Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong hệ thống chính trị Việt Nam, nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân đòi hỏi các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước phải phản ánh trung thực ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân. Hoạt động phản biện xã hội giữ vai trò then chốt trong việc kiểm soát quyền lực, hạn chế sự tùy tiện, lạm quyền và phòng ngừa vi phạm pháp luật trong hoạt động quản lý nhà nước. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X và Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định phản biện xã hội là một chủ trương lớn, tạo tiền đề để thể chế hóa thành các quy định pháp luật. Vai trò này được nâng lên tầm hiến định tại Điều 9 Hiến pháp năm 2013, khẳng định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội.
Tuy nhiên, trong thực tiễn xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, phản biện xã hội vẫn còn nhiều khoảng trống cả về phương diện lý luận lẫn thực thi. Các công trình khoa học chuyên sâu về phản biện xã hội trong quy trình lập pháp còn khiêm tốn, phần lớn chỉ dừng lại ở các bài viết mang tính khái quát mà chưa làm rõ cơ chế vận hành, chủ thể, quy trình và đặc trưng pháp lý. Pháp luật hiện hành quy định về phản biện xã hội còn phân tán ở nhiều văn bản với mức độ ghi nhận khác nhau, chưa xây dựng được cơ chế tiếp thu, giải trình có tính ràng buộc pháp lý chặt chẽ. Trên thực tế, hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhiều nơi còn mang tính hình thức, thiếu tính chủ động và chưa phát huy triệt để quyền làm chủ của nhân dân.
Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết đó, khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Thị Huyền Linh tập trung nghiên cứu đề tài "Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật" (Chuyên ngành: Luật Xây dựng văn bản pháp luật, người hướng dẫn: TS. Đoàn Thị Tố Uyên, Hà Nội - 2024).
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; từ đó xác định nhu cầu, xu hướng và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động này nhằm hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Để đạt được mục đích trên, khóa luận xác định 03 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa các quan điểm, khái niệm về phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam và xây dựng luận điểm khoa học của tác giả về vấn đề này.
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, chỉ ra những kết quả, hạn chế và làm rõ các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hạn chế đó.
- Nghiên cứu những quy định về hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động này trong thời gian tới.
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Tập trung vào hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trên nền tảng thể chế của Hiến pháp năm 2013 (trọng tâm là Điều 9) cùng các luật chuyên ngành.
- Về thời gian: Khóa luận thu thập và xử lý dữ liệu thực tiễn từ năm 2010 đến nay (thời điểm hoàn thành năm 2024), nhằm phản ánh sự chuyển biến về cơ chế và kết quả phản biện xã hội trước và sau khi Hiến pháp 2013 có hiệu lực.
- Về không gian: Phạm vi hoạt động của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp tại các địa phương trên phạm vi cả nước.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, cùng các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
Khung thể chế và hệ thống văn bản pháp lý được tác giả sử dụng làm căn cứ nghiên cứu bao gồm:
- Hiến pháp năm 2013 (đặc biệt là Điều 9 quy định về vai trò, chức năng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam);
- Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 (trọng tâm là Chương VI quy định về phản biện xã hội);
- Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020);
- Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội ban hành kèm theo Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị;
- Nghị quyết liên tịch số 403/2017/NQLT-UBTVQH14-CP-ĐCTUBTWMTTQVN ngày 15/6/2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quy định chi tiết các hình thức giám sát, phản biện xã hội;
- Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan: Luật Xây dựng năm 2014, Luật Quy hoạch đô thị năm 2009, Nghị định số 53/2014/NĐ-CP, Thông tư số 11/2015/TT-BTC, Quyết định số 22/2002/QĐ-TTg và Quyết định số 14/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ;
- Kết luận số 19-KL/TW của Bộ Chính trị về định hướng Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV và Kế hoạch số 81/KH-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về mặt học thuật, khóa luận kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu trong các ấn phẩm chuyên khảo và bài báo khoa học, tiêu biểu như sách của TS. Hồ Bá Thâm, Nguyễn Tôn, Thi Tường Vân (2010), sách của PGS.TS. Vũ Hồng Anh (2013), các công trình nghiên cứu của GS.TS. Nguyễn Minh Đoan, GS.TS. Đào Trí Úc, TS. Hoàng Thị Ngân, cùng các bài viết của Phạm Quang Tú, Nguyễn Trần Bạt, Trần Hậu, Bùi Thị Hoa.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được triển khai gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Được sử dụng làm phương pháp chủ đạo xuyên suốt các chương nhằm phân tích các quan niệm khoa học, mổ xẻ nội hàm các thuật ngữ pháp lý, đánh giá hệ thống quy định pháp luật hiện hành và khái quát các bài học thực tiễn.
- Phương pháp thống kê số liệu: Sử dụng để tập hợp, phân loại và xử lý các số liệu thực tế về các cuộc hội nghị phản biện xã hội, tỷ lệ văn bản được góp ý của hệ thống Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên từ Trung ương đến cơ sở.
- Phương pháp nghiên cứu hệ thống: Được áp dụng để xem xét phản biện xã hội như một thiết chế cấu thành quy trình lập pháp, đặt trong mối quan hệ hữu cơ giữa chủ thể soạn thảo, chủ thể phản biện và cơ quan có thẩm quyền ban hành.
Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm: các văn kiện Đại hội Đảng (khóa VI, VIII, X, XI); các báo cáo giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội (Báo cáo kết quả giám sát văn bản quy phạm pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV); số liệu thống kê chính thức từ các báo cáo tổng kết của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2013-2021, nhiệm kỳ 2014-2019 và giai đoạn 2018-2022.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Chương 1 tập trung xây dựng hệ thống khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò, chức năng và các yếu tố cấu thành hoạt động phản biện xã hội trong quy trình lập pháp. Tác giả phân tích khái niệm xây dựng văn bản quy phạm pháp luật từ hai khía cạnh: chính trị (hoạt động thể hiện ý chí nhà nước thành pháp luật) và kỹ thuật pháp lý (hoạt động sáng tạo pháp luật từ sáng kiến, soạn thảo đến thông qua).
Về mặt lý luận, tác giả làm rõ bản chất của thuật ngữ "phản biện" (xét lại sự vật rồi phân định đúng sai, xấu tốt) và đưa ra định nghĩa: Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là việc Mặt trận Tổ quốc các cấp trực tiếp hoặc đề nghị các tổ chức thành viên nhận xét, đánh giá, nêu ý kiến, kiến nghị đối với dự thảo văn bản của các cơ quan có thẩm quyền, nhằm chuyển tải nguyện vọng của nhân dân, thúc đẩy dân chủ và hoàn thiện chính sách.
Khóa luận phân định ranh giới giữa phản biện xã hội với các khái niệm tương cận:
- Với tham gia góp ý kiến: Tham gia góp ý kiến chưa có tính bắt buộc cao và thiếu cơ chế pháp lý ràng buộc về việc tiếp thu hay trả lời. Phản biện xã hội đòi hỏi cơ chế chặt chẽ về quyền, trách nhiệm và quy trình giải trình.
- Với phản biện khoa học: Phản biện khoa học mang tính chuyên môn thuần túy của chuyên gia; phản biện xã hội gắn liền với việc bảo vệ quyền lợi và phản ánh quan điểm của các tầng lớp nhân dân.
- Với phản bác: Phản biện xã hội bao hàm cả việc khẳng định các điểm đúng đắn, hợp lý, chứ không chỉ thuần túy bác bỏ điều sai.
- Với phản kháng: Phản kháng mang tính công kích, loại bỏ phương án; phản biện xã hội mang tính xây dựng, hướng tới sự đồng thuận trên cơ sở khoa học và trách nhiệm chính trị.
- Với trưng cầu ý dân: Trưng cầu ý dân là việc bỏ phiếu tán thành hoặc không tán thành trực tiếp không qua tranh luận; phản biện xã hội bắt buộc phải dựa trên quá trình đối thoại, tranh luận, phân tích lập luận.
Tác giả chỉ ra 05 đặc điểm cơ bản của phản biện xã hội trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật:
- Tính chính trị - pháp lý kết hợp với tính xã hội sâu sắc;
- Tính lịch sử, khách quan và cụ thể;
- Tính mục đích và tính dân chủ rộng rãi;
- Hoạt động phân tích độc lập với những lập luận có căn cứ khoa học và thực tiễn;
- Tính độc lập của chủ thể trong việc thu thập thông tin và đưa ra chính kiến.
Bên cạnh đó, chương 1 phân tích vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (hiện có 48 tổ chức thành viên, 07 Hội đồng tư vấn chuyên môn) và 05 vai trò nòng cốt: xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân; làm cầu nối đưa chủ trương, pháp luật vào cuộc sống; tuyên truyền, phổ biến pháp luật; và vai trò phản biện xã hội nhằm cụ thể hóa cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ".
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Chương 2 đánh giá toàn diện hệ thống quy định pháp luật thực định và phân tích số liệu thực tiễn triển khai công tác phản biện xã hội.
Về quy định pháp luật:
- Quy trình, thời hạn: Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định thời gian đăng tải hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh trên cổng thông tin điện tử Quốc hội ít nhất là 30 ngày; đăng tải toàn văn dự thảo văn bản và tờ trình trong quá trình soạn thảo ít nhất là 60 ngày. Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quy định văn bản dự thảo phải được gửi đến Mặt trận Tổ quốc chậm nhất là 15 ngày trước khi trình cơ quan có thẩm quyền ban hành.
- Hình thức thực hiện: Điều 34 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 xác định 03 hình thức phản biện xã hội gồm: (1) Tổ chức hội nghị phản biện xã hội; (2) Gửi dự thảo văn bản đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để lấy ý kiến; (3) Tổ chức đối thoại trực tiếp giữa Mặt trận Tổ quốc với cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo.
- Trách nhiệm giải trình: Cơ quan chủ trì soạn thảo bắt buộc phải nghiên cứu, tiếp thu, giải trình bằng văn bản và lập báo cáo giải trình tiếp thu trong hồ sơ trình dự án luật.
- Hạn chế của quy định pháp luật: Hệ thống pháp luật về phản biện xã hội còn phân tán, thiếu quy định cụ thể về chế tài xử lý khi cơ quan nhà nước không thực hiện trách nhiệm giải trình. Báo cáo giám sát của Quốc hội khóa XIV chỉ ra tình trạng văn bản dưới luật chưa thống nhất: có 08 Nghị định chứa nội dung có dấu hiệu trái luật (07 Nghị định trái Bộ luật Hình sự 2015, 01 Nghị định trái Luật Phòng, chống tham nhũng 2018); 07 Nghị định và 03 Thông tư quy định không đúng nội dung luật giao. Đặc biệt, sai sót kỹ thuật lập pháp tại Bộ luật Hình sự năm 2015 với hơn 90 nội dung sai sót đã được phát hiện thông qua phản biện xã hội, dẫn đến việc phải tạm hoãn hiệu lực thi hành trước ngày 01/7/2016 để sửa đổi.
Về thực tiễn hoạt động phản biện xã hội:
Khóa luận tổng hợp các dữ liệu thực tế về quy mô tổ chức phản biện của hệ thống Mặt trận và các đoàn thể thành viên:
- Trong nhiệm kỳ 2014-2019, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã tổ chức 86.872 cuộc phản biện xã hội.
- Giai đoạn 2018-2022, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức 14 hội nghị phản biện xã hội quy mô lớn. Ở địa phương, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các tỉnh, thành phố chủ trì tổ chức 23.869 hội nghị phản biện (trong đó cấp tỉnh: 827 cuộc, cấp huyện: 3.488 cuộc, cấp xã: 19.554 cuộc).
- Về các dự án luật trọng điểm: Điển hình là Hội nghị phản biện xã hội đối với dự án Luật Đất đai (sửa đổi) kết nối trực tuyến tới 63 tỉnh, thành phố với 3.432 đại biểu tham dự, tổng hợp đề xuất 08 nhóm nội dung trọng tâm; phản biện dự thảo Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, Luật Thanh tra (sửa đổi), và Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030.
Số liệu phản biện xã hội giai đoạn 2013 - 2021 của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội được tổng hợp trong bảng sau:
| Chủ thể tổ chức |
Tổng số cuộc chủ trì |
Cấp Trung ương |
Cấp tỉnh |
Cấp huyện |
Cấp cơ sở (xã) |
Ghi chú |
| Mặt trận Tổ quốc Việt Nam |
46.356 |
12 |
1.137 |
6.876 |
38.343 |
Số liệu tổng hợp toàn hệ thống MTTQ |
| Liên đoàn Lao động Việt Nam |
54.075 |
01 |
3.644 |
6.787 |
43.643 |
Tập trung chính sách quan hệ lao động |
| Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam |
21.673 |
03 |
474 |
3.386 |
Đan xen |
Bảo vệ quyền lợi phụ nữ và trẻ em |
| Hội Nông dân Việt Nam |
7.548 |
0 |
395 |
1.657 |
5.496 |
Trung ương Hội chưa tổ chức hội nghị riêng |
| Đoàn TNCS Hồ Chí Minh |
2.388 |
0 |
09 |
355 |
1.210 |
Các nội dung về thanh niên và trẻ em |
| Hội Cựu chiến binh Việt Nam |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
Chưa tổ chức hội nghị phản biện độc lập |
Hạn chế thực tiễn: Hoạt động phản biện xã hội nhiều nơi chưa phân định rạch ròi với hoạt động tiếp xúc cử tri, giám sát hay tổng hợp kiến nghị dân nguyện; nhiều ý kiến phản biện chưa sâu do thời gian nghiên cứu tài liệu gấp gáp; việc theo dõi kết quả tiếp thu của các cơ quan nhà nước chưa được thực hiện triệt để.
Chương 3: Quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác xây dựng văn bản pháp luật
Chương 3 xác định hệ thống định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác phản biện xã hội trong quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
Hệ thống 04 quan điểm định hướng:
- Bảo đảm thể chế hóa quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng; phản biện xã hội phải gắn liền với việc xây dựng hệ thống pháp luật Việt Nam toàn diện, đồng bộ.
- Đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước Việt Nam hòa bình, ổn định, phát triển toàn diện, phù hợp với xu hướng hội nhập quốc tế.
- Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức phản biện xã hội trong quy trình lập pháp nhằm nâng cao chất lượng các văn bản quy phạm pháp luật.
- Thực hiện phản biện xã hội phải đồng thời tăng cường tính công khai, minh bạch và trách nhiệm tiếp thu, giải trình của các cơ quan Nhà nước.
Hệ thống 06 giải pháp cụ thể được tác giả đề xuất:
- Hoàn thiện quy định của pháp luật về phản biện xã hội: Cần luật hóa chi tiết quy trình, nguyên tắc, tiêu chuẩn của văn bản phản biện; xây dựng chế tài đối với hành vi né tránh hoặc chậm trễ giải trình ý kiến phản biện của cơ quan soạn thảo; quy định rõ giá trị pháp lý của kết luận phản biện.
- Bổ sung các cơ chế bảo đảm thực thi quyền tham gia chủ động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Xác lập tư cách pháp lý độc lập, chủ động của Mặt trận trong việc lựa chọn văn bản cần phản biện thay vì bị động chờ đợi cơ quan soạn thảo gửi tài liệu lấy ý kiến.
- Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức với Mặt trận Tổ quốc: Tăng cường quy chế phối hợp công tác giữa Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp với Đoàn đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và cơ quan tư pháp trong việc chia sẻ thông tin, cung cấp hồ sơ dự thảo.
- Nghiên cứu và áp dụng các hình thức phản biện xã hội có chất lượng và hiệu quả: Đa dạng hóa các kênh phản biện, nâng cao chất lượng phản biện thông qua việc huy động mạng lưới các Hội đồng tư vấn chuyên môn, viện nghiên cứu, chuyên gia và nhà khoa học có trình độ chuyên môn sâu.
- Bảo đảm cơ chế phản hồi ý kiến phản biện của người dân: Xây dựng hệ thống tiếp nhận, xử lý và công khai kết quả phản hồi ý kiến đóng góp của người dân thông qua nền tảng công nghệ số và cổng thông tin điện tử, khắc phục tình trạng lấy ý kiến mang tính hình thức.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về phản biện xã hội: Nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức và các tầng lớp nhân dân về quyền phản biện xã hội, giúp người dân hiểu rõ quyền và nghĩa vụ tham gia quản lý nhà nước.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã làm rõ bức tranh tổng thể về thể chế và thực tiễn hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác lập pháp với các kết quả cụ thể:
- Làm rõ căn cứ pháp lý hiện hành về thời hạn đăng tải và xử lý hồ sơ (30 ngày đối với đề nghị xây dựng luật, 60 ngày đối với dự thảo văn bản soạn thảo, và tối thiểu 15 ngày gửi trước cho Mặt trận Tổ quốc).
- Tổng hợp số liệu thực chứng giai đoạn 2013-2022, phản ánh sự chênh lệch lớn giữa các cấp và các tổ chức thành viên (cấp xã chiếm áp đảo với 38.343/46.356 cuộc của MTTQ; Liên đoàn Lao động dẫn đầu khối đoàn thể với 54.075 cuộc; trong khi Hội Cựu chiến binh chưa tổ chức hội nghị phản biện độc lập).
- Dẫn chứng các trường hợp cụ thể trong thực tiễn lập pháp, tiêu biểu là việc chỉ ra hơn 90 nội dung sai sót kỹ thuật tại Bộ luật Hình sự 2015 và các vi phạm về tính thống nhất của văn bản dưới luật qua báo cáo giám sát nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV.
Về mặt đóng góp khoa học, công trình đã:
- Hệ thống hóa và phân định rạch ròi khái niệm phản biện xã hội trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật với các hình thức tham gia dân chủ khác (góp ý, phản biện khoa học, phản bác, phản kháng, trưng cầu ý dân), khắc phục sự nhầm lẫn phổ biến trong nhận thức lý luận.
- Nhận diện 05 đặc trưng mang tính bản chất của phản biện xã hội trong lĩnh vực xây dựng pháp luật, nhấn mạnh tính độc lập về chính kiến và lập luận khoa học.
- Đề xuất hệ thống 06 giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện thể chế pháp lý, cơ chế phối hợp đến nâng cao trách nhiệm giải trình và ứng dụng công nghệ, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu hoàn thiện quy trình lập pháp của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số giới hạn nghiên cứu được xác định theo nội dung văn bản:
- Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào chủ thể Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thành viên, chưa đi sâu phân tích cơ chế phản biện xã hội của các chủ thể độc lập khác như các hiệp hội doanh nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp ngoài Mặt trận hoặc cơ quan báo chí truyền thông.
- Số liệu thống kê thực tiễn dừng lại ở mốc năm 2022, chưa cập nhật toàn diện giai đoạn triển khai thực hiện các luật mới được Quốc hội thông qua trong nửa cuối nhiệm kỳ khóa XV.
- Chưa tiến hành khảo sát định lượng diện rộng về mức độ hài lòng hoặc tỷ lệ tiếp thu chính xác của cơ quan soạn thảo đối với từng nhóm ý kiến phản biện cụ thể.
Các hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng:
- Nghiên cứu xây dựng cơ chế tài phán hoặc chế tài hành chính - công vụ đối với hành vi không tiếp thu, không giải trình ý kiến phản biện xã hội hợp pháp của Mặt trận Tổ quốc.
- Đánh giá định lượng tác động sau ban hành (ex-post evaluation) của các quy phạm pháp luật được xây dựng trên cơ sở tiếp thu kiến nghị phản biện xã hội.
- Nghiên cứu cơ chế ứng dụng chuyển đổi số và dữ liệu lớn trong việc thu thập, phân loại và xử lý ý kiến phản biện xã hội của nhân dân vào các dự thảo luật.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực đối với các nhóm đối tượng:
- Người học ngành Luật: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Xây dựng văn bản pháp luật, Luật Hiến pháp và Luật Hành chính có thể sử dụng Chương 1 làm tài liệu tham khảo để nắm vững hệ thống lý luận, các đặc điểm bản chất và tiêu chí phân biệt phản biện xã hội với các hình thức dân chủ khác.
- Cán bộ Mặt trận và các đoàn thể: Cán bộ công tác tại Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp có thể tham khảo Chương 2 và Chương 3 để nắm bắt quy trình, các mốc thời hạn luật định và kỹ năng triển khai 03 hình thức phản biện xã hội theo Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015.
- Cán bộ lập pháp và cơ quan soạn thảo: Chuyên viên pháp chế tại các bộ ngành, Ban soạn thảo dự án luật, đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân có thể khai thác các luận điểm về trách nhiệm giải trình và kỹ thuật lấy ý kiến nhằm nâng cao tính khả thi, tính đồng thuận xã hội của các văn bản quy phạm pháp luật trước khi ban hành.
Câu hỏi thường gặp
1. Phản biện xã hội khác với hoạt động tham gia góp ý kiến vào dự thảo văn bản quy phạm pháp luật ở điểm nào?
Khác biệt căn bản nằm ở cơ chế pháp lý: Hoạt động tham gia góp ý kiến mang tính khuyến khích, pháp luật chưa có quy định bắt buộc cụ thể về phương thức tham gia và chưa có chế tài ràng buộc trách nhiệm trả lời hay tiếp thu của cơ quan soạn thảo. Ngược lại, phản biện xã hội là chức năng hiến định của Mặt trận Tổ quốc, đòi hỏi cơ chế pháp lý chặt chẽ về chủ thể có quyền, nguyên tắc, quy trình thực hiện và bắt buộc cơ quan soạn thảo phải có văn bản giải trình, tiếp thu báo cáo cơ quan có thẩm quyền.
2. Pháp luật hiện hành quy định thời hạn gửi tài liệu và đăng tải dự thảo văn bản quy phạm pháp luật như thế nào?
Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam:
- Trong giai đoạn lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, báo cáo tổng kết và báo cáo đánh giá tác động chính sách phải được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội ít nhất là 30 ngày.
- Trong giai đoạn soạn thảo, toàn văn dự thảo văn bản và tờ trình phải được đăng tải ít nhất là 60 ngày để lấy ý kiến.
- Cơ quan chủ trì soạn thảo phải gửi dự thảo văn bản được phản biện xã hội đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chậm nhất là 15 ngày trước khi trình cơ quan có thẩm quyền ban hành.
3. Số liệu thực tế giai đoạn 2013 - 2021 về quy mô phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể thành viên đạt mức nào?
Trong giai đoạn 2013 - 2021, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp chủ trì tổng cộng 46.356 cuộc phản biện (cấp Trung ương: 12, cấp tỉnh: 1.137, cấp huyện: 6.876, cấp xã: 38.343). Trong khối tổ chức thành viên: Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức 54.075 cuộc; Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tổ chức 21.673 cuộc; Hội Nông dân Việt Nam tổ chức 7.548 cuộc; Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tổ chức 2.388 cuộc; và Hội Cựu chiến binh Việt Nam chưa tổ chức hội nghị phản biện độc lập.
4. Khóa luận nêu bật ví dụ thực tiễn nào về sai sót lập pháp được phát hiện qua phản biện xã hội?
Ví dụ điển hình được nêu trong khóa luận là dự án Bộ luật Hình sự năm 2015. Thông qua hoạt động rà soát và phản biện xã hội, các cơ quan chuyên môn và xã hội đã phát hiện hơn 90 nội dung sai sót về kỹ thuật lập pháp, dẫn đến việc Quốc hội phải quyết định tạm hoãn hiệu lực thi hành của Bộ luật trước thời điểm ngày 01/7/2016 để tiến hành sửa đổi, bổ sung kịp thời.
5. Điều 34 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 quy định các hình thức phản biện xã hội nào?
Điều 34 quy định 03 hình thức phản biện xã hội chính thức: (1) Tổ chức hội nghị phản biện xã hội; (2) Gửi dự thảo văn bản được phản biện đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để lấy ý kiến phản biện xã hội; (3) Tổ chức đối thoại trực tiếp giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với cơ quan, tổ chức có dự thảo văn bản được phản biện xã hội.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Đặng Thị Huyền Linh là công trình nghiên cứu chuyên ngành Luật Xây dựng văn bản pháp luật, phân tích toàn diện cơ sở lý luận, khung thể chế và thực tiễn hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Dựa trên dữ liệu thực tế giai đoạn 2010-2022, tác giả đã chỉ rõ những kết quả đạt được, những hạn chế về cơ chế giải trình tiếp thu cũng như tình trạng phân tán của hệ thống văn bản pháp lý. Công trình đề xuất hệ thống 04 quan điểm và 06 giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật, tăng cường tính chủ động của Mặt trận và bảo đảm thực thi dân chủ trong quy trình lập pháp tại Việt Nam.