Luận văn thạc sĩ luật học các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt theo bộ luật hình sự năm 1999 trên cơ sở số liệu xét xử ngành tòa án hà nội giai đoạn 2007 2012

Luận văn phân tích các tội xâm phạm sở hữu không chiếm đoạt theo Bộ luật Hình sự 1999, dựa trên số liệu xét xử tại Hà Nội giai đoạn 2007-2012.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ luật học

2014

114
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm đặc điểm và ý nghĩa của việc quy định các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt trong luật hình sự Việt Nam

Các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt là những hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản mà không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản đó. Theo Bộ luật Hình sự 1999, các tội này được quy định nhằm bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân và tổ chức. Khái niệm này phản ánh sự cần thiết phải bảo vệ các quyền lợi hợp pháp trong xã hội, đồng thời ngăn chặn các hành vi gây thiệt hại cho tài sản của người khác. Đặc điểm của các tội này là chúng không chỉ xâm phạm quyền chiếm hữu mà còn có thể xâm phạm quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản. Hành vi xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt thường ít nghiêm trọng hơn so với các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt, nhưng vẫn gây ra những hậu quả tiêu cực cho trật tự xã hội. Ý nghĩa của việc quy định các tội này trong Bộ luật Hình sự là nhằm tạo ra một khung pháp lý rõ ràng, giúp các cơ quan chức năng có căn cứ để xử lý các hành vi vi phạm, đồng thời nâng cao nhận thức của cộng đồng về quyền sở hữu.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt

Khái niệm về các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt được hiểu là những hành vi gây thiệt hại cho quyền sở hữu tài sản mà không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản đó. Đặc điểm của các tội này là chúng thường không gây ra thiệt hại lớn về tài sản, nhưng lại ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu. Hành vi xâm phạm có thể bao gồm việc sử dụng tài sản trái phép, chiếm giữ tài sản mà không có sự đồng ý của chủ sở hữu. Theo Bộ luật Hình sự 1999, các tội này được quy định rõ ràng để bảo vệ quyền lợi của cá nhân và tổ chức, đồng thời tạo ra một môi trường pháp lý an toàn cho các giao dịch và hoạt động kinh doanh. Việc xác định rõ ràng các hành vi xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt giúp các cơ quan chức năng có cơ sở để xử lý và ngăn chặn các hành vi vi phạm, từ đó bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân.

II. Thực tiễn áp dụng các quy định về các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt theo Bộ luật Hình sự năm 1999 trên địa bàn thành phố Hà Nội

Thực tiễn áp dụng các quy định về các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt tại Hà Nội cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Trong giai đoạn 2007-2012, số lượng vụ án liên quan đến các tội này có xu hướng gia tăng, mặc dù vẫn thấp hơn so với các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt. Các vụ án thường liên quan đến hành vi sử dụng tài sản trái phép hoặc chiếm giữ tài sản mà không có sự đồng ý của chủ sở hữu. Tuy nhiên, việc xác định tội danh và xử lý các vụ án này gặp nhiều khó khăn do thiếu hướng dẫn cụ thể từ các cơ quan chức năng. Điều này dẫn đến tình trạng xử lý không đồng nhất và có thể gây ra sự bất công trong việc bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan. Do đó, cần có sự cải thiện trong việc áp dụng pháp luật, bao gồm việc tăng cường đào tạo cho các cán bộ tư pháp và nâng cao nhận thức của cộng đồng về quyền sở hữu.

2.1. Những tồn tại vướng mắc trong thực tiễn áp dụng

Trong thực tiễn áp dụng các quy định về các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt, nhiều tồn tại và vướng mắc đã được ghi nhận. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự thiếu hụt trong việc hướng dẫn áp dụng pháp luật, dẫn đến việc các cơ quan chức năng gặp khó khăn trong việc xác định tội danh và xử lý các vụ án. Nhiều vụ án bị xử lý không đúng cách, gây ra sự bất công cho các bên liên quan. Hơn nữa, nhận thức của cộng đồng về quyền sở hữu và các tội xâm phạm sở hữu còn hạn chế, dẫn đến việc nhiều hành vi vi phạm không được báo cáo hoặc xử lý kịp thời. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của cá nhân mà còn làm giảm hiệu quả của hệ thống pháp luật trong việc bảo vệ quyền sở hữu.

III. Các giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt

Để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt, cần thực hiện một số giải pháp quan trọng. Trước hết, cần hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự 1999 để đảm bảo tính rõ ràng và cụ thể trong việc xác định các hành vi xâm phạm. Thứ hai, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho cộng đồng về quyền sở hữu và các tội xâm phạm sở hữu. Việc nâng cao nhận thức của người dân sẽ giúp họ bảo vệ quyền lợi của mình tốt hơn và báo cáo kịp thời các hành vi vi phạm. Cuối cùng, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng trong việc xử lý các vụ án, từ đó đảm bảo tính công bằng và khách quan trong việc áp dụng pháp luật.

3.1. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999

Việc hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 là cần thiết để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đối với các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt. Cần xem xét bổ sung các quy định cụ thể về các hành vi xâm phạm sở hữu, đồng thời làm rõ các dấu hiệu pháp lý của tội phạm. Điều này sẽ giúp các cơ quan chức năng có căn cứ vững chắc hơn trong việc xử lý các vụ án. Hơn nữa, cần có các hướng dẫn cụ thể từ các cơ quan chức năng để đảm bảo việc áp dụng pháp luật được đồng nhất và công bằng. Việc này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của cá nhân mà còn nâng cao hiệu quả của hệ thống pháp luật trong việc ngăn chặn các hành vi vi phạm.

09/02/2025
Luận văn thạc sĩ luật học các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt theo bộ luật hình sự năm 1999 trên cơ sở số liệu xét xử ngành tòa án hà nội giai đoạn 2007 2012

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU KHÔNG CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU KHÔNG CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm và đặc điểm của các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt Ở bất kỳ xã hội nào cũng tồn tại những cách thức nhất định để chiếm giữ, làm chủ của cải vật chất và trong quá trình thực hiện những cách thức đó xuất hiện quan hệ giữa ngƣời với ngƣời đối với những của cải vật chất đó. Mối quan hệ đó là quan hệ sở hữu.

Quan hệ sở hữu là quan hệ xã hội xuất hiện, tồn tại và phát triển nhƣ một tất yếu khách quan trong đời sống xã hội loại ngƣời, là hình thức xã hội của sự chiếm hữu của cải vật chất. Nó đƣợc luật hoá hành quyền sở hữu. Theo Điều 164 Bộ Luật dân sự năm 2005 thì “quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật” [27, tr. Đây là ba quyền năng cơ bản hợp thành quyền sở hữu.

Quyền chiếm hữu tài sản là quyền của chủ tài sản tự mình nắm giữ, quản lý tài sản thuộc sở hữu của mình. Thông thƣờng quyền chiếm hữu đƣợc thực hiện bởi chủ sở hữu tài sản. Nhƣng ngƣời ngƣời không phải là chủ sở hữu tài sản cũng có quyền chiếm hữu tài sản trong trƣờng hợp đƣợc chủ sở hữu chuyển giao hoặc do pháp luật quy định đƣợc nắm giữ, quản lý tài sản (Điều 182 BLDS). 7 Quyền sử dụng tài sản là quyền của chủ sở hữu khai thác công dụng, hƣởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản, trong đó hoa lợi là sản vật do tự nhiên mang lại và lợi tức là các khoản thu lời đƣợc từ việc khai thác tài sản.

Ngƣời không phải là chủ sở hữu tài sản cũng có quyền sử dụng tài sản trong trƣờng hợp đƣợc chủ sở hữu giao quyền sử dụng tài sản thông qua hợp đồng hay do pháp luật quy định (Điều 192 BLDS). Quyền định đoạt tài sản là quyền của chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu của mình cho ngƣời khác hoặc chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu tài sản của mình thông qua các hình thức chuyển giao quyền sở hữu nhƣ bán, chuyển nhƣợng, tặng cho, để thừa kế… Trong quá trình thực hiện các quyền nêu trên, chủ sở hữu có thể trực tiếp hoặc ủy quyền cho ngƣời khác thay mình thực hiện các quyền chiếm hữu, sử dụng và quyền định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình theo ý chí của chủ sở hữu nhƣng không đƣợc gây thiệt hại hoặc làm ảnh hƣởng đến lợi ích của nhà nƣớc, lợi ích công cộng và quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời khác. Quyền sở hữu tài sản đƣợc ghi nhận trong Hiến pháp, đƣợc pháp luật tôn trọng và bảo vệ thông qua các quy định pháp luật trên các lĩnh vực nhƣ dân sự, hình sự, kinh doanh thƣơng mại. Trong pháp luật hình sự, quyền sở hữu tài sản đƣợc bảo hộ thông qua các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam tại chƣơng “Các tội phạm xâm phạm sở hữu”.

Và quyền sở hữu ở đây là quyền sở hữu về tài sản mà không phải quyền sở hữu công nghiệp hay sở hữu trí tuệ. Vì vậy mọi hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu là những hành vi xâm phạm các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của chủ sở hữu. Tuy nhiên, hành vi phạm tội về sở hữu có thể xâm phạm cả ba quyền năng thuộc quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu nhƣ tội cƣớp tài sản, trộm cắp tài sản… nhƣng cũng có tội phạm chỉ xâm hại một trong các quyền năng 8 thuộc quyền sở hữu nhƣ tội chiếm giữ trái phép tài sản, tội sử dụng trái phép tài sản… Đối với một số tội, tuy có hành vi xâm phạm quyền sở hữu nhƣng không phải là tội xâm phạm sở hữu và không đƣợc các nhà làm luật quy định ở chƣơng “Các tội xâm phạm sở hữu”. Điều này xuất phát từ bản chất của hành vi phạm tội là ngoài việc xâm phạm quan hệ sở hữu, hành vi này còn đồng thời xâm phạm quan hệ xã hội khác và sự xâm phạm này mới thể hiện đƣợc đầy đủ nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, thì trong trƣờng hợp đó khách thể của tội phạm không phải là quan hệ sở hữu.

Ví dụ nhƣ hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức qua đó xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cơ quan, tổ chức đó. Nhƣ vậy, hành vi nhƣ thế nào bị coi là tội phạm xâm phạm sở hữu? Hiện có rất nhiều quan điểm xung quanh vấn đề này nhƣ: Theo PGS. Nguyễn Văn Huyên: Các tội xâm phạm sở hữu là hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc quy định tại Chƣơng XIV Bộ luật hình sự, do ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm chế độ sở hữu tài sản của Nhà nƣớc, cơ quan, tổ chức và cá nhân. Theo Thạc sỹ Đinh Văn Quế: Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc quy định trong Bộ luật hình sự, do ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến quan hệ sở hữu của cơ quan, tổ chức và của công dân.

Nguyễn Ngọc Hòa: Các tội xâm phạm sở hữu là hành vi có lỗi, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu và sự gây thiệt hại này thể hiện đầy đủ bản nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Theo Thông tƣ 02/2001/TTLN ngày 25/12/2001 của liên ngành TANDTC- VKSNDTC - BTP - BCA hƣớng dẫn áp dụng các tội xâm phạm sở hữu: Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi xâm phạm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt về tài sản của ngƣời khác. 9 Theo quan điểm của tác giả, khái niệm tội phạm nói chung hay khái niệm về các tội xâm phạm sở hữu nói riêng phải có tính tổng quát, phản ánh đƣợc bản chất pháp lý và bản chất xã hội của tội phạm, từ đó phân biệt các tội này với tội phạm khác. Nhìn chung, định nghĩa về khái niệm các tội xâm phạm sở hữu nêu trên đã đề cập tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng nhƣ khách thể của tội phạm là quyền sở hữu tài sản – mặt khách quan, tính trái pháp luật hình sự - mặt pháp lý và mặt chủ quan, đó là tội phạm xâm phạm sở hữu do ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý.

Tuy nhiên các khái niệm nêu trên chƣa đề cập đến một dấu hiệu quan trọng của tội phạm nói chung và tội phạm xâm phạm sở hữu nói riêng, đó là “đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự” của ngƣời thực hiện tội phạm. Đặc điểm này là một trong ba đặc điểm thuộc mặt chủ quan của tội phạm, có ý nghĩa trong việc xác định một hành vi xâm phạm quyền sở hữu có phải là tội phạm hay không. Đặc điểm “tuổi chịu trách nhiệm hình sự” có mối quan hệ chặt chẽ với năng lực trách nhiệm hình sự và lỗi. Bởi lẽ, một ngƣời đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì thông thƣờng sẽ có năng lực trách nhiệm hình sự (trừ trƣờng hợp bị bệnh tâm thần hoặc bệnh lý khác làm mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi), nghĩa là ngƣời đó có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi theo quy định của pháp luật hình sự, và khi ngƣời đó thực hiện tội phạm thì mới có lỗi.

Nếu tại thời điểm chủ thể của hành vi thực hiện hành vi ngây thiệt hại về tài sản cho ngƣời khác mà ngƣời đó chƣa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự hoặc không có năng lực trách nhiệm hình sự thì chủ thể của hành vi không có lỗi, vì thế không phải là tội phạm. Vì vậy không thể thiếu đặc điểm này trong khái niệm tội phạm nói chung cũng nhƣ trong khái niệm các tội xâm phạm sở hữu nói riêng. 10 Từ những phân tích nêu trên, có thể đƣa ra khái niệm về các tội xâm phạm sở hữu nhƣ sau: Các tội xâm phạm sở hữu là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội đƣợc quy định trong Bộ luật hình sự, do ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nƣớc, cơ quan, tổ chức và của công dân. Căn cứ vào tính chất của hành vi khách quan xâm hại đến các quyền năng trong quyền sở hữu đối với tài sản, các tội xâm phạm sở hữu đƣợc chia làm 2 nhóm: + Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt đƣợc quy định từ Điều 133 đến Điều 140.

+ Các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt đƣợc quy định từ Điều 141 đến Điều 145. Theo đó, các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt là những tội xâm phạm sở hữu bằng việc chiếm đoạt và trong cấu thành tội phạm của những tội này có dấu hiệu chiếm đoạt. Trong đó, “chiếm đoạt là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lí của chủ tài sản thành tài sản của mình” [48, tr. Khái niệm này đã thể hiện đƣợc bản chất của khái niệm chiếm đoạt nhƣng đã đồng nhất dấu hiệu chiếm đoạt với hành vi chiếm đoạt.

Có quan điểm khác lại cho rằng, chiếm đoạt là việc cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang đƣợc sự quản lí của chủ sở hữu thành tài sản của mình. Chúng đƣợc biểu hiện dƣới dạng hành vi hoặc mục đích phạm tội. Xung quanh khái niệm các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt và hành vi chiếm đoạt còn rất nhiều tranh cãi. Nhƣng cho đến nay, chƣa có một học giả nào đƣa ra khái niệm về các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu tội xâm phạm sở hữu không chiếm đoạt theo Bộ luật Hình sự 1999 tại Hà Nội (2007-2012)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các hành vi xâm phạm quyền sở hữu mà không có ý định chiếm đoạt tài sản, một vấn đề pháp lý quan trọng trong bối cảnh xã hội hiện đại. Tác giả phân tích các trường hợp cụ thể, quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng tại Hà Nội trong giai đoạn 2007-2012, từ đó rút ra những bài học và khuyến nghị nhằm cải thiện công tác phòng ngừa và xử lý tội phạm. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về khái niệm và các hình thức xâm phạm sở hữu, mà còn mở ra hướng nghiên cứu cho những ai quan tâm đến lĩnh vực pháp luật hình sự.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm bài viết Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại, nơi bàn về trách nhiệm pháp lý trong hợp đồng thương mại. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ luật học tội cố ý thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong bộ luật hình sự năm 2015 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các tội phạm liên quan đến sức khỏe con người. Cuối cùng, bài viết Luận văn thạc sĩ luật học định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội gây rối trận tự công cộng trên cơ sở thực tiễn áp dụng tại thành phố hà nội sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về các tội phạm gây rối trật tự công cộng, một vấn đề cũng rất đáng quan tâm trong lĩnh vực pháp luật. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các khía cạnh khác nhau của pháp luật hình sự.