Chương 1: Cơ sé lý luận về phản tiên xã hội của Mat trận Tô quốc Việt Nam trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Chương 2: Thực trang pháp luật và thực tiễn hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tô quốc Việt Nam trong xây dung văn bản quy phạm pháp luật Chương 3: Quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phân biên xã hội của Mặt trận Tô quốc Việt Nam trong công tác xây dựng văn bản pháp luật. NỘI DUNG CHƯƠNG1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE PHAN BIEN XÃ HỘI CUA MAT TRAN TO QUOC VIET NAM TRONG XAY DUNG VAN BAN QUY PHAM PHAPLUAT 1. Khái niệm phản biện xã hội của Mặt trận To quốc Việt Nam trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật 1.
Định nghĩa phan biệu xã hội của Mat trim Tô quốc Việt Nam troug xây đựng vim ban qmy phạm pháp luật 11. Khải nêm xân dưng văn ban quy phạm pháp luật Ngày nay pháp luật trở thành công cụ hàng đầu, quan trọng và có hiệu quả nhất, công cụ không thé thay thé để điều chỉnh các môi quan hệ xã hội, quản lý xã hội. “Pháp luật nỗi lên nue là một công cụ “thép”, có hiệu lực mang tính wy quyển của nhà nước. Pháp luật là hat nhân, giữvi trí trưng tâm trong hệ thông các quy tắc xã hội ”.1 G khia cạnh chính trị, xây dung pháp luật là hoạt động nham thé biện ý chi nha nude thành pháp luật, còn ở khía canh kĩ thuật pháp li thi đó là hoạt động sáng tao pháp luật từ việc đưa ra sáng kiên lap phép, soạn thảo, đền việc lay ý kiên, thông qua và công bó VBQPPL dé hành thành hệ thống các quy đính pháp luật? Vé bản chất “xây đụng pháp luật là hoạt động nhầm tạo ra các guy phạm pháp luật chứa đựng trong các VBOPPL”.
Qua đỏ có thé thay, xây dung pháp luật hay con gọi là xây dung VBQPPL chính là mét trong những hinh thizc quan trong nham thực biện chức năng nha rước ở mỗi quốc gia, nhằm xây dung mot hệ thông pháp luật lam cơ sở pháp lý cho việc quản lý nha tước, quan lý xã hội, phát triển kinh té - xã hội, cũng có quốc phòng an ninh và hội nhập kinh tê quốc tê. Từ nội dung phân tích trên, hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật mang một sô đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, xây dựng văn bên quy pham pháp luật là hoạt động do các cơ quan có thấm quyên và cá nhân được trao quyên thực hiện hoặc phối hợp với các chủ thé khác theo quy dinh đã ban hành ra các VBOPPL. Việc ban hành VBOPPL được trao cho Quốc là cơ quan hôi, với tư cách lập pháp. có quyên Thứ hai, xây dựng van bản quy pham pháp luật là hoat động được tiền hành: theo 1mm Mà Gy ene k6 aan: iy gud ở (À4nghệ Nat Đền Đúc 11.2012, tr 7 trình tự, thi tục chặt chế do pháp luật quy dinh Xuất phát từ ban chất của hoạt động xây đừng pháp luật là một hiện tượng xã hội, một hoạt đông chính tri - xã hội, đông thời là hoạt đông kỹ thuật phức tạp, mang tính tô chức, bao gồm nhiéu hoạt đồng nghiệp vụ nói tiếp nhau theo nhũng trình tự nhất định ma giai đoạn này là tiên đề, cơ sở cho giai đoạn tiếp theo dé cho ra đời một VBQPPL.
Trên cơ sở những nhận thức chung ké trên, có thé đưa ra định ng†ĩa về xây dung VBOPPL đó là: "WX đựng văn bản guy phạm pháp luật là hoạt động của các chit thé cỏ thân quyén do pháp luật quy ảnh dé tiến hành một trật tư bao gồm các hoat đồng kế tiếp nhau, liên hệ chặt chế với nhau nhằm thé chế hóa chit trương đường lối của Đảng chuyên hoáý: chi của Nhà nước thành những quy đình pháp luật da trên những nguyên tắc nhất dinh và được thé hiện đưới hình thức pháp I là văn bản guy phạm pháp luật” Như vậy, xây dựng VBQPPL là toàn bộ các bước được thực hiện từ giai đoạn lập dé nghĩ xây dung đến soạn thảo và thông qua theo trình tự, thi tục bat buộc dé cho ra đời một văn bản quy pham pháp luật có tên gọi nhất dink Thư ba, xây đựng văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động tạo ra ruột văn bản với. tên gọi, hình thức do pháp luật quy đính, có nội dung là các quy tắc xử sự chung được áp đụng nhiéu lan để điều chỉnh quan hệ xã hội. VBQPPL được ben hành bat nguôn từ kết quả của hoạt đông xây đụng pháp luật phải đáp ứng các điều kiên về mặt hình thức quy đ#nh Hình thức, tên gọi của các VBQPPL do pháp luật quy dinh, có tên gọi nlur Hiến pháp, luật, bô luật, pháp lệnh, nghi quyết, nghi định. Thông qua xây dựng văn bản quy pham pháp luật, hệ thông pháp luật có thé bỏ sung thêm hoặc giảm bớt di bởi đây là hoạt đông quyên lực hóa các chuẩn muc xã hội.
Dé các VBOPPL quy đính quy tắc xử sự chung đó vừa mang tính khái quát, vừa mang tính cụ thé, plxù hợp với tính đa dạng, phức tạp của đời sông xã hồi, phản énh được nhu câu của các nhóm lợi ích khác nhau thi mét yêu cầu có tính khách quan là phải thực thi hoạt động xây dưng VBQPPL với một quy trình lập pháp that sự khoa hoc, dan chủ, chặt chế vé mặt thi tục, hợp lý về thời gian và nguồn lực bão dam. Khải nêm phẩm biển xã hồi Theo nghiia Hán- Viet, “phản” ở đây có ngiấa là: nghi, xét lại, “biện” là phân tích. Khi ghép lai “phan biện” mang ngiấa là xét các sự vật rồi phân đính xau, tốt. Thuật ngữ Theo Eáa— Viết chế lún gồxac 5 mith: 1) tri đài ly wi chitchmlk 2) tá lai trở vẻ 3) agh xét +) tứ, quy Ý) ái lại phá đài tri Mag chức nay được dùng khá phô bién trong lính vực khoa hoc, dao tao, ding dé chỉ hoạt động nhận xét, đánh giá thêm đính về một công trình khoa học (uận án, luận văn, hoặc kết quả nghiên cứu một đề tài, chương trình, nhiém vụ khoa học.
Phản biên đời hỏi phải có phương pháp và cách tiếp cân van đề mét cách đúng dan, dé có thể xem xét sự việc, vấn đề một cách toàn điện, sâu sắc trên cơ sở của sự phân tích, lập luận, so sánh một cach khách quan, khoa học, nhằm phát hiện những yêu tổ, dau hiệu, nội dung có tinh bản chất, từ đó đưa ra nhữmg đánh giá,nhận xét về giá trị, dong gop mới, về cái được và chara được, về cái đúng sai, tốt, xâu tích cực và tiêu cực, ưu điểm và hạn chê. Trong điều kiện của xã hội hiện đại, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đặc biệt la sự bùng nỗ của công nghệ thông tin, trình độ dân trí và các phương thức tham gia vào đời sóng xã hôi ngày càng phong phú, đa dạng với tốc độ nhanh và manh mé, thi thuật ngữ phân biện được sử dung một cách phô biên hơn theo hướng "xã hội hóa" và được mở rộng hơn về ngữ nghiia, trong đó có mat số ý cơ bản sau: (1) Phân tiện là xem xét, phân tích, lập luận các mat, các khía canh khác nhau của sự việc, hiện tương đề tim ra bản chất và những đặc trung cơ bản của nó. (2) Phan biện là hoạt động có tính độc lập, khách quan và phải tuân theo nhiing quy trình, chuẩn mực nhét định, chủ thé thực hiện phản biện phải có trình độ, năng lực và phương pháp lam việc phù hợp. (3) Mục ich của phản biên là đưa ra những ý kiến, nhận xét có giá trị tham khảo cho việc đánh giá chất lượng của các công trình, dé án, chính sách, pháp luật đã được thực liện, ban hành hoặc đóng gop cho việc hoàn thién các dự thảo chương trình, kế hoạch, đề án, chr án văn.
ban pháp luật. vì vay đối tượng (khách thé) của phản biện thường được chon lọc và can có những điều kiện nhat dinh dé thực hién Phan biên xã hồi là hoạt đông có tinh xã hội rộng rãi, có nội dung phong phú, có những dic trung, lành thức, phương pháp thực hiện đặc thủ và luôn doi hỏi tính khách quan, khoa học, y thức tô chức và trách riiệm cao của chủ thé thực hiện Tuy nhién, những nghiên cứu về lý luận và thực tiễn đã cho thay, nội dung cơ bản của PBXH luôn là những van đề có liên quan dén tô chức và thực thi quyên lực nhà nước, xây dung và thực tiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Dang và Nhà trước và những van dé quan trong, có tính thời sự của hệ thong chính trị Cho dén nay việc giải thích va sử dụng thuật ngữ PBXH vẫn chưa có sự thống nhất về nhận thức và trong một số trường hợp còn nham lẫn nhật định với các khái niém, thuật ngữ gần với khái niém PBXH. Vivậy, can có sự phân biệt khái niém PBXH với một số khát niém, thuật ngữ khác. 10 - Phan biện xã hội và hoạt động tham gia gópý kiên đối với các chủ trương chánh sách của Đảng pháp luật của Nhà nước.
PBXH và hoạt động tham gia gop ý kiến đối với các chủ trương, chính sách của Đảng pháp luật của Nhà nước đều có mục đích là phát tuy dân chủ và quyên làm chủ của nhân dân tham gia xây dung Nhà trước pháp quyền XHCN. Thông qua MTTQVN và các tô chức thành viên, các hoạt động này tạo môi trường và điều kiện cho nhfn dân dé thê hiên ý chí, nguyên vong và chính kiến của minh đổi với các chủ trương quan điểm của Đảng chính sách, pháp luật của Nha nước, góp phan nâng cao vai trò củaMTTQVNtrong việc tập hợp, xây đựng khối đại đoàn kết toàn dan tộc, thé hiêný chí nguyên vọng của các tang lớp nhân dân, dei điện quyên và lợi ích chính dang của nhân dân. Tuy nhiên PBXH và tham gia ý kiên có sự khác nhau cén bản về cơ chế đó là: Cơ chế về tham gia ý kiên còn chưa thực sự day đủ và không có tinh bat buộc. Pháp luật chỉ quy &nh quyên tham gia ý kiến vào các du án luật, pháp lệnh đối với moi cơ quan, tổ chức và cá nhân, ma chưa có quy định cụ thé vệ phương thức tham gia; việc tiép thu hoặc không tiếp thy trả lời ý kiến của nhfn dân, cơ quan, tô chức chưa có quy đính cụ thé của pháp luật.
Nội dung tham gia không có hướng dẫn, trừ khi Quác hội, Uÿ ban Thường vụ Quốc hội có kê hoạch lay ý kiên nhan đên vào một chr án luật nao đó.