Phần mở đầu. - Chương |: Khía cạnh tội phạm học của các tội xâm phạm sở hữu. - Chương 2_ : Chính sách và cơ sở trách nhiệm hính sự của các tội xâm phạm sở hữu. - Chương 3 : Các hình thức trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu.
- Phần kết luận. CHUƠNG I KHÍA CANH TOI PHAM HOC CUA CAC TOI XAM PHAM SO HUU Toi phạm học nghiên cứu đặc điểm tinh hình, nguyên nhân điều kiện của tội phạm nói chung, của mot loại tội phạm cũng như dối với các tội phạm đơn nhất nhằm tìm ra qui luật hình thành và hoạt động của chúng. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đó, tội phạm học dua ra những giải pháp đấu tranh, phòng ngừa làm giảm và tiến tới loại trừ hiện tượng tội phạm ra khỏi đời sống xã hội. Với đề tài: “Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu”, luận án không nghiên cứu tất cả các nội dung của tội phạm học mà chỉ dé cập đến những vấn đề của tội phạm học liên quan dến trách nhiệm hình sự, làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xem xét, đánh giá chính sách hình sự của Nhà nước ta đối với các tội xâm phạm sở hữu, cơ sở và các hình thức trách nhiệm hình sự dối với các tội xâm phạm sở hữu.
Đặc điểm tình hình các tội xâm phạm sở hữu. Đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm sở hữu luôn là mốt quan tâm của Đảng và Nhà nước ta, của các cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Toà án, Tư pháp và của toàn xã hội. Cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và các tội xâm phạm sở hữu nói riêng trong những năm vừa qua đã thu dược những kết quả nhất định, góp phần bảo vệ chế độ sở hữu XHCN và sở hữu riêng công dân. Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận tình hình diễn biến của các tội xâm phạm sở hữu rất phức tạp, có chiều hướng gia tăng, giá trị tài sản bị thiệt hại ngày mot lớn.
Trước yêu cầu của cuộc đấu tranh chống tội phạm ngày càng cấp thiết, việc nghiên cứu, tìm hiểu những quy luật vận động nội tại của tình hình tội phạm sẽ làm sáng tỏ các nguyên nhân, điều kiện của tình trạng phạm tột xâm phạm sở hữu, trên cơ sở đó xem xét tác dong của TNHS trên thực tế đối với loại tội nay. Tình hình tội phạm là khát niệm cơ bản của Tội phạm học, cho đến nay trong sách báo pháp lý va giáo trình ở các trường đại học nước ta dều có sự thống nhất khi đưa ra khái niệm tình hình tội phạm -[D6 là một hiện tượng xã hội, pháp lý tiêu cực, được thay đổi về mặt lịch sử, mang tính giai cấp, bao gồm tổng thể thống nhất các tội phạm thực hiện trong một xã hội nhất định và trong khoảng thời gian nhất định [92,14], [42,75 |x Khái niệm này da xem xét tình hình tội phạm trong bối cảnh chung của xã hội, với các điều kiện kinh tế, chính trị, lịch sử và trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng. Bất kỳ một sự thay đổi nào của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng đều dẫn đến sự thay đổi của tình hình tội phạm theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực. Vì vậy, muốn làm giảm tình hình tội phạm, chúng ta phải thực hiện đồng bộ các biện pháp tác động vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội.
mới có thể mang lại hiệu quả. Cũng như các khái niệm khoa học khác, khái niệm tình hình tội phạm có chức năng đánh giá, thể hiện ở chỗ thong qua sự hiểu biết, nhận thức về khái niệm đó mà xã hội, nhà nước và moi người có cơ sở để đánh giá tình hình tội phạm như là hiện tượng nguy hiểm nhất trong đời sống xã hội, de doa đối với các giá trị của dời sống xã hội, của nhà nước, công dân và kể cả chính người phạm tội. Tình hình tội phạm bao giờ cũng là những hiện tượng sai lệch so với các quy phạm và chuẩn mực xã hội, vì vậy phải có những biện pháp để khắc phục có hiệu quả hiện tượng này. Mặt khác, qua các thông số của tình hình tội phạm ở mức độ nhất định có thể đánh giá được hiệu quả hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật, đánh gid được sự quan tâm của nhà nước, của các tổ chức xã hội và của mọi công dân trong việc đấu tranh với tình hình tội phạm.
Tình hình tội phạm nói chung và tình hình các tội xâm phạm sở hữu nói riêng, không chỉ là tổng số về mặt số học của các tội phạm, mà còn là sự tổng hợp biện chứng của các tội phạm đó. Sự thống nhất biện chứng này được biểu hiện ở các thông số (hay còn gọi là các đặc điểm) về lượng và về chất được xem Xét trong sự thống nhất biện chứng quan hệ tác động qua lại lần nhau. Sự thay doi của một trong những thông số đó ở dạng tổng thể hay từng phần déu dẫn L0 đến sự thay đổi về tình hình tội phạm nói chung. Việc nhận thức các thông số về lượng và chất của tình hình tội phạm, việc làm sáng to ban chất các quy luật vận động phát triển của chúng là một trong những yếu tố quan trọng của việc nghiên cứu tình hình tội phạm với tư cách là một hiện tượng xã hội.
Trong quá trình nghiên cứu tìm ra các quy luật nội tại để đấu tranh, phòng ngừa tội phạm có kết quả, không thể không sử dụng các số liệu thống kê hình sự. Trên thực tế những số liệu thống kê này là một công cụ cần thiết, quan trọng để nhận thức và xem xét tình hình tội phạm. Cũng như tình hình tội phạm nói chung, tình hình các tội xâm phạm sở hữu bộc lộ bản chất thông qua những thông số phản ánh về số lượng và tính chất của nó. Trong đó, các thông số phản ánh về lượng được biểu thị bằng khái niệm thực trạng (mức độ) va động thái (diễn biến) của tình hình tội phạm: còn các thông số phản ánh về chất được biểu thị bằng khái niệm cơ cấu và tính chất của tình hình tội phạm.
Như vậy, tình trạng và động thái, cơ cấu và tính chất của tình hình tội phạm sẽ hợp thành nội dung cơ bản của tình hình các tội xâm phạm sở hữu. Tuy nhiên, trên thực tế chỉ có một phần các tội phạm xảy ra được các cơ quan chức nang (cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Toà án) phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử và đưa vào thống kê hình sự - hay còn gọi là tội phạm rõ. Còn một phần tội phạm đáng kể khác, thực tế đã xảy ra nhưng do nhiều lý do khác nhau mà các cơ quan chức năng chưa phát hiện được, do đó chưa dưa được vào thống kê hình sự - đó là tội phạm ẩn. Thông số về lượng của các tội xâm phạm sở hữu.
Những thông số (đặc điểm) về lượng của tình hình các tội xâm phạm sở hữu được thể hiện ở thực trạng (mức độ) và động thái (diễn biễn) của nó. Khi nghiên cứu, chúng tôi khảo sát số lượng vụ án và người thực hiện tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn toàn quốc trong khoảng thời gian 10 năm (từ 1989 đến 1998). Sở di lấy số liệu LO năm về tội xâm phạm sở hữu vì thong qua tình hình các tội xâm phạm trong 10 năm liên tục có thể rút ra được những nhận xét, dánh giá cơ bản về đặc điểm tình hình tội phạm, mặt khác quá trình đổi mới 11 mọi mặt trong đời sống xã hội do Dang ta khởi xướng năm 1986 đã dược triển khai và bude đầu có hiệu quả vào cuối những năm 80 nên tình hình các tội xâm phạm sở hữu từ năm 1989 đã phản ánh phần nào qui luật của cơ chế thị trường. Đặc điểm về lượng của các tội xâm phạm sở hữu được biểu hiện ở các thông số: số lượng các tội phạm và người bị Toà án xét xử; số liệu về số lượng tội phạm xâm phạm sở hữu không bị phát hiện (tội phạm ẩn); hệ số của tình hình tội phạm; mức độ của tình hình tái phạm.
Thứ nhất, số lượng các tội phạm xâm phạm sở hữu thông qua xét xử bao gồm toàn bộ số tội phạm và người phạm tội có bản án của toà án có hiệu lực pháp luật. Đây là con số cơ bản đầu tiên của tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu. Thông qua các số liệu này chúng ta có thể đánh giá được phần nào tinh hình các tội xâm phạm sở hữu và mối tương quan giữa nhóm tội phạm này với các nhóm tội phạm khác và toàn bộ tình hình tội phạm nói chung. Khi xem xét số lượng các tội xâm phạm sở hữu thông qua xét xử, chúng ta cũng phải chấp nhận một sai số nhất định so với tình hình thực tế.
Việc sai số trong thống kê hình sự do các nguyên nhân khách quan và chủ quan, như các nguyên nhân của kỹ thuật và phương pháp thông kê hình sự. Tình hình sai sót trong thong kê tội phạm mang tính phổ biến và tồn tại ở tất cả các nước. Ở Mỹ phần lớn các tội phạm do người da trắng gây ra bị bỏ sót và khá phổ biến tình trạng sĩ quan cảnh sát bớt tội phạm khi thống kê để cấp trên thấy tình hình bớt phức tạp; Ở Nhat trong quá trình thống kê tội phạm sai sót thực tế khoảng 20% [25,61]. Ở nước ta, việc thống kê tội phạm những năm gan dây dã dược chú ý, song mới chỉ là những số liệu cơ bản và do nhiều cơ quan tiến hành nên độ chính xác chưa cao.
Ngay trong một cơ quan như Viện kiểm sát việc thống kê số liệu bắt, tạm giữ, tạm giam những người có hành vi phạm tội do nhiều đơn vị thực hiện nên xảy ra tình trạng cùng một việc nhưng hai nơi thống kê hoặc ngược lại không đơn vị nào thống kê nên tình hình tội phạm được phản ánh chưa đúng với bản chất của sự việc [85,L1-12]. Vì vậy, những số liệu dược nêu trong luận an còn có sai số với tình hình thực tế tội phạm xảy ra. Tuy nhiên, những số liệu 12 thống kê của các cơ quan bảo vệ pháp luật cũng là bức tranh thu nhỏ của tình hình các tội xâm phạm sở hữu và đã phản ánh bản chất của các tội xâm phạm sở hữu, chúng ta cần phải chấp nhận thực trạng về những sai số của thống kê Iình sự.