộc và chế tài pháp lý ràng buộc các cơ quan soạn thảo, cơ quan quản lý nhà nước phải tiếp thu, giải trình công khai các ý kiến phản biện xã hội.

5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp chủ yếu nào?

Luận án đề xuất 6 nhóm giải pháp: (1) Tăng cường nhận thức của chủ thể lãnh đạo, quản lý; (2) Hoàn thiện thể chế pháp luật về PBXH; (3) Tổ chức thực hiện hiệu quả quy định lấy ý kiến nhân dân; (4) Rèn luyện năng lực, bản lĩnh chủ thể phản biện; (5) Xác định rõ trách nhiệm phản biện của báo chí; (6) Tạo lập môi trường tự do ngôn luận và văn hóa tranh luận trong xã hội.


Kết luận

Luận án Tiến sĩ Luật học của tác giả Lê Thị Thiều Hoa là một công trình nghiên cứu hệ thống và toàn diện về phản biện xã hội trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Bằng việc tiếp cận phản biện xã hội dưới góc độ quyền con người, quyền công dân và công cụ kiểm soát quyền lực nhà nước, luận án đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận, chỉ rõ những bất cập thể chế và thực tiễn thi hành giai đoạn 2015 – 2020. Hệ thống 6 nhóm giải pháp do luận án đề xuất có ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn quan trọng, đóng góp thiết thực cho quá trình hoàn thiện thể chế pháp lý và nâng cao hiệu quả thực hành dân chủ tại Việt Nam.