Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu" do nghiên cứu sinh Nguyễn Ngọc Chí thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Khoa học Đào Trí Úc, tại Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia (năm 2000), chuyên ngành Luật hình sự - Tố tụng hình sự (mã số 5.05.14).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong cấu trúc xã hội có giai cấp, quyền sở hữu luôn giữ vị trí trung tâm trong đời sống kinh tế - xã hội và được nhà nước bảo vệ bằng nhiều công cụ pháp lý, trong đó luật hình sự giữ vai trò trọng yếu thông qua việc quy định tội phạm và hình phạt. Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1985 qua 4 lần sửa đổi, bổ sung đã thiết lập khuôn khổ pháp lý xử lý các hành vi xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa (XHCN) và sở hữu của công dân. Tuy nhiên, sau hơn 10 năm thi hành, thực tiễn áp dụng đã bộc lộ nhiều điểm bất cập:

  • Việc phân định ranh giới giữa tội phạm và vi phạm pháp luật khác, cũng như giữa các tội danh xâm phạm sở hữu với nhau còn nhiều vướng mắc.
  • Chế tài quy định chưa thực sự tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; đồng thời tồn tại sự bất bình đẳng trong việc bảo vệ sở hữu XHCN so với các hình thức sở hữu khác.
  • Quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng XHCN đòi hỏi sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, trong khi BLHS 1985 còn mang nặng dấu ấn thời kỳ cũ.
  • Tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu diễn biến phức tạp, gia tăng về quy mô và tính chất thiệt hại; công tác phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử còn chậm trễ, tỷ lệ tội phạm ẩn ở mức cao.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật đối với các tội xâm phạm sở hữu, góp phần hoàn thiện các quy định của BLHS, đồng thời đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hình phạt và các biện pháp tác động của trách nhiệm hình sự (TNHS).

Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Đánh giá khái quát tình hình các tội xâm phạm sở hữu trong giai đoạn 10 năm (từ năm 1989 đến năm 1998), qua đó xác định sự tác động của TNHS trên thực tế và tạo cơ sở thực chứng đánh giá hiệu quả chính sách hình sự của Nhà nước.
  2. Tìm hiểu chính sách hình sự của Nhà nước qua các thời kỳ, đặc biệt là giai đoạn đổi mới, nhằm làm rõ vai trò của pháp luật hình sự trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và bảo vệ tài sản XHCN cũng như tài sản công dân.
  3. Giải quyết nội dung khoa học về cơ sở TNHS, xác định các giới hạn chủ quan và khách quan, làm rõ đặc điểm cấu thành tội phạm của các tội xâm phạm sở hữu để nhận xét, đánh giá các quy định trong BLHS 1985.
  4. Phân tích nội dung các hình thức TNHS, đánh giá thực tiễn áp dụng hình phạt và các biện pháp tác động khác của TNHS đối với các tội xâm phạm sở hữu, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hình phạt.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu, bao gồm tình hình tội phạm, cơ sở TNHS, các hình thức tác động của TNHS và thực tiễn áp dụng pháp luật.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát trên địa bàn toàn quốc Việt Nam và tập trung phân tích sâu tại các địa bàn trọng điểm như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Nam Định, Hậu Giang, cùng các tuyến giao thông và vùng biên giới trọng yếu (Lạng Sơn, Móng Cái, Châu Đốc, Tây Ninh, An Giang).
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu thực chứng về tình hình tội phạm được thu thập và phân tích liên tục trong 10 năm (1989 - 1998); dữ liệu về giá trị tài sản thiệt hại và thu hồi được khảo sát chi tiết trong giai đoạn 1990 - 1994.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Luận án đã điểm lại có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài:

  • Giai đoạn trước khi ban hành BLHS 1985:

    • Cuốn sách "Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm tài sản XHCN, tài sản riêng của công dân" của tác giả Vũ Thiện Kim (Phòng xuất bản Tòa án nhân dân Tối cao, 1980), tập trung bình luận hai Pháp lệnh ngày 21/10/1970 (Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm sở hữu tài sản XHCN và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm sở hữu riêng công dân) nhằm phục vụ công tác xét xử thực tiễn.
    • Luận án phó tiến sĩ luật học của tác giả Trịnh Hồng Dương (đầu năm 1980), nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật về các tội xâm phạm sở hữu ở Việt Nam.
    • Các bài viết bình luận thực tiễn xét xử, trao đổi về định tội danh và quyết định hình phạt trên Tập san Tòa án (nay là Tạp chí Tòa án nhân dân) và Tạp chí Luật học (nay là Tạp chí Nhà nước và Pháp luật).
  • Giai đoạn sau khi ban hành BLHS 1985:

    • Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) của Trường Đại học Luật Hà Nội (1992) và Khoa Luật - Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1993), trình bày các yếu tố cấu thành tội phạm, hình phạt và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS.
    • Cuốn "Bình luận Khoa học Bộ luật hình sự" của Viện Khoa học pháp lý (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1987), dành 2 chương bình luận các tội xâm phạm sở hữu XHCN và sở hữu của công dân.
    • Chuyên khảo "Các tội xâm phạm sở hữu" của tác giả Nguyễn Ngọc Hòa (Trường Đại học Luật Hà Nội, 1991), làm rõ khái niệm hành vi chiếm đoạt, tiêu chí phân biệt với các hành vi xâm phạm sở hữu khác và thời điểm hoàn thành tội phạm.
    • Các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và kết luận chỉ đạo của Chánh án TANDTC tại các hội nghị tổng kết ngành tòa án hàng năm.
    • Các bài viết chuyên sâu trên tạp chí khoa học chuyên ngành của các tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa, Trần Văn Độ, Nguyễn Văn Hiện, Đặng Quang Phương, Võ Khánh Vinh, Đinh Văn Quế, Mai Bộ...
    • Các công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu trước đây về các tội xâm phạm sở hữu.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về từng khía cạnh cụ thể, nhưng hầu hết mới dừng lại ở phạm vi đơn lẻ, mang tính rải rác hoặc thuần túy bình luận thực tiễn xét xử. Chưa có công trình nào nghiên cứu các tội xâm phạm sở hữu một cách toàn diện, có hệ thống trên sự kết hợp đồng thời của hai bình diện: Tội phạm học và Luật hình sự trong bối cảnh nền kinh tế thị trường thời kỳ đổi mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Cơ sở phương pháp luận chung: Luận án dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng, lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật; các chủ trương, quan điểm đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN gắn liền với đổi mới hệ thống chính trị và cải cách tư pháp.
  • Khái niệm Tội phạm học: Luận án vận dụng khái niệm "tình hình tội phạm" như một hiện tượng xã hội - pháp lý tiêu cực, mang tính lịch sử và giai cấp. Cấu trúc nghiên cứu tình hình tội phạm được phân tích thông qua hai nhóm thông số:
    • Thông số về lượng: Phản ánh qua thực trạng (mức độ), động thái (diễn biến), hệ số tội phạm trên 100.000 dân và tình hình tội phạm ẩn (chia thành 3 loại: ẩn tự nhiên, ẩn nhân tạo, ẩn thống kê với 4 cấp độ ẩn từ cấp I đến cấp IV).
    • Thông số về chất: Phản ánh qua cơ cấu (tỷ trọng giữa các loại tội danh) và tính chất (mức độ nguy hiểm cho xã hội, đặc điểm nhân thân người phạm tội: độ tuổi, giới tính, thành phần dân tộc, chức vụ, nghề nghiệp, tình trạng tái phạm).
  • Khung phân tích Luật hình sự: Phân tích cơ sở TNHS dựa trên cấu thành tội phạm truyền thống gồm 4 yếu tố (khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan), đi sâu vào các chế định đồng phạm, giai đoạn thực hiện tội phạm, hệ thống hình phạt chính - bổ sung, nguyên tắc quyết định hình phạt, miễn TNHS, miễn hình phạt và các biện pháp tư pháp.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp biện chứng duy vật và phương pháp hệ thống (đặt các tội xâm phạm sở hữu trong mối quan hệ hữu cơ với các chế định chung của luật hình sự).
  • Phương pháp lịch sử (theo dõi sự biến đổi của chính sách hình sự qua các thời kỳ).
  • Phương pháp so sánh pháp luật (so sánh với quy định pháp luật và thông số tội phạm của một số quốc gia như Liên Xô, Mỹ, Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc...).
  • Phương pháp thống kê hình sự (xử lý số liệu xét xử sơ thẩm và số liệu khởi tố toàn quốc).
  • Phương pháp phân tích vụ án thực tế (nghiên cứu hồ sơ các vụ án kinh tế, sở hữu lớn).

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Báo cáo thống kê tổng hợp xét xử sơ thẩm giai đoạn 1989 - 1998 của Phòng Tổng hợp - Tòa án nhân dân Tối cao.
  • Báo cáo thống kê của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao và Bộ Nội vụ (Bộ Công an).
  • Kết quả điều tra xã hội học chọn mẫu do Viện kiểm sát nhân dân Tối cao thực hiện tại 15 tỉnh, thành phố với 1.100 người được hỏi và 121 đại biểu tham dự các hội thảo khoa học chuyên đề.
  • Dữ liệu khảo sát từ 217 vụ án tham nhũng được đưa ra xét xử trên toàn quốc.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khía cạnh tội phạm học của các tội xâm phạm sở hữu

Chương này tập trung khảo sát thực trạng, động thái, cơ cấu, tính chất của tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu giai đoạn 1989 - 1998, chỉ rõ các nguyên nhân, điều kiện phát sinh và đưa ra dự báo.

1. Thông số về lượng của các tội xâm phạm sở hữu

  • Tương quan xét xử toàn quốc: Các vụ án xâm phạm sở hữu chiếm tỷ lệ bình quân trên dưới 50% tổng số vụ án hình sự được đưa ra xét xử sơ thẩm trên phạm vi cả nước.
  • Diễn biến trái chiều giữa hai nhóm sở hữu:
    • Tội xâm phạm sở hữu XHCN: Có xu hướng giảm về số vụ án xét xử, từ 2.017 vụ (năm 1989) xuống thấp nhất là 962 vụ (năm 1995, chiếm 2,90%) và đạt 1.455 vụ (năm 1998, chiếm 3,80%). Tỷ lệ cao nhất ghi nhận vào năm 1990 với 3.017 vụ (chiếm 12,06%).
    • Tội xâm phạm sở hữu riêng của công dân: Có xu hướng tăng liên tục, từ 9.011 vụ (năm 1989) lên 22.136 vụ (năm 1998), tăng 245,65% so với năm 1989. Tỷ trọng trong tổng số án xét xử đạt mức cao nhất vào năm 1994 với 15.674 vụ (chiếm 50,16%).
  • Về số lượng bị cáo: Bị cáo phạm tội xâm phạm sở hữu chiếm từ 50% đến 60% tổng số bị cáo hình sự hàng năm; đặc biệt năm 1992 chiếm tỷ lệ kỷ lục 75,36% (trong đó sở hữu XHCN chiếm 14,95% với 4.777 bị cáo; sở hữu công dân chiếm 60,41% với 19.298 bị cáo).
  • Tương quan khởi tố và xét xử (1992 - 1996): Số vụ khởi tố năm 1992 là 18.535 vụ (27.984 bị can), năm 1996 tăng lên 23.726 vụ (34.332 bị can). Tỷ lệ vụ án đưa ra xét xử đạt trên dưới 80% so với số khởi tố. Đáng chú ý, tỷ lệ đình chỉ vụ án ở giai đoạn điều tra cao hơn nhiều lần so với giai đoạn xét xử (năm 1992: điều tra đình chỉ 22,52%, xét xử đình chỉ 1,88%; năm 1995: điều tra đình chỉ 34,48%, xét xử đình chỉ 1,58%).
  • Tội phạm ẩn: Kết quả điều tra xã hội học của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao tại 15 tỉnh, thành phố (1.100 người) cho thấy tội tham ô chỉ được phát hiện từ 5% - 20% (trung bình 15%); tội cố ý làm trái và đưa/nhận hối lộ phát hiện 5% - 10% (trung bình 7,5%). Khảo sát 217 vụ án tham nhũng cho thấy có 79 vụ (chiếm 62%) có thời gian ẩn từ 1 năm đến nhiều năm.
  • Hệ số tội phạm: Giai đoạn 1989 - 1992 ghi nhận hệ số từ 149 đến 191 vụ và từ 248 đến 319 đối tượng phạm pháp trên 100.000 dân, trong đó các tội xâm phạm sở hữu chiếm trên 50% số vụ và khoảng 60% số đối tượng.

2. Thông số về chất của các tội xâm phạm sở hữu

Trong 194 điều luật phần các tội phạm cụ thể của BLHS 1985, các tội xâm phạm sở hữu gồm 25 điều (13 điều về sở hữu XHCN, 12 điều về sở hữu công dân, chiếm 12,88% số điều luật) nhưng chiếm trên 50% số vụ án xét xử thực tế.

Bảng 1: Cơ cấu các tội xâm phạm sở hữu riêng của công dân bị xét xử sơ thẩm (1989 - 1998)

STT Tội danh Điều luật (BLHS 1985) Số vụ đã xét xử sơ thẩm Tỷ lệ (%)
1 Trộm cắp tài sản của công dân Điều 155 88.293 60,08
2 Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân Điều 157 14.882 10,13
3 Cướp tài sản của công dân Điều 151 14.532 9,89
4 Cướp giật và công nhiên chiếm đoạt tài sản công dân Điều 154 10.428 7,10
5 Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân Điều 158 8.907 6,06
6 Cưỡng đoạt tài sản của công dân Điều 153 6.220 4,23
7 Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản công dân Điều 160 3.254 2,21
8 Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản công dân Điều 156 196 0,13
9 Chiếm giữ trái phép tài sản của công dân Điều 159 140 0,10
10 Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng tài sản công dân Điều 161 45 0,03
11 Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản của công dân Điều 152 24 0,01

Bảng 2: Cơ cấu các tội xâm phạm sở hữu XHCN bị xét xử sơ thẩm (1989 - 1998)

STT Tội danh Điều luật (BLHS 1985) Số vụ đã xét xử sơ thẩm Tỷ lệ (%)
1 Trộm cắp tài sản XHCN Điều 132 8.006 43,57
2 Tham ô tài sản XHCN Điều 133 4.148 22,57
3 Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN Điều 135 2.442 13,29
4 Lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN Điều 134 2.096 11,40
5 Phá hủy hoặc làm hư hỏng tài sản XHCN Điều 138 716 3,89
6 Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng tài sản XHCN Điều 139 330 1,79
7 Sử dụng trái phép tài sản XHCN Điều 137 215 1,17
8 Cướp tài sản XHCN Điều 129 210 1,14
9 Chiếm giữ trái phép tài sản XHCN Điều 136 100 0,54
10 Cướp giật và công nhiên chiếm đoạt tài sản XHCN Điều 131 93 0,50
11 Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng tài sản XHCN Điều 140 54 0,29
12 Cưỡng đoạt tài sản XHCN Điều 130 43 0,23
  • Đặc điểm nhân thân người phạm tội:
    • Tái phạm: Tỷ lệ bị cáo tái phạm dao động từ 9,51% (năm 1994) đến 13,24% (năm 1993); năm 1989 đạt 10,89%.
    • Độ tuổi: Nhóm từ 18 đến 30 tuổi chiếm tỷ lệ áp đảo từ 68% đến 82% hàng năm. Người chưa thành niên phạm tội có xu hướng tăng từ 8,09% (năm 1994) lên 11,10% (năm 1998).
    • Giới tính: Bị cáo là nữ tăng nhanh, từ 11,57% (năm 1994) lên 18,49% (năm 1995), cao hơn nhiều so với tỷ lệ nữ phạm tội chung toàn quốc (5,63% năm 1994 và 9,47% năm 1995).
    • Thành phần dân tộc: Chiếm từ 2% đến 8% (năm 1989 là 6,91%).
    • Cán bộ, công nhân viên chức: Năm 1990 chiếm 11,55%, sau đó giảm dần còn 3,41% (năm 1996) và 3,72% (năm 1997), tương ứng với sự sụt giảm số vụ án sở hữu XHCN.
  • Địa bàn và phương thức, thủ đoạn: Tội phạm tập trung tại các đô thị lớn, các ngành kinh tế trọng điểm (ngân hàng, tài chính, xuất nhập khẩu, thương mại). Riêng tội cướp tài sản có 86% số vụ xảy ra trên các tuyến giao thông huyết mạch, vùng giáp ranh, biên giới. Thủ đoạn phổ biến gồm lập hợp đồng kinh tế khống, thế chấp khống tài sản vay vốn ngân hàng, phạm tội có tổ chức cấu kết nhiều cấp ngành, sử dụng vũ khí nóng (như vụ cướp tiệm vàng Kim Sinh ngày 19/7/1999 tại 48 Tây Sơn - Hà Nội; vụ bắt cóc người Nhật Bản tại khu Ngoại giao đoàn Ngọc Khánh tháng 4/1999; các đại án Tamexco, Dệt Nam Định, Epco - Minh Phụng chiếm đoạt trên 4.000 tỷ đồng).
  • Thiệt hại tài sản và thu hồi: Thiệt hại gia tăng đột biến (năm 1991 tăng 23,1% so với 1990; năm 1993 tăng 121% so với 1992; năm 1994 tăng 15,6% so với 1993). Giá trị tài sản thu hồi thực tế chỉ đạt mức xấp xỉ 10% tổng giá trị tài sản bị thiệt hại.

Chương 2: Chính sách và cơ sở trách nhiệm hình sự của các tội xâm phạm sở hữu

Chương 2 luận giải các nguyên tắc lập pháp hình sự và phân tích khoa học 4 yếu tố cấu thành tội phạm của nhóm tội xâm phạm sở hữu.

1. Chính sách hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu

Luận án phân tích sự phát triển của chính sách hình sự từ giai đoạn trước đổi mới (ưu tiên tuyệt đối bảo vệ sở hữu XHCN) sang thời kỳ đổi mới kinh tế. Chính sách hình sự mới đòi hỏi phải bảo vệ bình đẳng mọi hình thức sở hữu hợp pháp của nhà nước, tập thể và cá nhân; phân hóa rõ trách nhiệm xử lý giữa hành vi chiếm đoạt có tính chất vụ lợi với các vi phạm hành chính, dân sự hoặc hành vi thiếu trách nhiệm.

2. Cơ sở trách nhiệm hình sự

  • Khách thể: Khách thể của nhóm tội này là quan hệ sở hữu hợp pháp. Luận án phân định sự khác nhau giữa tài sản là đối tượng tác động của tội xâm phạm sở hữu với tài sản trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về chức vụ hoặc các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế.
  • Mặt khách quan: Đi sâu phân tích bản chất pháp lý của "hành vi chiếm đoạt" (chuyển dịch trái phép tài sản từ chủ sở hữu sang người phạm tội hoặc người khác), xác định thời điểm hoàn thành của các tội phạm có cấu thành vật chất và cấu thành hình thức (như tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản), đồng thời phân biệt với nhóm hành vi không mang tính chiếm đoạt (hủy hoại tài sản, sử dụng trái phép tài sản, vô ý gây thiệt hại).
  • Chủ thể: Xem xét độ tuổi chịu TNHS (Điều 58 BLHS 1985 quy định từ đủ 14 tuổi chịu TNHS về tội nghiêm trọng do cố ý; từ đủ 16 tuổi chịu TNHS về mọi tội phạm); làm rõ dấu hiệu chủ thể đặc biệt (người có chức vụ, quyền hạn trong tội tham ô tài sản, tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản).
  • Mặt chủ quan: Đa số các tội xâm phạm sở hữu được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp và có mục đích chiếm đoạt, vụ lợi; trừ các tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng (Điều 140, Điều 161).
  • Cấu thành tăng nặng, đồng phạm và các giai đoạn thực hiện tội phạm: Phân tích các tình tiết định khung tăng nặng; làm rõ chế định đồng phạm trong các vụ án phạm tội có tổ chức quy mô lớn; xác định ranh giới trách nhiệm ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt.

Chương 3: Các hình thức trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu

Chương 3 đi sâu vào hệ thống chế tài hình sự, thực tiễn áp dụng và định hướng nâng cao hiệu quả tư pháp.

  • Hệ thống hình phạt chính và hình phạt bổ sung: Đánh giá thực trạng áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình, cải tạo không giam giữ, phạt tiền và các hình phạt bổ sung như phạt tiền, tịch thu tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề.
  • Quyết định hình phạt và nâng cao hiệu quả hình phạt: Phân tích nguyên tắc cá thể hóa hình phạt của Tòa án trong các bản án sơ thẩm và phúc thẩm. Chỉ ra những bất cập khi mức hình phạt áp dụng đôi lúc chưa tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi hoặc chưa đảm bảo tính nghiêm minh đối với các đối tượng chủ mưu, cầm đầu.
  • Miễn TNHS, miễn hình phạt và các biện pháp tư pháp: Luận giải điều kiện áp dụng miễn TNHS, miễn hình phạt theo quy định của luật; phân tích cơ chế áp dụng các biện pháp tư pháp (tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm, buộc bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả). Luận án nhấn mạnh định hướng của TANDTC coi việc người phạm tội hoặc gia đình chủ động bồi thường, giao nộp lại tài sản bị chiếm đoạt trước hoặc trong quá trình xét xử là tình tiết giảm nhẹ quan trọng nhằm tối ưu hóa việc thu hồi tài sản cho Nhà nước và nhân dân.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn

  • Là công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống đầu tiên ở cấp độ luận án tiến sĩ về các tội xâm phạm sở hữu ở Việt Nam trên sự kết hợp đồng thời của hai bình diện Tội phạm học và Luật hình sự.
  • Phân tích và làm sáng tỏ bản chất các quy luật vận động về lượng và chất của tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu trong 10 năm đầu thời kỳ đổi mới (1989 - 1998); xác định rõ phân loại và 4 cấp độ của tội phạm ẩn trong nhóm tội chiếm đoạt tài sản.
  • Làm rõ khái niệm, đặc trưng pháp lý của hành vi chiếm đoạt tài sản, thiết lập các tiêu chí phân định ranh giới giữa hành vi chiếm đoạt với các hành vi xâm phạm sở hữu khác, cũng như giữa tội phạm hình sự với các tranh chấp hợp đồng kinh tế, dân sự.
  • Luận giải sự khác biệt về bản chất pháp lý của tài sản là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu so với đối tượng tác động của các nhóm tội danh khác.
  • Đánh giá toàn diện thực tiễn áp dụng BLHS 1985, cung cấp luận cứ khoa học cho việc hình sự hóa, phi tội phạm hóa và sửa đổi, bổ sung các cấu thành tội phạm, khung chế tài nhằm đảm bảo nguyên tắc bình đẳng bảo vệ các hình thức sở hữu.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Kiến nghị hoàn thiện các quy định về các tội xâm phạm sở hữu trong BLHS mới theo hướng hợp nhất các tội danh xâm phạm sở hữu XHCN và sở hữu công dân có cùng tính chất hành vi thành các tội danh chung, đảm bảo sự bình đẳng trước pháp luật.
  • Cải cách đồng bộ công tác thống kê hình sự liên ngành (Công an, Viện kiểm sát, Tòa án) nhằm phản ánh trung thực tình hình tội phạm và giảm thiểu sai số thống kê.
  • Tăng cường các biện pháp phòng ngừa xã hội, siết chặt quản lý kinh tế - tài chính, kiểm soát nội bộ tại các ngành ngân hàng, thương mại, xuất nhập khẩu.
  • Hoàn thiện cơ chế tư pháp khuyến khích việc tự nguyện khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại nhằm nâng cao tỷ lệ thu hồi tài sản bị chiếm đoạt.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế được đề cập trong luận án

  • Luận án chưa thể tự tiến hành một cuộc điều tra xã hội học độc lập quy mô toàn quốc về tình hình tội phạm ẩn mà phải kế thừa kết quả điều tra chọn mẫu của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao.
  • Số liệu thống kê hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng giai đoạn 1989 - 1998 còn bộc lộ một số sai số do tiêu chí thống kê chưa hoàn toàn thống nhất và đồng bộ giữa các ngành.
  • Biểu mẫu thống kê xét xử của ngành Tòa án đưa chung số liệu tái phạm và tái phạm nguy hiểm vào cùng một cột, chưa tách biệt cụ thể và chỉ giới hạn theo khái niệm pháp lý tại Điều 40 BLHS 1985 ở cấp sơ thẩm, chưa bao quát được toàn bộ khái niệm tái phạm thực tế của Tội phạm học.
  • Luận án không thống kê số liệu đối với Chương XI (Các tội phạm về quân nhân) và Chương XII (Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh) do tính chất đặc thù về chủ thể, thủ tục tố tụng hoặc chưa có thực tiễn thụ lý xử lý.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Tiếp tục mở rộng các nghiên cứu thực nghiệm xã hội học về nạn nhân học (victimology) và phương pháp đo lường tội phạm ẩn trong lĩnh vực kinh tế - sở hữu.
  • Theo dõi, đánh giá thực tiễn thi hành các quy định mới về nhóm tội xâm phạm sở hữu khi Bộ luật Hình sự sửa đổi được ban hành và đi vào đời sống.

Giá trị tham khảo

  • Đối với các cơ quan lập pháp: Cung cấp hệ thống luận cứ khoa học và cơ sở dữ liệu thực chứng 10 năm (1989 - 1998) phục vụ trực tiếp cho việc soạn thảo, thẩm tra và hoàn thiện các quy định về nhóm tội xâm phạm sở hữu trong quá trình xây dựng Bộ luật Hình sự năm 1999.
  • Đối với các cơ quan tiến hành tố tụng (Công an, Viện kiểm sát, Tòa án): Tài liệu hữu ích cho điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán trong việc nắm bắt phương thức, thủ đoạn phạm tội mới; phân định ranh giới tội danh chính xác; áp dụng đúng các tình tiết định khung tăng nặng, giảm nhẹ và thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản.
  • Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học: Là công trình chuyên khảo có hệ thống phục vụ công tác giảng dạy, học tập môn Luật hình sự Việt Nam và môn Tội phạm học tại các cơ sở đào tạo luật; đồng thời làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành tư pháp hình sự.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ số vụ án xâm phạm sở hữu chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng số vụ án hình sự xét xử sơ thẩm giai đoạn 1989 - 1998?

Trong giai đoạn 10 năm (1989 - 1998), các vụ án xâm phạm sở hữu chiếm tỷ lệ bình quân trên dưới 50% tổng số các vụ án hình sự được đưa ra xét xử sơ thẩm trên phạm vi toàn quốc (trong khi 8 chương tội phạm còn lại của BLHS 1985 chỉ chiếm chưa đến 50%).

2. Tội danh nào chiếm tỷ lệ cao nhất trong cơ cấu các tội xâm phạm sở hữu bị xét xử sơ thẩm?

Tội trộm cắp tài sản chiếm tỷ lệ cao nhất ở cả hai nhóm sở hữu: chiếm 60,08% (với 88.293 vụ) trong tổng số các vụ án xâm phạm sở hữu riêng của công dân và chiếm 43,57% (với 8.006 vụ) trong tổng số các vụ án xâm phạm sở hữu XHCN được xét xử sơ thẩm từ năm 1989 đến năm 1998.

3. Tỷ lệ phát hiện của tội tham ô tài sản theo điều tra xã hội học của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao là bao nhiêu?

Theo kết quả điều tra xã hội học của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao tại 15 tỉnh, thành phố đối với 1.100 người được hỏi, tội tham ô tài sản chỉ được các cơ quan chức năng phát hiện từ 5% đến 20% (mức trung bình là 15%) so với số lượng vụ việc thực tế xảy ra; có 75% ý kiến khẳng định tỷ lệ phát hiện chỉ nằm trong khoảng 5% - 20%.

4. Tỷ lệ thu hồi tài sản bị thiệt hại do các tội xâm phạm sở hữu gây ra trong giai đoạn 1990 - 1994 đạt khoảng bao nhiêu?

Giá trị tài sản bị chiếm đoạt và thiệt hại do các tội xâm phạm sở hữu gây ra trong giai đoạn 1990 - 1994 gia tăng rất lớn (năm 1993 tăng 121% so với năm 1992), tuy nhiên tổng giá trị tài sản thu hồi được trên thực tế chỉ chiếm một phần rất nhỏ, ước tính xấp xỉ 10% tổng giá trị tài sản bị thiệt hại.

5. Người phạm tội xâm phạm sở hữu tập trung chủ yếu ở lứa tuổi nào và tình hình phạm tội của người chưa thành niên diễn biến ra sao?

Người phạm tội xâm phạm sở hữu tập trung chủ yếu ở lứa tuổi lao động từ 18 đến 30 tuổi, chiếm tỷ lệ từ 68% đến 82% tổng số bị cáo bị xét xử hàng năm. Bị cáo là người chưa thành niên có xu hướng gia tăng liên tục, từ mức 8,09% (năm 1994) lên 11,10% (năm 1998).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Ngọc Chí là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên tại Việt Nam tiếp cận vấn đề trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu một cách toàn diện trên cả hai phương diện Tội phạm học và Luật hình sự. Thông qua việc phân tích chuỗi dữ liệu thực chứng 10 năm (1989 - 1998), luận án đã làm sáng tỏ các quy luật vận động về lượng, chất, tình hình tội phạm ẩn và thiệt hại của nhóm tội phạm này trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế. Công trình đóng góp hệ thống cơ sở lý luận quan trọng về cấu thành tội phạm, bản chất hành vi chiếm đoạt và chế tài hình sự, trực tiếp phục vụ yêu cầu hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm sở hữu ở nước ta.