Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, pháp luật giữ vị trí là công cụ quản lý nhà nước và duy trì trật tự xã hội. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật giữ vai trò định hướng xuyên suốt mọi giai đoạn, từ khâu lập pháp đến thực thi và bảo vệ pháp luật. Văn kiện Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định phương châm: "Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân", tiếp tục được nhấn mạnh tại Đại hội XIII với quan điểm chỉ đạo "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Nguyên tắc bảo đảm tính dân chủ được thể chế hóa thành một trong sáu nguyên tắc nền tảng tại Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Xây dựng văn bản pháp luật của tác giả Nguyễn Ngọc Anh (Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2023) lựa chọn đề tài "Bảo đảm tính dân chủ trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật" nhằm giải quyết mục đích tổng quát: nghiên cứu toàn diện cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện nguyên tắc dân chủ trong hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động này.

Tác giả xác định 04 mục tiêu nghiên cứu cụ thể được đánh số trong văn bản:

  1. Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về bảo đảm tính dân chủ trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
  2. Phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về bảo đảm tính dân chủ trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
  3. Đánh giá được thành tựu và hạn chế của việc bảo đảm tính dân chủ trong từng giai đoạn xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian qua, từ đó chỉ ra những nguyên nhân của hạn chế.
  4. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm tính dân chủ trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hoạt động bảo đảm tính dân chủ trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, trọng tâm là các vấn đề lý luận và thực tiễn trong hai giai đoạn: lập đề nghị và soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian và pháp lý được giới hạn từ khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có hiệu lực, đồng thời cập nhật các quy định sửa đổi, bổ sung của Luật năm 2020 cho đến thời điểm nghiên cứu (năm 2023).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, cùng các quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tại các kỳ Đại hội. Khung lý thuyết và pháp lý trực tiếp bao gồm:

  • Hiến pháp năm 2013: Điều 2 (nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân), Điều 14 khoản 1 (tôn trọng, bảo vệ quyền con người, quyền công dân) và Điều 28 (quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân; trách nhiệm công khai, minh bạch của Nhà nước); kế thừa từ các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và 1992.
  • Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020): Điều 5 khoản 6 quy định nguyên tắc bảo đảm công khai, dân chủ; Điều 6 quy định quyền và trách nhiệm tham gia góp ý kiến; Điều 53 và Điều 54 quy định về thành phần, nhiệm vụ của Ban soạn thảo; Điều 57 quy định về tổ chức lấy ý kiến đối với dự thảo.
  • Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Điều 11 về huy động sự tham gia của các viện nghiên cứu, trường đại học, chuyên gia, nhà khoa học).
  • Các công trình nghiên cứu tiền đề: Nghiên cứu của Nguyễn Thế Nghĩa (2018) về tập trung dân chủ trong Nhà nước pháp quyền; đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường của TS. Phí Thị Thanh Tuyền (2020) về các nguyên tắc cơ bản của pháp luật; ấn phẩm của Viện Nghiên cứu lập pháp (2016).

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả vận dụng phối hợp gồm: phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp khái quát hóa; cùng phương pháp thu thập và xử lý thông tin.

Nguồn dữ liệu thực chứng được trích xuất từ:

  • Báo cáo số 12/BC-BTNMT ngày 06/02/2020 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý đối với dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi).
  • Công văn số 475/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 03/12/2021 và hồ sơ Dự án Luật Đất đai (sửa đổi) của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
  • Văn bản số 5392/BGDĐT-NGCBQLGD ngày 14/10/2022, Công văn số 5301/BGDĐT-NGCBQLGD và Tờ trình số 768/TTr-BGDĐT ngày 18/5/2023 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về đề nghị xây dựng Luật Nhà giáo.
  • Báo cáo đánh giá việc thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Tư pháp; dữ liệu thống kê từ Cổng thông tin tiếp nhận ý kiến dự thảo (duthaoonline.quochoi.vn); số liệu hội thảo của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Viện Khoa học pháp lý; thực tiễn đối thoại tại tỉnh Nghệ An và thí điểm cơ chế đặc thù tại TP. Hồ Chí Minh năm 2017.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về bảo đảm tính dân chủ trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận về nguyên tắc dân chủ trong hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, chia thành 4 nội dung lớn:

1. Khái niệm và đặc điểm: Tác giả hệ thống hóa định nghĩa dân chủ từ quan điểm Mác - Lênin và Hiến pháp năm 2013, phân tích văn bản quy phạm pháp luật theo Luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2020) với tính chất chứa đựng quy tắc xử sự chung, áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần. Bản chất của bảo đảm tính dân chủ là việc Nhà nước bảo đảm cho nhân dân được công khai tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị và làm chủ quy trình lập pháp, lập quy. Khóa luận chỉ ra 3 đặc điểm:

  • Có tính bắt buộc, ghi nhận và đề cao chủ quyền nhân dân dựa trên Điều 28 Hiến pháp năm 2013;
  • Gắn liền với mỗi con người với tư cách cá nhân và thành viên xã hội, thực hiện qua hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp;
  • Có mối quan hệ mật thiết với 5 nguyên tắc còn lại tại Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất; tuân thủ thẩm quyền, hình thức, trình tự; tính minh bạch; tính khả thi, tiết kiệm, hiệu quả, bình đẳng giới; bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh, môi trường).

2. Ý nghĩa: Giúp văn bản quy phạm pháp luật có tính khả thi cao, phù hợp nhu cầu thực tiễn; tạo cơ chế để người dân trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia quản lý nhà nước; đồng thời củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước.

3. Nội dung bảo đảm tính dân chủ trong hai giai đoạn:

  • Giai đoạn lập đề nghị: Mở rộng chủ thể có quyền đề nghị (Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại biểu Quốc hội, HĐND và UBND cấp tỉnh...); xác định cơ sở đề nghị gồm cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn đời sống; quy định cơ chế huy động chuyên gia, viện nghiên cứu, trường đại học theo Điều 11 Nghị định 34/2016/NĐ-CP để khảo sát xã hội học và đánh giá tác động chính sách; xác định nội dung văn bản đề nghị và thủ tục thông qua hồ sơ đề nghị.
  • Giai đoạn soạn thảo: Thể hiện rõ ở việc thành lập Ban soạn thảo có ít nhất 9 người theo khoản 1 Điều 53 Luật năm 2015, bắt buộc có chuyên gia, nhà khoa học am hiểu chuyên môn (khoản 2 Điều 53); nhiệm vụ thông qua đề cương, tổ chức lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động; quy định thời hạn đăng tải dự thảo trên cổng thông tin điện tử tối thiểu 60 ngày theo Điều 57 và thời hạn trả lời bằng văn bản của cơ quan được hỏi ý kiến là 20 ngày.

4. Các yếu tố ảnh hưởng: Đường lối, chủ trương của Đảng; Quy định của pháp luật; Điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù từng địa phương; Trình độ, kỹ năng soạn thảo của đội ngũ cán bộ, công chức và điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ thông tin.

Chương 2: Thực trạng bảo đảm tính dân chủ trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Chương 2 cung cấp bức tranh thực tiễn thông qua việc phân tích kết quả đạt được, chỉ ra tồn tại và nguyên nhân:

1. Những kết quả đạt được: Quy trình lấy ý kiến nhân dân đã trở thành một bước bắt buộc. Nhiều dự thảo quan trọng được tổ chức lấy ý kiến rộng rãi:

  • Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi): Báo cáo số 12/BC-BTNMT ngày 06/02/2020 ghi nhận ý kiến đóng góp từ các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp (như Công ty TNHH Siam City Cement Việt Nam), các tổ chức xã hội (Trung tâm Phát triển Sáng tạo Xanh - GreenID) và các cá nhân (Nguyễn Trịnh Nguyên, Nguyễn Hồ Thanh Tuyền, Nguyễn Duy Khôi, Vũ Thị Nguyệt).
  • Dự án Luật Đất đai (sửa đổi): Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Công văn số 475/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 03/12/2021 lấy ý kiến rộng rãi, tiếp nhận 76 văn bản phản hồi (19 bộ/ngang bộ, 05 tổ chức chính trị - xã hội, 52 tỉnh/thành phố); tổ chức hội thảo lấy ý kiến tại cả 3 miền Bắc, Trung, Nam.
  • Đề nghị xây dựng Luật Nhà giáo: Đăng tải hồ sơ trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ trong thời gian 30 ngày từ 14/10/2022 (Công văn 5392/BGDĐT-NGCBQLGD). Đến 29/11/2022 nhận được văn bản góp ý từ nhiều bộ ngành, 45 địa phương và 15 trường đại học.
  • Việc công bố văn bản được hỗ trợ qua cổng duthaoonline.quochoi.vn và các cơ sở dữ liệu luật trực tuyến.

2. Những hạn chế về bảo đảm tính dân chủ:

  • Hoạt động lập đề nghị còn nặng tính cảm tính, thiếu luận cứ khoa học và thực tiễn; thông tin từ hội thảo của VCCI và Viện Khoa học pháp lý cho thấy nhiều văn bản ban hành thiếu sự đồng thuận của cộng đồng doanh nghiệp, phải sửa đổi ngay khi mới ban hành.
  • Định hướng xây dựng quy định còn bó hẹp trong nội bộ cơ quan soạn thảo, thiên về quản lý nhà nước hơn là phục vụ nhân dân (dẫn chứng Dự thảo Luật về Hội bị các chuyên gia như TS. Phạm Văn Tân, ông Trần Ngọc Hùng phản ánh quy định quá sâu vào công tác nội bộ hội; Luật Dân tộc kéo dài chưa thống nhất phạm vi điều chỉnh).
  • Hiệu quả lấy ý kiến chưa thực chất: Cơ quan lập đề nghị chủ yếu tập trung vào 4 bộ (Tài chính, Ngoại giao, Tư pháp, Nội vụ), lơ là đối tượng chịu tác động trực tiếp; đa số ý kiến gửi chậm so với thời hạn luật định; việc áp dụng trình tự rút gọn (như xây dựng Nghị quyết cơ chế đặc thù TP. Hồ Chí Minh năm 2017 đối với 04 nghị định hướng dẫn Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa) đã cắt giảm khâu lấy ý kiến nhân dân.
  • Công tác tổng hợp, tiếp thu, giải trình chưa nghiêm túc, mang tính chủ quan; báo cáo giải trình chỉ gửi kèm hồ sơ thẩm tra, thẩm định mà không đăng tải công khai cho đối tượng góp ý tiếp cận; pháp luật hiện hành chưa bắt buộc công khai báo cáo giải trình đối với dự thảo Thông tư và văn bản quy phạm pháp luật địa phương.
  • Hình thức tiếp xúc, đối thoại trực tiếp còn hình thức, chưa được quan tâm đúng mức; dẫn chứng thực tế tại tỉnh Nghệ An cho thấy việc tổ chức đối thoại còn cứng nhắc, chưa gợi mở vấn đề và chưa giải quyết dứt điểm các kiến nghị bức xúc.

3. Nguyên nhân của những hạn chế:

  • Nhận thức của một số cơ quan nhà nước còn mang tính đối phó, thiếu quy định cụ thể về trách nhiệm giải trình và chế tài xử lý;
  • Người dân có tâm lý e ngại, thờ ơ, thiếu niềm tin rằng ý kiến của mình sẽ được tiếp thu;
  • Công tác thông tin, tuyên truyền chưa kịp thời; thời điểm tổ chức lấy ý kiến thường muộn (khi dự thảo đã tương đối hoàn thiện), thời gian lấy ý kiến ngắn;
  • Số lượng góp ý qua các cổng thông tin điện tử rất thấp: dữ liệu trên trang duthaoonline.quochoi.vn cho thấy đa số dự thảo chỉ có 10 đến 20 ý kiến, nhiều dự thảo không có ý kiến nào của người dân (như Luật Đầu tư công, Luật sửa đổi các luật liên quan đến quy hoạch, dự thảo Luật Kiến trúc);
  • Thành phần đại biểu tham gia các hội thảo lấy ý kiến chủ yếu là đại diện cơ quan nhà nước, thiếu vắng các tổ chức xã hội và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp.

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm tính dân chủ trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Dựa trên cấu trúc đề xuất trong mục lục khóa luận, tác giả hệ thống hóa 6 nhóm giải pháp:

  • Hoàn thiện quy định pháp luật về bảo đảm tính dân chủ trong từng khâu: giai đoạn lập đề nghị, giai đoạn soạn thảo dự thảo, và hoạt động tổ chức lấy ý kiến nhân dân;
  • Xây dựng cơ chế chịu trách nhiệm và giám sát chặt chẽ đối với hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật;
  • Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về cả trình độ chuyên môn, kỹ năng soạn thảo và tinh thần cầu thị;
  • Tăng cường điều kiện vật chất, hỗ trợ phương tiện kỹ thuật và phát triển hạ tầng mạng phục vụ hoạt động lấy ý kiến trực tuyến;
  • Tăng cường sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan trong quá trình làm luật;
  • Tăng cường kiểm tra, rà soát và xử lý nghiêm đối với các trường hợp văn bản quy phạm pháp luật không bảo đảm tính dân chủ.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp các số liệu thực chứng phản ánh mức độ tham gia của các chủ thể trong quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam giai đoạn 2015–2023:

Dự án / Hoạt động lấy ý kiến Cơ quan chủ trì Dữ liệu và kết quả tiếp nhận ý kiến thực tế
Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) Bộ Tài nguyên và Môi trường Báo cáo số 12/BC-BTNMT (06/02/2020) ghi nhận ý kiến từ các bộ, địa phương, doanh nghiệp (Siam City Cement), tổ chức xã hội (GreenID) và nhiều cá nhân qua Cổng TTĐT Chính phủ.
Dự án Luật Đất đai (sửa đổi) Bộ Tài nguyên và Môi trường Theo Công văn 475/BTNMT-TCQLĐĐ (03/12/2021), tiếp nhận 76 phản hồi: 19 bộ/ngang bộ, 05 tổ chức chính trị - xã hội, 52 tỉnh/thành phố; tổ chức hội thảo 3 miền Bắc - Trung - Nam.
Đề nghị xây dựng Luật Nhà giáo Bộ Giáo dục và Đào tạo Theo Tờ trình số 768/TTr-BGDĐT (18/5/2023), tiếp nhận phản hồi từ nhiều bộ, 45 địa phương, 15 trường đại học. Cụ thể:
- Hoàn toàn nhất trí: 03 bộ/ngang bộ, 27 tỉnh/thành, 10 trường ĐH.
- Nhất trí chủ trương và có góp ý chi tiết: 10 bộ/ngang bộ, 24 tỉnh/thành, 05 trường ĐH.
Lấy ý kiến qua Cổng duthaoonline.quochoi.vn Quốc hội Đa số dự thảo luật, pháp lệnh chỉ nhận được 10-20 ý kiến; một số dự án không có ý kiến nào tham gia (Luật Đầu tư công, Luật sửa đổi các luật về quy hoạch, Luật Kiến trúc).

Đóng góp của khóa luận:

  • Về mặt lý luận: Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về tính dân chủ trong quy trình lập pháp, lập quy; phân tích sâu sắc mối liên hệ giữa nguyên tắc dân chủ tại Điều 5 khoản 6 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật với các nguyên tắc hiến định tại Điều 28 Hiến pháp năm 2013.
  • Về mặt thực tiễn: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm cụ thể chỉ ra khoảng cách giữa quy định pháp lý và việc thực thi, nổi bật là tình trạng lấy ý kiến mang tính hình thức, thiếu vắng cơ chế công khai báo cáo giải trình và tỷ lệ tham gia thấp của người dân trên các nền tảng trực tuyến.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp gắn với trách nhiệm giải trình và hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự xác định một số điểm hạn chế:

  • Về phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung chủ yếu vào hai giai đoạn ban đầu của quy trình xây dựng văn bản là giai đoạn lập đề nghị và giai đoạn soạn thảo; chưa đi sâu khảo sát các giai đoạn tiếp theo như thẩm tra, tiếp thu chỉnh lý tại các cơ quan của Quốc hội hoặc HĐND trước khi biểu quyết thông qua.
  • Về chiều sâu đánh giá: Tác giả tự nhận thức do tính phức tạp của đề tài và giới hạn nhận thức lý luận, thực tiễn của bản thân nên một số nhận định thực trạng còn mang tính khái quát.

Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ nội dung văn bản:

  • Mở rộng nghiên cứu quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể trong toàn bộ chu trình lập pháp;
  • Nghiên cứu cơ chế bắt buộc công khai báo cáo giải trình tiếp thu ý kiến đối với văn bản quy phạm pháp luật dưới luật (đặc biệt là Thông tư của Bộ trưởng và văn bản của chính quyền địa phương);
  • Khảo sát các giải pháp công nghệ số nhằm nâng cao tính tương tác thực chất giữa cơ quan soạn thảo và người dân trên các nền tảng lấy ý kiến trực tuyến.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật học, đặc biệt là chuyên ngành Xây dựng văn bản pháp luật, Luật Hành chính và Luật Nhà nước;
  • Cán bộ làm công tác pháp chế tại các bộ, ngành, UBND và cơ quan chuyên môn các cấp khi tiến hành quy trình lập đề nghị và soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật;
  • Người nghiên cứu quan tâm đến quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân theo Điều 28 Hiến pháp năm 2013 và quy trình lập pháp thực tế tại Việt Nam.

Phần nội dung đáng tham khảo nhất của công trình là các phân tích chi tiết về quy định lập đề nghị, cơ cấu Ban soạn thảo theo Điều 53, 54, 57 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 (sửa đổi, bổ sung 2020), cùng hệ thống dẫn chứng số liệu thực tế từ hồ sơ lấy ý kiến các dự án Luật Nhà giáo, Luật Đất đai và Luật Bảo vệ môi trường.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguyên tắc bảo đảm tính dân chủ được Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) quy định tại điều khoản nào và có nội dung cốt lõi ra sao?
Nguyên tắc này được quy định tại khoản 6 Điều 5 của Luật: "Bảo đảm công khai, dân chủ trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật". Bản chất của nguyên tắc là đảm bảo nhân dân được biết, tham gia góp ý và làm chủ trong cả hai giai đoạn: lập đề nghị và soạn thảo văn bản.

2. Quy định của pháp luật hiện hành về số lượng tối thiểu và thành phần chuyên gia trong Ban soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật như thế nào?
Theo khoản 1 Điều 53 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2020), Ban soạn thảo phải có ít nhất là 09 người. Đồng thời, theo khoản 2 Điều 53, thành viên Ban soạn thảo là chuyên gia, nhà khoa học phải là người am hiểu các vấn đề chuyên môn liên quan đến dự án, dự thảo và có điều kiện tham gia đầy đủ các hoạt động của Ban soạn thảo.

3. Kết quả phản hồi thực tế từ các bộ, địa phương và trường đại học đối với hồ sơ lập đề nghị xây dựng Luật Nhà giáo (năm 2022) đạt tỷ lệ ra sao?
Theo Tờ trình số 768/TTr-BGDĐT ngày 18/5/2023, có 03 bộ/ngang bộ, 27 tỉnh/thành phố và 10 cơ sở giáo dục đại học hoàn toàn nhất trí với hồ sơ; có 10 bộ/ngang bộ, 24 tỉnh/thành phố và 05 cơ sở giáo dục đại học nhất trí về chủ trương và có ý kiến góp ý cụ thể.

4. Khóa luận ghi nhận thực trạng lấy ý kiến nhân dân qua website duthaoonline.quochoi.vn và các cổng thông tin điện tử bộc lộ con số thực tế nào?
Khóa luận dẫn số liệu rà soát cho thấy số lượng người dân tham gia góp ý các dự thảo luật, pháp lệnh trên duthaoonline.quochoi.vn rất ít, đa số chỉ đạt khoảng 10 đến 20 ý kiến; thậm chí nhiều dự thảo không có ý kiến nào tham gia như Luật Đầu tư công, Luật sửa đổi các luật liên quan đến quy hoạch, dự thảo Luật Kiến trúc. Tại các cổng thông tin của bộ ngành, mỗi văn bản thường chỉ có từ 1 đến 2 ý kiến hoặc không nhận được phản hồi.

5. Việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn làm phát sinh bất cập gì đối với việc bảo đảm tính dân chủ?
Khi áp dụng thủ tục rút gọn trong các trường hợp khẩn cấp, cấp bách theo quy định, việc lấy ý kiến người dân không phải là quy trình bắt buộc. Điều này làm mất đi cơ hội đóng góp ý kiến của các đối tượng chịu tác động trực tiếp và làm cho chính sách chưa được đánh giá thận trọng, ví dụ như trường hợp xây dựng Nghị quyết cơ chế đặc thù tại TP. Hồ Chí Minh năm 2017 đối với 04 nghị định hướng dẫn Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Ngọc Anh đã phân tích hệ thống cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng thực thi nguyên tắc bảo đảm tính dân chủ trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam từ năm 2015 đến năm 2023. Công trình làm rõ những kết quả đạt được qua các dự án luật cụ thể, đồng thời chỉ ra các hạn chế cố hữu trong khâu lấy ý kiến, trách nhiệm giải trình và mức độ tham gia của người dân trên thực tế. Trên cơ sở đó, tác giả định hình 6 nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế và nâng cao chất lượng quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian tới.