Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam đòi hỏi hệ thống pháp luật phải được hoàn thiện đồng bộ, khoa học, dân chủ và minh bạch. Trong quy trình lập quy, hoạt động thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) của chính quyền địa phương giữ vị trí mắt xích bắt buộc nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất và khả thi của các quyết định quản lý nhà nước tại cơ sở. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy công tác này tại cấp tỉnh và cấp huyện còn bộc lộ nhiều hạn chế như: quy trình bị rút ngắn mang tính hình thức, thiếu tính phản biện chuyên môn sâu, cán bộ tư pháp kiêm nhiệm nhiều đầu việc và sự phối hợp giữa cơ quan soạn thảo với cơ quan thẩm định chưa kịp thời. Nhằm giải quyết các bất cập trên, tác giả Phan Thị Hương Thảo đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Hoạt động thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương - Thực trạng và giải pháp" dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Ngô Linh Ngọc tại chuyên ngành Xây dựng văn bản pháp luật.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể theo ba nhiệm vụ:

  1. Xác định và hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về VBQPPL của chính quyền địa phương cũng như hoạt động thẩm định dự thảo VBQPPL ở cấp cơ sở.
  2. Đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động thẩm định dự thảo VBQPPL của chính quyền địa phương trên các phương diện: kết quả đạt được, những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân dẫn đến các vướng mắc trong thực tiễn.
  3. Đề xuất hệ thống các giải pháp đồng bộ, khả thi nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động thẩm định dự thảo VBQPPL của chính quyền địa phương trong giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của công trình gồm:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quy định của pháp luật hiện hành về thẩm định dự thảo VBQPPL của chính quyền địa phương và thực tiễn thi hành hoạt động thẩm định này tại các cơ quan tư pháp địa phương.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào thẩm quyền, nội dung, trình tự, thủ tục và các điều kiện bảo đảm cho hoạt động thẩm định đối với dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) và dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh, cấp huyện.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực tiễn từ thời điểm Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có hiệu lực thi hành cho đến thời điểm thực hiện khóa luận năm 2024.

Cơ sở lý luận, pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở các khái niệm, quy định pháp luật thực định và nền tảng lý luận về khoa học pháp lý hành chính:

  • Hệ thống khái niệm và học thuyết: Khóa luận viện dẫn khái niệm "thẩm định" từ Đại từ điển tiếng Việt (1998), thuật ngữ tiếng Pháp "Contrôle" trong Le Petit Larousse (1993), thuật ngữ tiếng Đức "Gutachten" trong Từ điển Luật học của Gerhard Koebler (1994) và định nghĩa chuyên ngành của Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp. Khái niệm "chính quyền địa phương" (local government) được đối chiếu từ Black’s Law Dictionary. Về VBQPPL, tác giả dựa trên cơ sở Điều 2 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và giáo trình chuyên ngành của Trường Đại học Luật Hà Nội.
  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật áp dụng: Hiến pháp năm 2013; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019); Nghị định số 34/2016/NĐ-CP và Nghị định số 154/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành VBQPPL; Thông tư số 42/2022/TT-BTC (sửa đổi, bổ sung Thông tư số 338/2016/TT-BTC) quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng VBQPPL.
  • Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu: Tác giả áp dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng các quan điểm chỉ đạo của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm phương pháp phân tích - tổng hợp quy phạm pháp luật, phương pháp so sánh pháp luật và phương pháp thống kê dữ liệu thực tế từ các báo cáo chuyên môn của ngành tư pháp.
  • Nguồn dữ liệu: Các số liệu sơ cấp và thứ cấp trích xuất từ báo cáo công tác của Sở Tư pháp thành phố Đà Nẵng, dữ liệu thực tiễn tại Hà Nội, Thừa Thiên Huế, Bạc Liêu, Điện Biên, Phú Thọ và kết quả từ các công trình nghiên cứu thạc sĩ, đề tài khoa học cấp trường liên quan.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về hoạt động thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương

Chương 1 tập trung phân tích bản chất pháp lý của VBQPPL và quy trình thẩm định ở cấp địa phương. VBQPPL của chính quyền địa phương được xác định là hình thức pháp lý thể hiện ý chí quyền lực nhà nước của HĐND và UBND, mang năm đặc điểm cơ bản: do chủ thể có thẩm quyền ban hành; tuân thủ hình thức, thủ tục, trình tự luật định; có đối tượng áp dụng chung nhiều lần; là công cụ chuyển hóa nhiệm vụ của nhà nước cấp trên; và có tính cá biệt hóa theo đặc thù của từng địa phương.

Về thẩm quyền, HĐND ban hành Nghị quyết, UBND ban hành Quyết định. Thẩm quyền nội dung bị giới hạn nghiêm ngặt theo phân cấp quản lý nhà nước; các ban của HĐND hay cơ quan chuyên môn thuộc UBND không có thẩm quyền ban hành VBQPPL.

Cấp hành chính Cơ quan ban hành Hình thức văn bản Cơ quan có thẩm quyền thẩm định Đối tượng văn bản thẩm định
Cấp tỉnh Hội đồng nhân dân Nghị quyết Sở Tư pháp Dự thảo Nghị quyết do UBND cùng cấp trình
Cấp tỉnh Ủy ban nhân dân Quyết định Sở Tư pháp Dự thảo Quyết định của UBND cấp tỉnh
Cấp huyện Ủy ban nhân dân Quyết định Phòng Tư pháp Dự thảo Quyết định của UBND cấp huyện

Nội dung thẩm định bao quát sáu nhóm vấn đề pháp lý:

  1. Sự cần thiết ban hành văn bản.
  2. Đối tượng và phạm vi điều chỉnh.
  3. Sự phù hợp với chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước; tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất với hệ thống pháp luật.
  4. Sự phù hợp với văn bản cấp trên giao quy định chi tiết và các chính sách đề xuất.
  5. Ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo văn bản (tuân thủ Điều 8 Luật Ban hành VBQPPL, Nghị định số 34/2016/NĐ-CP và Nghị định số 154/2020/NĐ-CP).
  6. Tính khả thi của dự thảo đối với điều kiện kinh tế - xã hội địa phương.

Tác giả khẳng định ba nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt: bảo đảm tính khách quan, khoa học; tuân thủ trình tự, thủ tục và thời hạn luật định; bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan liên quan. Hoạt động này chịu sự tác động đồng thời của yếu tố chính trị, thể chế pháp luật thực định cùng nguồn lực nhân sự và cơ sở vật chất kỹ thuật.

Chương 2: Thực trạng hoạt động thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương

Chương 2 phản ánh bức tranh thực tiễn thông qua việc tổng hợp số liệu và phân tích các trường hợp điển hình.

Về kết quả đạt được, công tác thẩm định đã từng bước đi vào nề nếp. Dẫn chứng tại thành phố Đà Nẵng: theo Báo cáo số 4361/BC-STP ngày 29/11/2022, Sở Tư pháp đã thẩm định 60 dự thảo VBQPPL (gồm 32 dự thảo Nghị quyết và 28 dự thảo Quyết định). Báo cáo thẩm định đã chỉ ra những lỗi sai chi tiết về kỹ thuật lập quy, ví dụ: yêu cầu cơ quan soạn thảo không viết tắt ngày tháng năm bằng dấu gạch chéo theo Mẫu số 37 Phụ lục I Nghị định số 154/2020/NĐ-CP; tách các văn bản căn cứ pháp lý thành từng dòng riêng biệt thay vì trình bày chung một dòng (khoản 3 Điều 61 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP); sửa đổi viện dẫn sai tên Nghị định số 158/2016/NĐ-CP và Nghị định số 23/2020/NĐ-CP; thay cụm từ "Xét đề nghị" thành "Theo đề nghị".

Tuy nhiên, chương này chỉ rõ các tồn tại mang tính hệ thống:

  • Chất lượng đánh giá không đồng đều: Hoạt động thẩm định còn nặng về kiểm tra hình thức, thể thức văn bản mà chưa đi sâu vào đánh giá tác động chính sách và tính khả thi. Một số trường hợp thẩm định mang tính hình thức nhằm "hợp thức hóa hồ sơ".
  • Vi phạm thời hạn gửi hồ sơ: Luật Ban hành VBQPPL quy định cơ quan soạn thảo phải gửi hồ sơ thẩm định trước ngày họp UBND chậm nhất 20 ngày, và cơ quan tư pháp thẩm định trong thời hạn 10 ngày. Trên thực tế, các cơ quan soạn thảo thường gửi hồ sơ rất sát kỳ họp (chỉ trước 2-3 ngày, thậm chí 1 ngày), tạo áp lực lớn khiến chất lượng thẩm định bị giảm sút.
  • Bất cập về nhân lực cấp huyện: Tại các Phòng Tư pháp cấp huyện, cán bộ vừa thiếu vừa yếu về nghiệp vụ lập quy. Thống kê trong văn bản chỉ ra số cán bộ có trình độ cử nhân luật tại cấp huyện chỉ chiếm khoảng 20%, phần lớn còn lại đào tạo trái chuyên ngành, dẫn tới nguy cơ thẩm định sót lọt các quy định trái luật.

Nguyên nhân của các tồn tại được tác giả quy về ba nhóm: chất lượng nguồn nhân lực làm công tác thẩm định chưa theo kịp sự biến đổi kinh tế - xã hội và cam kết quốc tế; sự phối hợp hai chiều giữa cơ quan tư pháp và cơ quan chủ trì soạn thảo thiếu chặt chẽ; nguồn kinh phí và cơ sở vật chất, hệ thống dữ liệu tra cứu chưa đáp ứng yêu cầu.

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thẩm định, thẩm tra trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương

Dựa trên yêu cầu đổi mới của Luật sửa đổi, bổ sung năm 2020 (bắt buộc thẩm định sự cần thiết đối với Nghị quyết theo khoản 2, 3 Điều 27 và Quyết định UBND theo khoản 2, 3 Điều 28), Chương 3 xác lập bốn nhóm giải pháp:

  1. Hoàn thiện quy định pháp luật về thẩm định: Quy định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan thẩm định, bao gồm quyền quyết định việc trả hồ sơ không đủ điều kiện, quyền đề xuất sửa đổi hoặc loại bỏ điều khoản không phù hợp; thiết lập cơ chế kiểm soát chất lượng thẩm định qua các tiêu chí đo lường tính hợp pháp, tính logic và tính khả thi; mở rộng quy trình đối thoại, công khai tiếp nhận ý kiến cộng đồng trên cổng thông tin điện tử.
  2. Cải tiến tổ chức bộ máy: Đề xuất thành lập một phòng nghiệp vụ chuyên trách thực hiện công tác thẩm định tại các Sở Tư pháp địa phương, tách biệt với các công việc hành chính tư pháp khác nhằm bảo đảm tính chuyên sâu.
  3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Hoàn thiện cơ chế thi tuyển, đào tạo công chức dự bị; cân đối cơ cấu công chức theo độ tuổi và giới tính (khắc phục bất cập được chỉ ra tại Phòng Văn bản Pháp quy - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội); bảo đảm 100% cán bộ làm công tác thẩm định sử dụng thành thạo công nghệ thông tin và có năng lực tra cứu, đối chiếu văn bản có yếu tố quốc tế.
  4. Tăng cường điều kiện bảo đảm:
    • Về tài chính: Nâng định mức chi theo Thông tư số 42/2022/TT-BTC, tháo gỡ sự bất cập giữa mức chi hiện hành với độ phức tạp của công việc. Đồng thời, cải cách quy trình giải ngân kinh phí, khắc phục triệt để tình trạng trễ ngân sách vào các tháng đầu năm (tháng 1 đến tháng 4).
Loại dự thảo văn bản quy phạm pháp luật cấp tỉnh Mức chi tối đa hiện hành theo Thông tư 42/2022/TT-BTC
Dự thảo Nghị quyết HĐND cấp tỉnh ban hành mới 2.000.000 đồng/dự thảo
Dự thảo Nghị quyết HĐND cấp tỉnh sửa đổi, bổ sung 1.500.000 đồng/dự thảo
Dự thảo Quyết định UBND cấp tỉnh ban hành mới 2.000.000 đồng/dự thảo
Dự thảo Quyết định UBND cấp tỉnh sửa đổi, bổ sung 1.500.000 đồng/dự thảo
  • Về khoa học - kỹ thuật: Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số hóa liên thông về VBQPPL; triển khai nền tảng lấy ý kiến góp ý dự thảo trực tuyến để giảm thời gian xử lý thủ tục.

Kết quả và đóng góp

Văn bản khóa luận đã đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể:

  • Làm sáng tỏ vị trí pháp lý độc lập và giới hạn thẩm quyền của Sở Tư pháp và Phòng Tư pháp trong quy trình xây dựng VBQPPL theo Luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
  • Trích xuất dữ liệu thực tế chứng minh áp lực công việc và những hạn chế kỹ thuật: Sở Tư pháp Đà Nẵng thẩm định 60 dự thảo trong năm 2022; tỷ lệ cử nhân luật tại cấp huyện chỉ đạt 20%; các lỗi vi phạm phổ biến về Nghị định số 34/2016/NĐ-CP và Nghị định số 154/2020/NĐ-CP; khoảng trống kinh phí theo Thông tư số 42/2022/TT-BTC (mức chi tối đa 1,5 - 2 triệu đồng/văn bản).
  • Đưa ra giải pháp tổ chức cụ thể là mô hình thành lập phòng chuyên môn chuyên trách thẩm định tại Sở Tư pháp, đồng thời kiến nghị sửa đổi quy trình cấp phát ngân sách để tránh tình trạng "nợ kinh phí" trong quý I hàng năm.

So với các công trình nghiên cứu trước đây (thường chỉ tập trung vào thẩm định ở cấp bộ ngành trung ương như Bộ Tư pháp hoặc nghiên cứu toàn bộ quy trình ban hành văn bản tại một địa phương đơn lẻ như Điện Biên, Phú Thọ), khóa luận đã đi sâu phân tích trực diện cơ chế thẩm định của chính quyền địa phương ở cả hai cấp tỉnh và huyện trong mối tương quan với các văn bản hướng dẫn thi hành mới ban hành.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Các số liệu thực chứng chuyên sâu chủ yếu được trích xuất từ báo cáo của một số địa phương đại diện (Đà Nẵng, Hà Nội) và các nghiên cứu đi trước; chưa bao quát được toàn diện số liệu của tất cả 63 tỉnh, thành phố. Ngoài ra, khóa luận chưa khảo sát sâu về cơ chế thẩm định văn bản tại các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do chưa có khung pháp lý đồng bộ trong thực tế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế phối hợp liên ngành trong việc thẩm định các dự thảo VBQPPL có tính chất chuyên ngành phức tạp (như tài chính, đất đai, quy hoạch xây dựng); nghiên cứu tiêu chí định lượng hóa việc đánh giá tác động chính sách trong giai đoạn thẩm định tại chính quyền địa phương.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị sử dụng cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên ngành Luật và Quản lý nhà nước: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuyên khảo cho các học phần Xây dựng văn bản pháp luật, Luật Hành chính, và Kỹ thuật lập quy.
  • Cán bộ, công chức làm công tác tư pháp: Cung cấp tài liệu tham khảo thực tiễn cho công chức Sở Tư pháp và Phòng Tư pháp trong việc nhận diện các lỗi kỹ thuật soạn thảo thường gặp theo quy chuẩn của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP và Nghị định số 154/2020/NĐ-CP.
  • Phần nội dung đáng lưu ý: Bảng tổng hợp đối tượng thẩm định tại Chương 1 và danh mục các đề xuất điều chỉnh mức chi tài chính cùng mô hình tổ chức bộ máy tại Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo quy định pháp luật hiện hành, cơ quan nào có thẩm quyền thẩm định dự thảo quyết định của UBND cấp huyện?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 148 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) được khóa luận trích dẫn, Phòng Tư pháp cấp huyện là cơ quan chịu trách nhiệm thẩm định dự thảo quyết định của UBND cấp huyện trước khi trình ban hành.

2. Thực trạng thời gian gửi hồ sơ thẩm định tại chính quyền địa phương diễn ra như thế nào so với quy định pháp luật?
Luật định yêu cầu cơ quan soạn thảo phải gửi hồ sơ đến cơ quan tư pháp chậm nhất 20 ngày trước ngày UBND họp, và thời hạn thẩm định là 10 ngày. Tuy nhiên, thực tế cơ quan soạn thảo thường gửi hồ sơ rất gấp, chỉ trước 2-3 ngày, thậm chí 1 ngày trước kỳ họp, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chiều sâu và chất lượng thẩm định.

3. Tỷ lệ cán bộ có chuyên môn cử nhân luật tại Phòng Tư pháp cấp huyện được văn bản ghi nhận là bao nhiêu?
Văn bản chỉ ra rằng trong tổng số cán bộ làm công tác tư pháp ở cấp huyện, số cán bộ có trình độ chuyên môn là cử nhân luật chỉ chiếm 20%; phần lớn cán bộ còn lại có trình độ chuyên môn thấp hoặc đào tạo trái ngành nghề.

4. Mức chi tối đa từ ngân sách cho việc xây dựng và thẩm định một dự thảo nghị quyết HĐND cấp tỉnh ban hành mới hiện nay là bao nhiêu?
Căn cứ Thông tư số 42/2022/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Thông tư số 338/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính được nêu trong khóa luận, mức chi tối đa cho dự thảo nghị quyết HĐND cấp tỉnh ban hành mới là 2.000.000 đồng/dự thảo (đối với văn bản sửa đổi, bổ sung là 1.500.000 đồng/dự thảo).

5. Khóa luận đề xuất mô hình tổ chức nào tại Sở Tư pháp để giải quyết tình trạng kiêm nhiệm trong thẩm định?
Tác giả đề xuất tại các Sở Tư pháp cần thành lập một phòng nghiệp vụ chuyên trách chỉ thực hiện công tác thẩm định dự thảo VBQPPL, tách bạch khỏi các nhiệm vụ hành chính tư pháp khác để chuyên môn hóa đội ngũ và nâng cao tính phản biện thực chất.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Phan Thị Hương Thảo đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động thẩm định dự thảo VBQPPL của chính quyền địa phương. Công trình phản ánh trung thực thực trạng công tác thẩm định tại cấp tỉnh và cấp huyện, đồng thời chỉ rõ những điểm nghẽn về thời gian xử lý, năng lực cán bộ tư pháp và định mức kinh phí bảo đảm. Hệ thống bốn nhóm giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ từ hoàn thiện thể chế, tái cơ cấu phòng chuyên môn đến bảo đảm ngân sách và ứng dụng công nghệ thông tin. Đây là tài liệu nghiên cứu chuyên khảo có giá trị học thuật và thực tiễn đối với lĩnh vực xây dựng văn bản pháp luật tại Việt Nam.