Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, pháp luật giữ vai trò là công cụ quản lý xã hội cơ bản nhằm thể hiện ý chí của Nhà nước và duy trì trật tự xã hội. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật là nhiệm vụ chiến lược. Hàng năm, các văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) trong lĩnh vực dân sự do các cơ quan nhà nước ban hành chiếm tỷ trọng lớn và có ý nghĩa quan trọng, tác động trực tiếp đến quyền nhân thân, quyền tài sản, hoạt động kinh doanh, thương mại điện tử, sở hữu trí tuệ và đời sống của các cá nhân, tổ chức. Chất lượng của các văn bản này quyết định trực tiếp tính khả thi, hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước.
Hoạt động thẩm định dự thảo VBQPPL là một giai đoạn bắt buộc trong quy trình lập pháp, có chức năng như một màng lọc kỹ thuật và pháp lý nhằm phát hiện các sai sót, mâu thuẫn, chồng chéo hoặc vi phạm thẩm quyền trước khi văn bản được cơ quan có thẩm quyền ban hành. Mặc dù hành lang pháp lý về xây dựng, thẩm định VBQPPL đã từng bước được bổ sung qua Luật Ban hành VBQPPL năm 1996, 2004, 2008, 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và các Nghị định hướng dẫn thi hành, thực tiễn thẩm định các dự thảo văn bản trong lĩnh vực dân sự vẫn bộc lộ những hạn chế, bất cập về thời hạn, chất lượng hồ sơ và sự phối hợp liên ngành. Do đó, việc nghiên cứu đề tài "Thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực dân sự" có tính cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn.
Mục tiêu tổng quát của khóa luận là kế thừa các kết quả nghiên cứu lý luận về thẩm định VBQPPL nói chung và trong lĩnh vực dân sự nói riêng, đánh giá thực trạng công tác thẩm định tại các cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động này.
Để đạt được mục tiêu trên, tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Khái quát và làm rõ khái niệm, vai trò, nguyên tắc, nội dung và trình tự, thủ tục của hoạt động thẩm định dự thảo VBQPPL trong lĩnh vực dân sự.
- Phân tích thực trạng thực hiện hoạt động thẩm định dự thảo VBQPPL trong lĩnh vực dân sự giai đoạn 2020 – 2022, bao gồm thống kê thành tựu, chỉ ra các hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó.
- Đề xuất các giải pháp cụ thể về hoàn thiện pháp luật, tổ chức thực hiện và các điều kiện bảo đảm nhằm nâng cao hiệu quả công tác thẩm định dự thảo VBQPPL trong lĩnh vực dân sự.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác thẩm định dự thảo VBQPPL trong lĩnh vực dân sự.
- Phạm vi nội dung: Hoạt động thẩm định dự thảo VBQPPL trong lĩnh vực dân sự do các cơ quan, chủ thể có thẩm quyền ở cấp Trung ương thực hiện (tập trung vào Bộ Tư pháp và Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế).
- Phạm vi thời gian: Khảo sát số liệu và thực tiễn từ năm 2020 đến thời điểm hoàn thành khóa luận (năm 2023).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Về mặt lý luận chuyên ngành và khái niệm, tác giả tiếp cận khái niệm VBQPPL theo Điều 2 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015; tham khảo định nghĩa thẩm định từ góc độ ngôn ngữ và pháp lý trong Từ điển Tiếng Việt (1998), Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (1999), Từ điển Luật học CHLB Đức do Gerhard Köbler chủ biên (1994, thuật ngữ Gutachten), Từ điển Bách khoa toàn thư Pháp Le Petit Larousse (1995, thuật ngữ Contrôle), và thuật ngữ Review trong Black's Law Dictionary. Các văn bản quy phạm điều chỉnh trực tiếp hoạt động này bao gồm:
- Hiến pháp năm 2013 (đặc biệt là Điều 14 về giới hạn quyền con người, quyền công dân và Điều 119 về tính tối cao của Hiến pháp);
- Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020);
- Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành VBQPPL;
- Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP;
- Quyết định số 05/2007/QĐ-TTg ngày 10/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thẩm định dự án, dự thảo VBQPPL;
- Quyết định số 1508/QĐ-BTP năm 2014 của Bộ Tư pháp;
- Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 về kiểm soát thủ tục hành chính (được sửa đổi bởi Nghị định số 48/2013/NĐ-CP và Nghị định số 92/2017/NĐ-CP);
- Thông tư số 03/2022/TT-BTP ngày 10/02/2022 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn đánh giá tác động của thủ tục hành chính;
- Các đạo luật nội dung có liên quan mật thiết: Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019, 2022), Luật Thương mại năm 2005, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Doanh nghiệp năm 2020.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả sử dụng phối hợp bao gồm:
- Phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp: Phân tích các yếu tố cấu thành hoạt động thẩm định (chủ thể, đối tượng, nội dung, quy trình) và tổng hợp đưa ra nhận định, đánh giá bản chất pháp lý;
- Phương pháp diễn dịch và phương pháp quy nạp: Trình bày các luận điểm từ quy định chung của pháp luật đến thực tiễn giải quyết từng hồ sơ dự thảo cụ thể;
- Phương pháp thống kê: Thống kê số lượng văn bản, dự thảo được thẩm định bởi Bộ Tư pháp, các tổ chức pháp chế bộ ngành và cơ quan tư pháp địa phương trong giai đoạn 2020 – 2022;
- Phương pháp so sánh: So sánh quy định pháp luật qua các thời kỳ (Luật năm 1996, 2008, 2015), so sánh dự thảo văn bản với các văn bản cấp trên và điều ước quốc tế có liên quan.
Nguồn dữ liệu của khóa luận gồm các Báo cáo tổng kết công tác tư pháp năm 2020, 2021, 2022 của Bộ Tư pháp; hồ sơ thẩm định thực tế và các Báo cáo thẩm định do Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế (Bộ Tư pháp) chủ trì; cùng hệ thống tài liệu nghiên cứu, kỷ yếu hội thảo và luận văn thạc sĩ chuyên ngành luật học đã công bố.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Khái quát về thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực dân sự
Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về hoạt động thẩm định dự thảo VBQPPL trong lĩnh vực dân sự. Tác giả định nghĩa thẩm định dự thảo VBQPPL trong lĩnh vực dân sự là hoạt động nghiên cứu, xem xét, đánh giá về nội dung và hình thức đối với dự án, dự thảo VBQPPL trong lĩnh vực dân sự theo nội dung, trình tự, thủ tục do luật định nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất và đồng bộ của văn bản trong hệ thống pháp luật.
Khóa luận làm rõ 3 đặc điểm cơ bản của hoạt động này:
- Là thủ tục bắt buộc và không thể thiếu trong quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL đối với các đề nghị, dự án, dự thảo do các cơ quan có thẩm quyền ban hành;
- Được thực hiện bởi các cơ quan chuyên môn theo luật định (Bộ Tư pháp, tổ chức pháp chế Bộ, cơ quan ngang Bộ, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp);
- Kết quả thẩm định thể hiện dưới hình thức văn bản pháp lý bắt buộc trong hồ sơ trình dự thảo (Báo cáo thẩm định).
Về vai trò, tác giả luận giải 6 khía cạnh: (1) Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, đồng bộ, thống nhất và khả thi của dự thảo; (2) Nâng cao trách nhiệm và chất lượng làm việc của cơ quan soạn thảo; (3) Tạo lập cơ chế kiểm soát, giám sát và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước; (4) Giảm thiểu lãng phí thời gian, chi phí sửa đổi văn bản sau khi ban hành; (5) Bảo đảm tính chuẩn mực về quy trình, tránh tình trạng văn bản bị hủy bỏ do vi phạm thủ tục; (6) Kiến tạo môi trường pháp lý minh bạch, ổn định cho hoạt động của doanh nghiệp và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân.
Hoạt động thẩm định phải tuân thủ 5 nguyên tắc:
- Khách quan, khoa học, dựa trên trao đổi, thảo luận tập thể, đề cao trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan;
- Tuân thủ trình tự, thủ tục, nội dung và thời hạn luật định;
- Bảo đảm tính chính xác, rõ ràng, nhất quán trong phân công nhiệm vụ;
- Bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị chủ trì thẩm định và các đơn vị liên quan;
- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong tiếp nhận, xử lý và theo dõi hồ sơ thẩm định.
Về nội dung thẩm định, tác giả phân tích 9 nhóm tiêu chí theo Luật Ban hành VBQPPL năm 2015: sự cần thiết ban hành; đối tượng và phạm vi điều chỉnh; sự phù hợp với đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất với hệ thống pháp luật; tính tương thích với điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; sự cần thiết, hợp lý và chi phí tuân thủ thủ tục hành chính (TTHC); nguồn lực tài chính và nhân lực bảo đảm thi hành; lồng ghép vấn đề bình đẳng giới; ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo và tính hợp lệ của trình tự, thủ tục lập quy.
Quy trình thẩm định được chuẩn hóa qua 4 bước:
- Bước 1: Gửi và tiếp nhận hồ sơ thẩm định (kiểm tra tính hợp lệ trong vòng 01 ngày làm việc);
- Bước 2: Chuẩn bị và tổ chức thẩm định (lựa chọn thành lập Hội đồng thẩm định hoặc tổ chức cuộc họp tư vấn thẩm định);
- Bước 3: Xây dựng Báo cáo thẩm định (đưa ra kết luận rõ ràng về việc dự thảo đủ điều kiện hay chưa đủ điều kiện trình);
- Bước 4: Ký ban hành, gửi Báo cáo thẩm định cho cơ quan soạn thảo và công khai trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.
Chương 2: Thực trạng hoạt động thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực dân sự
Chương 2 phản ánh toàn diện thực trạng công tác thẩm định giai đoạn 2020 – 2022 thông qua các số liệu thống kê ngành tư pháp và hồ sơ giải quyết án điểm tại Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế (Bộ Tư pháp).
Về số lượng văn bản được thẩm định: Toàn ngành tư pháp và Bộ Tư pháp đã xử lý một khối lượng lớn hồ sơ lập quy, cụ thể qua bảng tổng hợp sau:
| Năm |
Thẩm định đề nghị xây dựng VBQPPL (Bộ Tư pháp) |
Thẩm định dự thảo VBQPPL (Bộ Tư pháp) |
Thẩm định của Tổ chức Pháp chế các Bộ/ngành |
Thẩm định của các Sở Tư pháp |
Thẩm định của các Phòng Tư pháp |
Tổng số dự thảo VBQPPL toàn ngành thẩm định |
| 2020 |
28 |
258 |
567 |
4.162 |
983 |
5.970 |
| 2021 |
43 |
232 |
634 |
4.904 |
1.879 |
7.649 |
| 2022 |
32 |
251 |
536 |
4.675 |
2.836 |
8.298 |
Tổng cộng trong 3 năm (2020 – 2022), riêng Bộ Tư pháp đã tổ chức thẩm định 741 dự thảo VBQPPL trên tất cả các lĩnh vực.
Trong lĩnh vực dân sự, khóa luận phân tích các Báo cáo thẩm định tiêu biểu do Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế thực hiện:
- Báo cáo số 278/BCTĐ-BTP ngày 11/12/2020 về Dự thảo Nghị định quy định chi tiết mức thu, trình tự, thủ tục thu, nộp và việc quản lý, sử dụng chi phí hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
- Báo cáo số 04/BCTĐ-BTP ngày 15/01/2021 về Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử;
- Báo cáo số 46/BCTĐ-BTP ngày 04/05/2021 về Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ;
- Báo cáo số 74/BCTĐ-BTP ngày 28/06/2021 về Dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định số 43/2017/NĐ-CP về nhãn hàng hóa;
- Báo cáo số 113/BCTĐ-BTP ngày 06/09/2021 về Dự thảo Nghị định sửa đổi Điều 14 Nghị định số 168/2017/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Du lịch về ký quỹ kinh doanh dịch vụ lữ hành;
- Báo cáo số 140/BCTĐ-BTP ngày 08/09/2022 về Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội thí điểm cấp quyền lựa chọn sử dụng biển số ô tô thông qua đấu giá;
- Báo cáo số 198/BCTĐ-BTP ngày 07/11/2022 về Dự thảo Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về quyền đối với giống cây trồng;
- Báo cáo số 201/BCTĐ-BTP ngày 14/11/2022 về Dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ;
- Báo cáo số 205/BCTĐ-BTP ngày 17/11/2022 về Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan.
Tác giả đi sâu phân tích việc thực thi các nguyên tắc và nội dung thẩm định thông qua các phát hiện pháp lý cụ thể:
- Về tính hợp hiến: Tại Báo cáo số 201/BCTĐ-BTP, cơ quan thẩm định đã phát hiện Điều 35 của dự thảo Nghị định quy định quyền sở hữu công nghiệp có thể bị hủy bỏ hoặc đình chỉ hiệu lực nếu nhãn hiệu vi phạm đạo đức xã hội. Cơ quan thẩm định đã bác bỏ điều khoản này vì vi phạm khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 (quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật) và mâu thuẫn với Điều 96 Luật Sở hữu trí tuệ.
- Về tính đồng bộ, thống nhất: Tại Báo cáo số 198/BCTĐ-BTP, cơ quan thẩm định chỉ ra dự thảo Nghị định về giống cây trồng đã sao chép lại nguyên văn các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ (khoản 2 Điều 5 sao chép khoản 5 Điều 191; Điều 13 sao chép khoản 1, 2 Điều 172; Điều 14 sao chép khoản 1 Điều 170; Điều 17 sao chép Điều 164; Điều 33 sao chép khoản 6 Điều 165). Việc này vi phạm khoản 2 Điều 8 và khoản 1 Điều 11 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 quy định văn bản chi tiết không được lặp lại nội dung của văn bản được quy định chi tiết.
- Về kiểm soát TTHC: Tại dự thảo Nghị định về sở hữu công nghiệp có tới 38 TTHC; cơ quan thẩm định đã yêu cầu cơ quan soạn thảo bổ sung báo cáo đánh giá tác động chi tiết theo Nghị định số 63/2010/NĐ-CP và Thông tư số 03/2022/TT-BTP, đồng thời rà soát bãi bỏ các giấy tờ trùng lặp như chứng minh nhân dân, giấy phép đăng ký kinh doanh khi đã tích hợp thông tin điện tử.
Khóa luận chỉ ra các hạn chế trong thực tiễn:
- Thời hạn thẩm định bị kéo dài so với mốc quy định 20 ngày do khối lượng văn bản quá lớn và hồ sơ phức tạp;
- Hồ sơ gửi thẩm định còn chậm, nhiều trường hợp gửi thiếu các tài liệu bắt buộc như Bản tổng hợp giải trình tiếp thu ý kiến góp ý hoặc Báo cáo đánh giá tác động xã hội (RIA);
- Báo cáo đánh giá tác động của cơ quan soạn thảo còn mang tính hình thức, định tính, thiếu số liệu định lượng về chi phí tuân thủ;
- Công tác phân công đơn vị chủ trì thẩm định đôi khi chỉ dựa vào chức năng, nhiệm vụ cơ học mà chưa tính toán đầy đủ năng lực chuyên môn chuyên sâu của cán bộ.
Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực dân sự
Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ gồm 3 nhóm:
-
Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động thẩm định dự thảo VBQPPL trong lĩnh vực dân sự:
- Hoàn thiện các quy định của Luật Ban hành VBQPPL và các Nghị định hướng dẫn về cơ chế phối hợp bắt buộc giữa cơ quan chủ trì soạn thảo và cơ quan thẩm định;
- Quy định rõ ràng chế tài đối với việc chậm gửi hồ sơ hoặc gửi hồ sơ không bảo đảm thành phần theo luật định;
- Hoàn thiện quy định về thời hạn thẩm định theo hướng linh hoạt, phân loại thời hạn dựa trên tính chất phức tạp và quy mô điều chỉnh của dự thảo văn bản dân sự;
- Quy định cụ thể trách nhiệm giải trình của cơ quan soạn thảo đối với các nội dung kết luận trong Báo cáo thẩm định trước khi trình cơ quan có thẩm quyền ban hành.
-
Giải pháp tổ chức thực hiện có hiệu quả hoạt động thẩm định dự thảo VBQPPL trong lĩnh vực dân sự:
- Kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ công chức làm công tác thẩm định tại Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế;
- Đổi mới phương thức làm việc của Hội đồng thẩm định và các cuộc họp tư vấn thẩm định; mở rộng sự tham gia phản biện độc lập của các chuyên gia, luật sư, nhà khoa học đầu ngành về pháp luật dân sự;
- Nâng cao tính kỷ luật, tuân thủ nghiêm ngặt quy trình rà soát tính hợp hiến, hợp pháp và kỹ thuật lập quy;
- Đề cao vai trò kiểm soát nội dung của lãnh đạo đơn vị, cá thể hóa trách nhiệm của từng chuyên viên trong việc đánh giá các chính sách điều chỉnh nhạy cảm.
-
Giải pháp khác nhằm nâng cao chất lượng hoạt động thẩm định:
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và số hóa quy trình thẩm định; vận hành hiệu quả việc đăng tải, tiếp nhận và xử lý ý kiến thẩm định qua Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp;
- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành phục vụ tra cứu văn bản quy phạm, điều ước quốc tế và tiền lệ xử lý hồ sơ lập quy;
- Tăng cường điều kiện cơ sở vật chất, bảo đảm nguồn kinh phí thỏa đáng cho hoạt động thẩm định, khảo sát thực tế và chi trả thù lao chuyên gia phản biện.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể gắn liền với số liệu và chứng cứ thực tiễn:
- Phân tích số liệu thẩm định thực tế giai đoạn 2020 – 2022: Thống kê chi tiết kết quả xử lý 741 dự thảo VBQPPL của Bộ Tư pháp, cùng hệ thống dữ liệu thẩm định của tổ chức pháp chế bộ ngành (567 dự thảo năm 2020, 634 dự thảo năm 2021, 536 dự thảo năm 2022) và các cơ quan tư pháp địa phương.
- Cung cấp các phân tích tình huống pháp lý thực chứng từ các văn bản lớn: Đánh giá quá trình thẩm định dự thảo Luật sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022; chỉ ra mâu thuẫn giữa Điều 35 dự thảo Nghị định về sở hữu công nghiệp với Điều 14 Hiến pháp năm 2013; bóc tách tình trạng sao chép điều luật tại dự thảo Nghị định về giống cây trồng vi phạm Luật Ban hành VBQPPL năm 2015; và quy trình kiểm soát 38 TTHC trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.
- Hệ thống hóa các đóng góp khoa học mới do tác giả tự xác định:
- Khóa luận là công trình nghiên cứu chuyên sâu, trực diện về hoạt động thẩm định dự thảo VBQPPL trong lĩnh vực dân sự ở cấp Trung ương giai đoạn sau khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành VBQPPL năm 2020 có hiệu lực;
- Làm rõ các đặc thù của dự thảo văn bản dân sự (tính giao dịch, tính tự do thỏa thuận, tác động quyền tài sản) đòi hỏi tiêu chí thẩm định riêng biệt so với các văn bản quản lý hành chính đơn thuần;
- Đề xuất hệ thống giải pháp 3 nhóm có tính khả thi, gắn trực tiếp với quy trình phân công và nghiệp vụ xử lý hồ sơ tại Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế thuộc Bộ Tư pháp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số hạn chế nhất định xuất phát từ phạm vi nghiên cứu:
- Đề tài chỉ tập trung khảo sát hoạt động thẩm định dự thảo VBQPPL trong lĩnh vực dân sự của các cơ quan có thẩm quyền ở cấp Trung ương (chủ yếu là Bộ Tư pháp), chưa đi sâu phân tích thực tiễn thẩm định văn bản quy phạm lĩnh vực dân sự tại chính quyền địa phương (Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp);
- Dữ liệu khảo sát thực chứng giới hạn trong giai đoạn 3 năm (2020 – 2022);
- Việc tiếp cận một số hồ sơ thẩm định còn phụ thuộc vào các tài liệu lưu trữ công khai và báo cáo tổng kết ngành.
Hướng mở cho các nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang hoạt động thẩm định các văn bản quy phạm của HĐND và UBND cấp tỉnh điều chỉnh quan hệ dân sự, đất đai, nhà ở tại địa phương;
- Nghiên cứu cơ chế hậu kiểm, đánh giá tác động thực tế của các khuyến nghị thẩm định sau khi VBQPPL dân sự được ban hành và đưa vào thi hành;
- Xây dựng mô hình định lượng hóa chi phí tuân thủ TTHC và đánh giá tác động chính sách (RIA) chuyên biệt cho quy trình thẩm định luật dân sự.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Xây dựng văn bản pháp luật, Luật Dân sự, Luật Hành chính - Nhà nước làm tài liệu tham khảo về phương pháp luận và kỹ năng phân tích hồ sơ lập quy;
- Cán bộ, công chức làm công tác pháp chế tại các Bộ, ngành và công chức tư pháp tại địa phương trong việc nắm bắt tiêu chuẩn rà soát tính hợp hiến, hợp pháp và kỹ thuật soạn thảo văn bản;
- Những người thực hiện đề tài nghiên cứu về quy trình lập pháp, kỹ thuật xây dựng văn bản pháp luật và cải cách hành chính.
Phần có giá trị tham khảo cao nhất trong khóa luận là hệ thống các case study phân tích trực tiếp Báo cáo thẩm định của Bộ Tư pháp đối với các dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ, cùng bộ tiêu chí 9 nội dung rà soát hồ sơ theo chuẩn Luật Ban hành VBQPPL.
Câu hỏi thường gặp
Đơn vị nào thuộc Bộ Tư pháp trực tiếp chủ trì thực hiện thẩm định các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực dân sự?
Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế thuộc Bộ Tư pháp là đơn vị chuyên môn được giao nhiệm vụ chủ trì nghiên cứu, chuẩn bị hồ sơ và xây dựng dự thảo Báo cáo thẩm định đối với các dự án, dự thảo VBQPPL thuộc lĩnh vực dân sự để trình Lãnh đạo Bộ Tư pháp xem xét, ký ban hành.
Trong giai đoạn 2020 – 2022, Bộ Tư pháp đã thẩm định tổng cộng bao nhiêu dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trên tất cả các lĩnh vực?
Theo thống kê trong khóa luận, trong giai đoạn 2020 – 2022, Bộ Tư pháp đã tiến hành thẩm định tổng cộng 741 dự thảo VBQPPL trên tất cả các lĩnh vực (năm 2020 thẩm định 258 dự thảo; năm 2021 thẩm định 232 dự thảo; năm 2022 thẩm định 251 dự thảo).
Báo cáo thẩm định số 201/BCTĐ-BTP đối với Dự thảo Nghị định về sở hữu công nghiệp đã chỉ ra điểm mâu thuẫn nào với Hiến pháp năm 2013?
Báo cáo số 201/BCTĐ-BTP phát hiện Điều 35 của dự thảo Nghị định quy định "quyền sở hữu công nghiệp có thể bị hủy bỏ hiệu lực hoặc bị đình chỉ sử dụng nếu nhãn hiệu vi phạm đạo đức xã hội". Quy định này vi phạm khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 (quy định quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật chứ không thể bằng văn bản dưới luật như nghị định), đồng thời các trường hợp hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ đã được quy định cố định tại Điều 96 Luật Sở hữu trí tuệ.
Lỗi kỹ thuật soạn thảo nào được cơ quan thẩm định chỉ ra tại Báo cáo số 198/BCTĐ-BTP đối với Dự thảo Nghị định về giống cây trồng?
Dự thảo Nghị định đã chép lại nguyên văn nhiều nội dung đã được quy định cụ thể trong Luật Sở hữu trí tuệ (tại các Điều 5, Điều 13, Điều 14, Điều 17, Điều 33 của dự thảo tương ứng với các Điều 191, Điều 172, Điều 170, Điều 164, Điều 165 của Luật). Cơ quan thẩm định yêu cầu rà soát, loại bỏ việc lặp lại này vì vi phạm khoản 2 Điều 8 và khoản 1 Điều 11 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015.
Quy trình thẩm định dự thảo VBQPPL trong lĩnh vực dân sự tại Bộ Tư pháp gồm những bước nào?
Quy trình gồm 4 bước chính: Bước 1 - Tiếp nhận và kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ; Bước 2 - Chuẩn bị và tổ chức cuộc họp thẩm định (thành lập Hội đồng thẩm định hoặc tổ chức cuộc họp tư vấn thẩm định); Bước 3 - Xây dựng dự thảo Báo cáo thẩm định trình Lãnh đạo Bộ ký; Bước 4 - Gửi Báo cáo thẩm định chính thức tới cơ quan soạn thảo và đăng tải công khai trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thùy Trang đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và đánh giá thực trạng hoạt động thẩm định dự thảo VBQPPL trong lĩnh vực dân sự giai đoạn 2020 – 2022. Thông qua các số liệu thống kê ngành và hồ sơ thẩm định thực tế tại Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế (Bộ Tư pháp), công trình đã phân tích sâu sắc các thành tựu lập quy cũng như những điểm nghẽn về thời hạn, chất lượng hồ sơ và quy trình phối hợp. Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ và thiết thực, đóng góp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc nâng cao chất lượng ban hành văn bản quy phạm pháp luật dân sự, góp phần hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.