Chương 1 CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ KẾ TOÁN GÂY HẬU QUẢ NGHIÊM TRỌNG 1. Khái quát về tội vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng Tội vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng là tội danh độc lập được quy định trong BLHS năm 2015. Đây là một trong số các tội danh được quy định trong BLHS năm 2015 trên cơ sở cụ thể hóa các hành vi phạm tội của tội cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng đã được quy định trong BLHS năm 1999. Xét về lịch sử, văn bản đầu tiên có nội dung về hành vi phạm tội trong lĩnh vực kế toán là Nghị định số 175-CP ngày 28/10/1961 của Hội đồng Chính phủ.
Trong đó, Điều 41 quy định: “Nếu không làm tròn nhiệm vụ kế toán trưởng có thể bị thi hành kỷ luật, và tùy trường hợp, có thể bị truy tố trước pháp luật”. Tiếp theo là Nghị định số 176-CP ngày 28/10/1970 của Hội đồng Chính phủ. Điều 42 của Nghị định này quy định: “Trường hợp không làm tròn nhiệm vụ, kế toán trưởng có thể bị thi hành kỷ luật: truất tiền thưởng, hạ tiền lương, phê bình, cảnh cáo, cách chức và trong trường hợp nghiêm trọng, có thể bị truy tố trước pháp luật”. Tuy nhiên, hai văn bản này chỉ là các văn bản chuyên ngành về lĩnh vực kế toán.
Văn bản quy phạm pháp luật hình sự quy định về tội phạm, trong đó có hành vi phạm tội thuộc lĩnh vực kế toán trong thời gian này là Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa (ngày 21/10/1970). Trong đó, Điều 12 quy định Tội cố ý làm trái nguyên tắc, chính sách, chế độ, thể lệ về kinh tế, tài chính, gây thiệt hại đến tài sản xã hội chủ nghĩa với nội dung: “1. Kẻ nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn, cố ý làm trái nguyên tắc, chính sách, chế độ và thể lệ về kinh tế, tài chính, gây thiệt hại đến tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 7 năm. Đây là tội danh có thể áp dụng cho hành vi phạm tội trong lĩnh vực kế toán.
6 Năm 1985, BLHS đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam được ban hành. Theo Bộ luật này, hành vi phạm tội trong lĩnh vực kế toán bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 174 với tội danh là Tội cố ý làm trái những nguyên tắc, chính sách, chế độ quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng. Điều luật này quy định: “1- Người nào vì vụ lợi mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái những nguyên tắc, chính sách, chế độ quản lý kinh tế do Nhà nước quy định gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm”. Theo đó, Điều 18 Pháp lệnh Kế toán thống kê (ngày 20/5/1988) quy định: “Người nào vi phạm chế độ kế toán và thống kê thì bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính theo quy định của Hội đồng bộ trưởng hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự”.
Tương tự như vậy, Điều 44 Nghị định số 25-HĐBT ngày 18/3/1989 của Hội đồng Chính phủ về Điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước quy định: “Người nào vi phạm các chế độ kế toán, lợi dụng công tác kế toán, lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái các điều quy định về kế toán thì sẽ bị xử phạt hành chính theo chế độ hiện hành. Nếu hành vi vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự”. Trong BLHS 1999, hành vi phạm tội thuộc lĩnh vực kế toán được quy định cùng với hành vi phạm tội thuộc các lĩnh vực khác tại Điều 165 với tội danh là Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng. Đây là tội danh chung cho nhiều hành vi phạm tội khác nhau, trong đó có hành vi phạm tội thuộc lĩnh vực kế toán.
Điều luật này quy định: “1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây thiệt hại từ một trăm triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng hoặc dưới một trăm triệu đồng, đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm”. 7 Điều luật này có thể được coi là sự đáp ứng yêu cầu tội phạm hóa của Điều 62 Luật kế toán năm 2003. Điều luật này quy định: “Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về kế toán thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự”.
Theo đó, Điều 165 BLHS năm 1999 là cơ sở pháp lý cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự các hành vi vi phạm pháp luật về kế toán. Trong BLHS năm 2015, hành vi phạm tội thuộc lĩnh vực kế toán được quy định tại Điều 221 với tội danh độc lập là Tội vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng. Với quy định cụ thể này, BLHS năm 2015 đã một bước đáp ứng tốt hơn yêu cầu tội phạm hóa của pháp luật kế toán theo nguyên tắc chung “…, Bộ luật Hình sự phải tội phạm hóa các hành vi bị các luật chuyên ngành cấm và bị đe dọa phải chịu trách nhiệm hình sự”.1 Theo đó, Điều 221 BLHS năm 2015 quy định: “1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong những hành vi sau đây, gây thiệt hại từ 100.000 đồng đến dưới 300.000 đồng hoặc dưới 100.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Giả mạo, khai man, thỏa thuận hoặc ép buộc người khác giả mạo, khai man, tẩy xóa tài liệu kế toán; b) Dụ dỗ, thỏa thuận hoặc ép buộc người khác cung cấp, xác nhận thông tin, số liệu kế toán sai sự thật; c) Để ngoài sổ kế toán tài sản của đơn vị kế toán hoặc tài sản liên quan đến đơn vị kế toán; d) Hủy bỏ hoặc cố ý làm hư hỏng tài liệu kế toán trước thời hạn lưu trữ theo quy định của Luật Kế toán; 1.
Xem: Nguyễn Ngọc Hòa (2015), Nội dung riêng biệt và tính thống nhất của Bộ luật hình sự trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 11 (331), tr. 8 đ) Lập hai hệ thống sổ kế toán tài chính trở lên nhằm bỏ ngoài sổ kế toán tài sản, nguồn vốn, kinh phí của đơn vị kế toán. Như vậy, lĩnh vực kế toán cũng như hành vi phạm tội thuộc lĩnh vực này đã được Nhà nước sớm và luôn quan tâm. Hành vi phạm tội trong lĩnh vực kế toán đã được quy định trong các văn bản có hiệu lực pháp lý ngày càng cao hơn (từ Nghị định đến Pháp lệnh rồi đến BLHS).
Đồng thời, hành vi phạm tội này cũng được quy định ngày càng cụ thể, chi tiết hơn (từ được quy định ghép, không có tội danh riêng trong Pháp lệnh năm 1970, trong BLHS năm 1985 và trong BLHS năm 1999 đến được quy định thành tội độc lập với nội dung mô tả chi tiết về từng loại hành vi phạm tội trong BLHS 2015). Sở dĩ “kế toán” cũng như tội phạm thuộc lĩnh vực này được Nhà nước quan tâm là do ý nghĩa quan trọng của kế toán cũng như tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm thuộc lĩnh vực này. Cụ thể: Kế toán là công cụ quản lý, giám sát chặt chẽ mọi hoạt động kinh tế tài chính, cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, trung thực, công khai, minh bạch, đáp ứng yêu cầu tổ chức, quản lý điều hành của Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân. Hoạt động của kế toán cần thiết ở tất cả các cơ quan từ Trung ương đến địa phương, ở tất cả các đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp thuộc mọi loại hình, mọi quy mô.
Đối với Nhà nước, yêu cầu đặt ra là phải phản ánh cho được, kiểm kê, kiểm soát chặt chẽ toàn bộ ngân quỹ nhà nước và tài sản quốc gia ở mọi thời điểm và sự vận động của nó. Kế toán là công cụ hữu hiệu ghi nhận, xử lý và cung cấp thông tin về toàn bộ tình hình và sự vận động của các nguồn tài chính, tài sản quốc gia và thông qua đó để kiểm tra, kiểm soát được các năng lực thực sự, biến động, chuyển dịch của tài sản quốc gia, ngân quỹ nhà nước, giúp Nhà nước đưa ra các quyết định kinh tế, những biện pháp quản lý kinh tế - tài chính hữu hiệu.2 2 Xem: Đặng Văn Thanh (2020), Vai trò, trách nhiệm của kế toán, kiểm toán trong lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia, Tạp chí tài chính kỳ 1 tháng 4/2020 số 726, tr. 9 Đối với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, kế toán là cung cấp thông tin giúp cho các nhà quản lý, các nhà kinh doanh có cái nhìn toàn diện về tình hình kinh tế, tài chính và hoạt động của đơn vị để từ đó lựa chọn đưa ra những quyết định kịp thời, chuẩn xác về quản lý, đầu tư kinh doanh và định hướng phát triển. Kế toán không chỉ có chức năng phản ánh và kiểm soát trong nội bộ mà còn phải thỏa mãn những đòi hỏi của các đối tác.
Trong bài viết đăng trên Tạp chí Tài chính, PGS. Đặng Văn Thanh - Chủ tịch Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam đã khẳng định: “Sự lành mạnh của nền tài chính quốc gia, của hoạt động kinh tế, của quản trị kinh doanh phụ thuộc vào chất lượng thông tin kinh tế - tài chính do kế toán cung cấp, kiểm toán đánh giá và đưa ra ý kiến”3. Từ vai trò ý nghĩa vô cùng quan trọng của kế toán, xuất hiện đòi hỏi thông tin số liệu và đánh giá mà kế toán cung cấp phải luôn kịp thời, sát thực.