CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE TOI GAY ROI TRẬT TỰ CÔNG CONG 1. MO6t số van đề chung về tội gây rối trật tự công cộng 1. Khái niệm, đặc điểm của tội gây rỗi trật tự công cộng 1. Khái niệm Trật tự công cộng trong tiếng Anh là “public order” và được mô tả với ý nghĩa “của hoặc liên quan đến toàn thé người dân” (of or concerning the people as a whole) cho tính từ “Public” và ý nghĩa của danh từ “order” dé bao gồm “điều kiện của một xã hội tuân thủ luật pháp” (condition of a law- abiding society) [54].
Điều này có nhiều nét tương đồng với từ điển Tiếng Việt, theo đó: “trật tự” được hiểu: “Sự sắp xếp theo một trình tự, một quy tắc nhất định” hay “Trạng thái 6n định, có tô chức, có kỷ luật ở nơi công cộng” [40, tr.1031], còn “công cộng” được hiểu là “thuộc về mọi người hoặc phục vụ chung cho xã hội” [40, tr. Do vậy, “trật tự công cộng” có thể hiểu là trạng thái ổn định với những chuẩn tắc nhất định trong xã hội hướng tới những lợi ích chung của cộng đồng. Ở góc độ pháp luật, trật tự công cộng là một thuật ngữ pháp lý được xuất hiện khá sớm trong Giáo luật (Canon law) vào khoảng thế kỷ XIX với nội dung dé cập đến sự én định tồn tại trong một xã hội khi các những quy định pháp luật quan trọng nhất được tuân theo và được đảm bảo. Ban đầu, thuật ngữ này được Giáo luật sử dụng để chỉ thước đo sự tuân theo các quy định của địa phương nhưng sau đó dần được mở rộng với các nội ham rộng hơn với nội hàm như: “Trật tu công cộng có nghĩa là trạng thai bình thường và an ninh can thiết trong một xã hội và can được nhà nước theo đuổi để thực hiện các quyên hiến định và do đó mang lại lợi ích cho sự phát triển hài hòa của xã hội” [52].
Hay “Trật tự công cộng là tình trạng được đặc trưng bởi 11 không có bạo lực chính trị và hình sự lan rộng, chẳng hạn như bắt cóc, giết người, bạo loạn, đốt phá và đe dọa đối với các nhóm hoặc cá nhân được nhắm mục tiêu” [51]. Nói cách khác, “Trật tự công cộng” có nghĩa là tình trạng tồn tại khi mọi người tuân theo pháp luật, quy tắc hoặc thâm quyền của Nhà nước; và chỉ có thé bị ảnh hưởng bởi những hành vi vi phạm ảnh hưởng đến cộng đồng hoặc công chúng nói chung. Ở Việt Nam quan điểm của các học giả cũng có nhiều nét tương đồng với các nội dung nêu trên, cụ thé theo Từ điển Luật học thì trật tự công cộng được hiểu là: Trạng thái 6n định, có tổ chức, có kỷ luật ở nơi công cộng. Những nơi phục vụ lợi ích công cộng như đường phố, quảng trường, công viên, bệnh viện, nhà hát, rạp chiếu bóng, bãi biển, khu nghỉ mát.
được tổ chức sắp xếp ngăn nắp, các quy ước chung được mọi người tôn trọng, thực hiện nghiêm chỉnh. Quy tắc bắt buộc phải tuân theo dé bảo vệ lợi ích chung của xã hội, thé hiện toàn bộ yêu cầu cơ bản của xã hội về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Như vậy, trật tự công cộng có nghĩa rộng hơn hoạt động duy trì luật pháp và trật tự, trạng thái cần đạt tới ở đây phải là sự ôn định và tính bình thường và an ninh của cộng đồng trong các khu vực dân cư. Điều này đảm bảo cho mọi công dân cơ sở xã hội lành mạnh phát triển kinh tế - xã hội và là cơ sở quan trọng xây dựng một xã hội lành mạnh, một nhà nước “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Đây là một nhiệm vụ quan trọng cần có sự chung tay góp sức của toàn thé nhân dân cùng với nhà nước trên mọi khía cạnh đời sống - đặc biệt là lĩnh vực pháp luật. Xuất phát từ điều nay, hành vi gây rối trật tự công cộng bao giờ cũng gây ra những thiệt hại dang kế cho cuộc sông thường nhật của mỗi người đân - nhất là người dân thuộc địa bàn có hành vi này xuât hiện; vì vậy, trên cơ sở tình chât mức độ nghiêm 12 trọng cần có những biện pháp xử lý phù hợp từ chế tài hành chính đến xử lý hình sự đối với hành vi này. Mặt khác trên cơ sở nhận thức cơ bản tội phạm với nội dung: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cô ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyên, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tô chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa” [37]. Có thé thấy, tội gây rối trật tự công cộng về ban chat cũng là hành vi nguy hiểm cho xã hội và thoả mãn những yêu cầu về cau thành tội phạm nói chung.
Tuy nhiên, các học giả và nhà nghiên cứu khoa học luật hình sự Việt Nam còn có nhiều ý kiến khác nhau, chưa đồng nhất về mặt quan điểm. Theo đó: Tác giả Dinh Van Qué cho rang: “Gây tối trật tự công cộng là hành vi làm náo loạn trật tự nơi công cộng” [31, tr. Quan điểm này được tác giả đề cập trong bối cảnh trước khi BLHS năm 2015 được ban hành và có hiệu lực; tuy nhiên, khái niệm này mới chỉ nêu bản chất hành vi mà chưa làm rõ các khía cạnh khác nhau như khách thé, yếu tố lỗi, chủ thể,. phù hợp với khái niệm chung về tội phạm quy định trong BLHS.
Trong khi đó khái niệm gây rối trật tự công cộng với nội dung là “những hành vi làm phá vỡ sự ổn định của trật tự công cộng, vi phạm pháp luật, van hóa, chuẩn mực xã hội, phong tục tập quan đảm bao trật tự công cộng làm cản trở hoạt động bình thường, tuân tự của mọi người tại không gian công cong” [8, tr.25] lại nồi bật trong việc sử dụng khách thể của tội phạm như một nội hàm trong quá trình xây dựng khái niệm. Tuy nhiên, các nội dung như hành vi phạm tội và dấu hiệu chủ thể của hành vi nguy hiểm cho xã hội này vẫn chưa được đề cập. 13 Mặt khác, cũng có quan điểm dựa trên căn cứ là các quy định của BLHS năm 2015 (Điều 318) để định nghĩa với với nội dung chủ yếu làm rõ những dau hiệu khách quan của tội phạm, theo gây rỗi trật tự công cộng được hiểu là “hành vi phá vỡ tình trạng ổn định, có tổ chức, có kỉ luật ở nơi diễn ra hoạt động chung của đông đảo người như trên đường phố, trong công viên, trong nhà hát, trong nhà ga hàng không hay đường sắt v. như chửi bới, la hét, xô day nguoi khac, mo thiét bi Gm thanh qua cỡ v.
Nội dung này có nhiều điểm tương đồng với quan điểm của các học giả nước ngoài Jeffrey Ian Ross khi cho rang gây rối trật tự công cộng là “ôi phạm bao gôm các hành vi gây trở ngại, cản trở sự vận hành của xã hội và khả năng hoạt động cộng đông của con người”, tức là, đó là hành vi được coi là tội phạm vì nó trái với các chuẩn mực chung, giá trị xã hội và thuần phong mỹ tục [53]. Tuy nhiên, khái niệm của GS.TS Nguyễn Ngọc Hoa được xây dựng cụ thé hơn trong khi khái niệm của Jeffrey lại mang tính khái quát. Như vậy việc xây dựng khái niệm tội gây rối trật tự công cộng rõ rang có rất nhiều hướng tiếp cận và phương pháp khác nhau, tuy nhiên khắc phục những hạn chế của những khái niệm trên, tác giả đưa ra quan điểm trên cơ sở làm rõ dấu hiệu cơ bản (các nội dung chủ thể, khách thể, mặt chủ quan, mặt khách quan) của tội phạm này. Theo đó: Tội gây rồi trật tự công cộng là hành vi nguy hiểm cho xã hội gây trở ngại, cản trở sự vận hành của xã hội và khả năng hoạt động cộng đồng và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội như chửi bởi, la hét, làm náo động, pha phách, hành hung người khác hoặc có hành vi khác làm rồi loạn các hoạt động ở những nơi công cộng do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện và đáng phải chịu hình phạt.
Đặc điểm Tội gây rối trật tự công cộng, còn được gọi là tội phạm xâm phạm an toàn công cộng, là hành vi vi phạm gây trở ngại cho hoạt động bình thường của xã hội. Những hành vi này di ngược lại các lĩnh vực giá tri, chuẩn mực hoặc phong tục, vốn được thừa nhận rộng rãi bởi toan thể cộng đồng. Qua việc phân tích khái niệm nêu trên có thể thấy những đặc điểm cơ bản của tội gây tối trật tự công cộng như: Thứ nhất, tội gây tôi trật tự công cộng là hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm an toàn công cộng, trạng thái bình én có tổ chức, kỉ luật của xã hội; vi phạm các quy định của Nhà nước về an ninh công cộng và trật tự, an toàn công cộng; gây gián đoạn hoạt động, tác động tiêu cực đến tải sản của Nhà nước, của t6 chức và công dân; gây hậu quả nhất định về tinh mang, sức khỏe, tài sản của người dân. Thứ hai, tội gây rối trật tự công cộng là hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện bởi cá nhân có đủ năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS theo quy định pháp luật.
Mặt khác, ngoài những dấu hiệu này chủ thê của tội gây rỗi trật tự công cộng còn có thể có một số đặc điểm về nhân thân như đã bị xử phat vi phạm hành chính hoặc bi kết án mà chưa được xoá án tích về hành vi gây rối trật tự công cộng. Thứ ba, tội gây rỗi trật tự công cộng có thé được thực hiện một cách cố ý bởi cá nhân có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS, tuy nhiên cần xác định hành vi này không có động cơ chống chính quyền nhân dân. Thứ tư, tội gây rối trật tự công cộng thường kéo theo các tội phạm khác như cố ý gây thương tích, hủy hoại tài sản, chống người thi hành công vụ. Thứ năm, tội gây tối trật tự công cộng không yêu cầu xác định danh tính nạn nhân.