Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Chương 2: Áp dụng pháp luật về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tại quận Long Biên, thành phố Hà Nội. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. 7 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƢƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƢỜI KHÁC 1.
Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội cố ý gây thƣơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngƣời khác 1. Khái niệm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Cả BLHS 1985, BLHS 1999 và BLHS 2015 mới đây của nước ta đều không đưa ra định nghĩa về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tuy nhiên trong khoa học pháp lý hình sự đã có nhiều quan điểm định nghĩa về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Chẳng hạn có quan điểm cho rằng: “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi cố ý gây tổn hại cho sức khỏe của người khác dưới dạng thương tích hoặc tổn thương khác”[1; Tr. Có thể thấy, định nghĩa này mới chỉ nhấn mạnh đến hành vi và hậu quả (thuộc mặt khách quan của tội phạm) mà chưa đề cập đến các yếu tố khác trong CTTP.
Quan điểm khác thì cho rằng: “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi của một người cố ý làm cho người khác bị thương hoặc tổn hại đến sức khỏe”[5; Tr.123] So với định nghĩa trên thì định nghĩa này đã có đề cập đến yếu tố chủ thể nhưng vẫn chưa đề cập toàn diện. Như vậy có thể thấy, các định nghĩa trên vẫn còn những điểm chưa phù hợp, vì đã không đề cập đến các dấu hiệu năng lực TNHS, độ tuổi chịu TNHS, cũng như tính trái pháp luật của hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Tác giả cho rằng sẽ hợp lý nếu việc xây dựng định nghĩa về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại có cân nhắc đến khái niệm tội phạm đã được nhà làm luật nước ta ghi nhận tại khoản 1 Điều 8 BLHS 1999: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn 8 lãnh thổ Tổ quốc, xâm phậm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa” Trên cơ sở phân tích, đánh giá các định nghĩa khác nhau về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và khái niệm về tội phạm có thể đưa ra định nghĩa về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau: “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi của người đạt độ tuổi luật định có năng lực TNHS đã cố ý thực hiện hành vi gây ra thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật xâm phạm quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe của con người được quy định tại Điều 104 BLHS 1999” Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thực chất là hai tội được quy định trong cùng một điều luật, tuy nhiên do hành vi và hậu quả của chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau cho nên hai loại tội này được các nhà làm luật xếp vào cùng một điều luật – đó là tội cố ý gây thương tích cho người khác và tội cố ý gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Như vậy, có thể hiểu “ tội cố ý gây thương tích” có dấu hiệu bắt buộc là phải có hậu quả thương tích, là vết thương để lại trên cơ thể con người; tội cố ý gây tổn hại cho sức khỏe của người khác phải có hậu quả xảy ra làm tổn hại các chức năng, bộ phận trên cơ thể của con người ( ví dụ: làm rối loạn hệ tuần hoàn, rối loạn tiêu hóa…)[1, Tr.
Các dấu hiệu pháp lý của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Việc nghiên cứu các dấu hiệu pháp lý của tội phạm cụ thể đóng vai trò quan trọng, giúp chúng ta phân biệt giữa tội phạm này với tội phạm khác để từ đó có cơ sở pháp lý vững chắc trong việc định tội danh cũng như quyết định hình phạt một cách chính xác đối với một tội phạm cụ thể. 9 Cũng như bất kì một tội phạm nào, dấu hiệu pháp lý của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được thể hiện qua 4 yếu tố cấu thành tội phạm, đó là khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan và chủ thể của tội phạm. Khách thể của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Trong khoa học pháp lý cũng như trong thực tiễn các ý kiến đều thống nhất khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ song đã bị hành vi phạm tội hại hoặc đe dọa gây thiệt hại ở một mức nhất định. Trong tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì khách thể của tội này là quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khỏe của con người.
Đây là một trong những quyền cơ bản của con người đã được hiến định, Khoản 1 Điều 20 Hiến pháp 2013 quy định “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm”. Khách thể cụ thể, trực tiếp của từng hành vi phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác chính là quyền được bảo vệ sức khỏe của từng con người cụ thể (từng người bị hại) đã bị hành vi phạm tội xâm phạm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe. Hành vi phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác đã xâm phạm đến quyền được bảo vệ sức khỏe của con người thông qua sự tác động làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động. Theo quy định của Điều 104 BLHS 1999 nếu đối tượng tác động là sức khỏe của trẻ em, người già, phụ nữ có thai, người không có khả năng tự vệ thì TNHS đối với người phạm tội sẽ nặng hơn.
Việc xác định đúng đối tượng tác động của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là vô cùng quan trọng. Bởi lẽ nếu hành vi tác động vào đối tượng không phải con người, không phải người còn sống thì không xâm phạm quyền được bảo vệ về sức khỏe nên sẽ không phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; hoặc có trường hợp, một cá nhân nào nó tự gây ra thương tích cho chính mình vì một lý do nào đó thì không thuộc đối tượng điều chỉnh của Điều 104 BLHS 1999. Mặt khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan mà con người bằng trực quan sinh động có thể nhận biết. Đó là các dấu hiệu: hành vi nguy hiểm cho xã hội; hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả nguy hiểm cho xã hội; phương tiện, công cụ, thời gian, hoàn cảnh, địa điểm phạm tội.27,28] Trong mặt khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, hành vi khách quan là dấu hiệu cơ bản và quan trọng nhất.
Các dấu hiệu khác thuộc mặt khách quan như: hậu quả, mối quan hệ nhân quả công cụ phương tiện phạm tội…chỉ có ý nghĩa khi có hành vi khách quan. Hay nói cách khác, không thể truy cứu TNHS đối với người không thực hiện hành vi khách quan. Hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là những biểu hiện của con người ra bên ngoài thế giới khách quan dưới hình thức cụ thể, có sự kiểm soát của lý trí và điều khiển bởi ý chí. Những hành vi tuy được biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan nhưng không được ý thức kiểm soát hoặc tuy được ý thức kiểm soát nhưng không được ý chí điều khiển thì cũng không phải là hành vi khách quan của tội phạm.
Hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có thể được thực hiện dưới hình thức hành động hoặc không hành động. Hành động phạm tội là hình thức của hành vi khách quan làm biến đổi tình trạng bình thường đối tượng tác động của tội phạm, xâm phạm làm một việc mà pháp luật cấm. Không hành động phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hình thức của hành vi khách quan làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm, xâm phạm quyền được bảo vệ về sức khỏe của con người, qua việc chủ thể tội phạm không làm một việc mà pháp luật yêu cầu phải làm, mặc dù có đủ điều kiện để làm.29, 30] 11 Hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là những biểu hiện của con người ra thể giới khách quan có sự kiểm soát của ý thức và điều khiển của ý chí. Đây là điều kiện cần.
Điều kiện đủ là hành vi đó phải có khả năng gây ra thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe người khác một cách trái pháp luật.