Luận án Tiến sĩ: Nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự Việt Nam

Nghiên cứu luận án tiến sĩ phân tích sâu về nguyên tắc pháp chế trong hệ thống luật hình sự Việt Nam. Tài liệu làm rõ bản chất, ý nghĩa và vai trò điều chỉnh

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật hình sự

Người đăng

Ẩn danh

2014

212
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự Việt Nam

Nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự Việt Nam là nguyên tắc hiến định quan trọng. Nguyên tắc này yêu cầu mọi hoạt động liên quan đến tội phạm và hình phạt phải dựa trên cơ sở luật. Pháp chế hình sự đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và thống nhất trong việc áp dụng pháp luật. Nguồn gốc của nguyên tắc này xuất phát từ tư tưởng tiến bộ "Nullum crimen, nulla poena sine lege". Tư tưởng này có nghĩa không có tội phạm, không có hình phạt mà không có luật định trước. Nguyên tắc pháp chế có vai trò then chốt trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nó bảo vệ quyền con người, quyền công dân trước nguy cơ lạm quyền. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật hình sự. Không ai được đứng trên hoặc ngoài pháp luật. Nguyên tắc này được cụ thể hóa thành các quy định chi tiết trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành. Việc nghiên cứu nguyên tắc pháp chế có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn.

1.1. Khái niệm và nội dung cơ bản của nguyên tắc pháp chế

Nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự là nguyên tắc nền tảng. Nguyên tắc này yêu cầu toàn bộ hoạt động hình sự phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Nội dung cơ bản bao gồm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất. Tính hợp hiến đảm bảo mọi quy định hình sự phù hợp với Hiến pháp. Tính hợp pháp yêu cầu mọi hoạt động phải có cơ sở pháp lý rõ ràng. Tính thống nhất đảm bảo việc áp dụng pháp luật đồng bộ trên toàn quốc. Pháp chế còn thể hiện qua tính tối cao của Hiến pháp. Mọi đạo luật phải phù hợp với Hiến pháp. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.

1.2. Nguồn gốc và ý nghĩa của nguyên tắc pháp chế hình sự

Nguồn gốc nguyên tắc pháp chế hình sự bắt nguồn từ lịch sử tư pháp thế giới. Tư tưởng "Nullum crimen, nulla poena sine lege" ra đời từ thời kỳ Khai sáng. Tư tưởng này được V. Lênin phát triển với thuộc tính thống nhất của pháp chế. Ý nghĩa của nguyên tắc pháp chế rất đa chiều. Nguyên tắc này cụ thể hóa nguyên tắc hiến định trong Hiến pháp. Nó phù hợp với Tuyên ngôn nhân quyền Liên hợp quốc năm 1948. Nguyên tắc pháp chế bảo đảm công bằng xã hội. Nó khắc phục tư tưởng cục bộ, địa phương chủ nghĩa. Đây là nền tảng xây dựng nhà nước pháp quyền hiện đại.

II. Phân tích biểu hiện nguyên tắc pháp chế trong Bộ luật hình sự

Nguyên tắc pháp chế được thể hiện rõ nét trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành. Các biểu hiện này tập trung vào bốn nhóm quy định chính. Nhóm thứ nhất là quy định về đạo luật hình sự. Nhóm này bao gồm hiệu lực thời gian, hiệu lực không gian và nguyên tắc không hồi tố. Nhóm thứ hai là quy định về tội phạm. BLHS định rõ khái niệm tội phạm và các yếu tố cấu thành tội phạm. Nhóm thứ ba là quy định về hình phạt và biện pháp tư pháp. Hệ thống hình phạt được quy định cụ thể, rõ ràng. Nhóm thứ tư là quy định về miễn, giảm trách nhiệm hình sự. Các quy định này đảm bảo tính cụ thể, minh bạch của pháp luật hình sự. Việc giải thích luật hình sự phải thống nhất, chính xác. Không được giải thích theo hướng bất lợi cho người phạm tội. Đây là sự thể hiện rõ nét nhất nguyên tắc pháp chế. Mọi quy định phải được áp dụng công bằng, bình đẳng.

2.1. Biểu hiện nguyên tắc pháp chế trong quy định về đạo luật hình sự

Quy định về đạo luật hình sự thể hiện nguyên tắc pháp chế rõ ràng. Hiệu lực thời gian của BLHS được quy định cụ thể tại Điều 6, 7. Nguyên tắc không hồi tố là biểu hiện quan trọng nhất. Luật hình sự không được áp dụng hồi tố theo hướng bất lợi cho người phạm tội. Hiệu lực không gian quy định BLHS áp dụng trên lãnh thổ Việt Nam. Các quy định này đảm bảo quyền lợi hợp pháp của công dân. Mọi người được biết trước hậu quả pháp lý của hành vi. Đây là bảo đảm cần thiết chống lại sự tùy tiện trong xét xử.

2.2. Biểu hiện nguyên tắc pháp chế trong quy định về tội phạm và hình phạt

Quy định về tội phạm thể hiện nguyên tắc pháp chế qua tính cụ thể. BLHS quy định rõ khái niệm tội phạm tại Điều 8. Các yếu tố cấu thành tội phạm được định nghĩa chi tiết. Tội phạm phải do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện. Quy định về hình phạt đảm bảo tính tương xứng với tính chất nguy hiểm. Hệ thống hình phạt chính và hình phạt bổ sung được quy định rõ ràng. Mức hình phạt có khung hình phạt cụ thể cho từng tội danh. Điều này ngăn chặn việc áp dụng hình phạt tùy tiện,任意.

III. Giải pháp hoàn thiện nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự

Việc hoàn thiện nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự là yêu cầu cấp thiết. Đất nước đang trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết số 48-NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW đã đề ra chiến lược cải cách. Giải pháp đầu tiên là hoàn thiện các quy định trong BLHS. Cần cụ thể hóa các quy định còn chung chung, thiếu rõ ràng. Tình trạng luật khung, luật ống cần được khắc phục triệt để. Giải pháp thứ hai là nâng cao năng lực thực thi pháp luật. Đội ngũ cán bộ tư pháp cần được đào tạo chuyên sâu. Giải pháp thứ ba là tăng cường giám sát tư pháp. Viện kiểm sát và Tòa án phải thực hiện tốt chức năng giám sát. Giải pháp thứ tư là đẩy mạnh giáo dục pháp luật trong xã hội. Mọi công dân cần hiểu biết pháp luật hình sự. Sự tham gia của nhân dân là bảo đảm quan trọng cho pháp chế.

3.1. Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật hình sự

Hoàn thiện quy định BLHS là giải pháp nền tảng. Cần rà soát toàn bộ các quy định còn thiếu cụ thể. Các điều luật cần được sửa đổi theo hướng rõ ràng, dễ hiểu. Tình trạng luật khung cần được hạn chế tối đa. Khung hình phạt cần được thu hẹp để tăng tính cụ thể. Cần bổ sung các quy định về giải thích luật hình sự. Việc giải thích phải thống nhất trên toàn quốc. Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành nhiều án lệ hơn. Án lệ giúp hướng dẫn áp dụng pháp luật thống nhất. Cần nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế để hoàn thiện hệ thống.

3.2. Giải pháp bảo đảm thực thi nguyên tắc pháp chế

Bảo đảm thực thi nguyên tắc pháp chế cần nhiều giải pháp đồng bộ. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ tư pháp là then chốt. Cần đào tạo chuyên sâu về lý luận pháp chế hình sự. Tăng cường kỷ luật công vụ trong hoạt động tư pháp. Xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp chế. Nâng cao hiệu quả giám sát của Viện kiểm sát nhân dân. Tòa án phải độc lập trong xét xử theo pháp luật. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tư pháp. Xây dựng cơ sở dữ liệu pháp luật hình sự dùng chung. Mọi quyết định tư pháp phải được công khai, minh bạch.

IV. Kết luận và ứng dụng nguyên tắc pháp chế trong thực tiễn

Nguyên tắc pháp chế có vai trò không thể thay thế trong luật hình sự Việt Nam. Đây là nguyên tắc nền tảng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nguyên tắc này bảo vệ quyền con người, quyền công dân hiệu quả. Nó ngăn chặn nguy cơ lạm dụng quyền lực trong hoạt động tư pháp. Thực tiễn cho thấy nguyên tắc pháp chế cần được quán triệt sâu sắc. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuân thủ pháp luật. Không ai được đứng trên hoặc ngoài pháp luật. Tính thống nhất của pháp chế là cơ sở cho kỷ cương xã hội. Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, nguyên tắc pháp chế càng quan trọng. Việt Nam cần tiếp thu tinh hoa pháp luật nhân loại. Đồng thời phải giữ vững bản sắc pháp luật dân tộc. Nguyên tắc pháp chế là cầu nối giữa lý luận và thực tiễn. Nghiên cứu nguyên tắc này giúp hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự. Đóng góp vào sự nghiệp cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền.

4.1. Ý nghĩa lý luận của nguyên tắc pháp chế hình sự

Nghiên cứu nguyên tắc pháp chế có ý nghĩa lý luận sâu sắc. Nó bổ sung hệ thống lý luận về pháp luật hình sự Việt Nam. Nguyên tắc này làm sáng tỏ mối quan hệ giữa pháp luật và pháp chế. Pháp chế là khâu nối liền giữa pháp luật và trật tự pháp luật. Nghiên cứu giúp hiểu rõ thuộc tính thống nhất của pháp chế. Tính thống nhất thể hiện qua sự bình đẳng trước pháp luật. Nguyên tắc pháp chế phù hợp với xu thế tiến bộ của nhân loại. Nó kế thừa tư tưởng pháp lý từ thời kỳ Khai sáng. Nghiên cứu so sánh giúp rút kinh nghiệm quốc tế. Đóng góp vào khoa học pháp lý hình sự Việt Nam.

4.2. Giá trị thực tiễn của nguyên tắc pháp chế hình sự

Nguyên tắc pháp chế có giá trị thực tiễn to lớn. Nó hướng dẫn hoạt động lập pháp hình sự hiệu quả. Các nhà làm luật phải tuân thủ nguyên tắc khi xây dựng BLHS. Nguyên tắc này hướng dẫn hoạt động tư pháp hình sự. Thẩm phán phải xét xử dựa trên cơ sở luật định. Nó bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người bị buộc tội. Mọi người được biết trước hậu quả pháp lý của hành vi. Nguyên tắc pháp chế phục vụ cải cách tư pháp hiện nay. Nó là công cụ chống tham nhũng, lạm quyền. Góp phần xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT ĐOÀN NGỌC XUÂN NGUYÊN TẮC PHÁP CHẾ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM Chuyên ngành : Luật hình sự Mã số 62 38 40 01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: 1. Trần Thị Quang Vinh HÀ NỘI - 2014 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu nêu trong luận án là trung thực. Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. TÁC GIẢ LUẬN ÁN Đoàn Ngọc Xuân MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC 12 PHÁP CHẾ TRONG LUẬT HÌNH SỰ 1. Cội nguồn xuất hiện và ý nghĩa của những tư tưởng pháp lý tiến 12 bộ về pháp chế "Nullum crimen, nulla poena sine lege" trong lịch sử tư pháp hình sự thế giới 1. Khái niệm, nội dung và ý nghĩa của nguyên tắc pháp chế trong 18 luật hình sự Việt Nam 1. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của những tư tưởng về 49 nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự Việt Nam 1. Những nét cơ bản về nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự một 56 số nước trên thế giới Chương 2: NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA NGUYÊN TẮC PHÁP 70 CHẾ TRONG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH 2. Những biểu hiện của nguyên tắc pháp chế trong các quy định 70 của Bộ luật hình sự Việt Nam về đạo luật hình sự 2. Những biểu hiện của nguyên tắc pháp chế trong các quy định 81 của Bộ luật hình sự Việt Nam về tội phạm 2. Những biểu hiện của nguyên tắc pháp chế trong các quy định 103 của Bộ luật hình sự Việt Nam về hình phạt và biện pháp tư pháp 2. Những biểu hiện của nguyên tắc pháp chế trong các quy định 127 của Bộ luật hình sự Việt Nam về một số biện pháp miễn, giảm trách nhiệm hình sự và hình phạt Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ BẢO ĐẢM 140 CHO VIỆC TUÂN THỦ NGUYÊN TẮC PHÁP CHẾ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 3. Sự cần thiết phải hoàn thiện và tuân thủ nghiêm chỉnh nguyên 140 tắc pháp chế trong luật hình sự Việt Nam của giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay 3. Giải pháp về hoàn thiện các quy định có liên quan đến nguyên 148 tắc pháp chế trong Bộ luật hình sự Việt Nam 3. Các giải pháp cơ bản khác bảo đảm cho việc tuân thủ nguyên tắc 174 pháp chế trong luật hình sự Việt Nam KẾT LUẬN 188 NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 191 LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 192 DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu Tên bảng Trang bảng 2.1 Cấu trúc BLHS một số nước ASEAN (Thái Lan, Malaixia, 65 Singapo, Indonexia và Philippins) MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm vừa qua, thực hiện các nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 "Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới", Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 "Về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020", Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị "Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020", công cuộc cải cách tư pháp đã được các cấp ủy, tổ chức đảng lãnh đạo tổ chức thực hiện với quyết tâm cao, đạt được nhiều kết quả. Nhận thức và sự quan tâm của toàn xã hội đối với công tác tư pháp có nhiều thay đổi theo hướng tích cực, cuộc đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm đã được nâng lên một bước, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích cơ bản của tổ chức, công dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011) tiếp tục nhấn mạnh: Nâng cao năng lực quản lý và điều hành của Nhà nước theo pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật, kỷ cương. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách để vận hành có hiệu quả nền kinh tế và thực hiện tốt các cam kết quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Hoàn thiện chính sách, pháp luật về hình sự, đề cao tính độc lập, khách quan, tuân thủ pháp luật của từng cơ quan và chức danh tư pháp [33, tr. Trong cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, nói chung về cơ bản, các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án luôn luôn tuân thủ các nguyên tắc của luật hình sự nói chung, nguyên tắc pháp chế nói riêng, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều được xử lý nghiêm minh, kịp thời, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội. Song, 1 thực tiễn khoa học pháp lý và thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cho thấy, trong quá trình hình thành và phát triển, các nguyên tắc của luật hình sự Việt Nam nói chung, nguyên tắc pháp chế nói riêng và những biểu hiện của nó trong Bộ luật hình sự (BLHS) đã từng bước được hoàn thiện, làm cơ sở vững chắc góp phần xử lý khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật đối với mọi trường hợp phạm tội và người phạm tội, qua đó bảo vệ hữu hiệu các lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức và của công dân, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và pháp chế. Tuy nhiên, cũng trong thực tiễn xây dựng và áp dụng cho thấy, nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự Việt Nam khi được thi hành trong thực tế đã chưa được tuân thủ một cách nghiêm túc, vẫn còn để xảy ra nhiều sai sót trong quá trình xây dựng và áp dụng nguyên tắc này, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, gây bức xúc trong nhân dân; mặt khác, cũng đã đặt ra nhiều vấn đề tồn tại, vướng mắc đòi hỏi khoa học luật hình sự nước ta phải nghiên cứu giải quyết thấu đáo trên bình diện này như: cội nguồn xuất hiện của tư tưởng "Nullum crimen, nulla poena sine lege" (không có tội phạm, không có hình phạt nếu không có luật quy định) trong lịch sử tư pháp hình sự thế giới; khái niệm nguyên tắc pháp chế, nội dung và ý nghĩa của nguyên tắc pháp chế, cũng như sự thể hiện nội dung nguyên tắc này trong xây dựng từng quy phạm, chế định của luật hình sự hay trong thực tiễn xét xử. Trong khi đó, xét về mặt lý luận, xung quanh những vấn đề này còn nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Mặt khác, xét về mặt lập pháp hình sự, việc quy định các nguyên tắc cơ bản nói chung, nguyên tắc pháp chế nói riêng trong luật hình sự và sự thể hiện nó cũng chưa thực sự đầy đủ và đồng bộ với các quy phạm pháp luật hình sự (PLHS) khác, từ đó, dẫn đến hệ quả là việc áp dụng PLHS chưa đúng, chưa chính xác, nhầm lẫn, qua đó làm giảm hiệu quả công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, cũng như yêu cầu tôn trọng và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân trong xã hội. Vì những lý do đó, việc nghiên cứu đề tài "Nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự Việt Nam" mang tính cấp thiết, không những về mặt lý 2 luận, mà còn là đòi hỏi của thực tiễn hiện nay. Đây còn là lý do lựa chọn đề tài luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh. Tình hình nghiên cứu đề tài Nguyên tắc pháp chế là một vấn đề quan trọng và nhạy cảm đã được các nhà khoa học pháp lý hình sự ở trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Trước hết, ở Liên Xô cũ có công trình "Về các nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự Liên Xô" (Nxb Sách pháp lý, Maxcơva, 1960) của tác giả Nhikifôrôv B.; bài viết "Về các nguyên tắc của luật hình sự xã hội chủ nghĩa" (Tạp chí Pháp luật, số 4/1969) của tác giả A. Xaratôv; bài viết "Sự hình thành các nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự toàn Liên bang Xô viết" (Tạp chí Tư tưởng Xô viết, số 20(10)/1972) của tác giả Bôlđưev K.; bài viết "Về khái niệm và bản chất của các nguyên tắc của luật hình sự" (Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 6/1973) của tác giả Melesko Iu. B; công trình "Những nguyên tắc của luật hình sự Xô viết" (Nxb Khoa học, Mátxcơva, 1988) của GS. Theo đó, các công trình nói trên đã đề cập những nguyên tắc của luật hình sự nói chung, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN) nói riêng. Đối với nguyên tắc pháp chế XHCN trong luật hình sự Liên Xô cũ, các tác giả đã bước đầu làm rõ khái niệm pháp chế XHCN và một số nội dung cơ bản của nguyên tắc này, cũng như sự thể hiện của chúng trong PLHS Liên Xô cũ. Ngoài ra, tác giả X. Công trình này tương đối toàn diện khi phân tích pháp luật có một sức mạnh vô hình ghê gớm, pháp luật là một cơ chế điều chỉnh tinh vi, phức tạp, mối quan hệ giữa pháp luật và pháp chế, giá trị của pháp luật khi phục vụ con người, phục vụ nhân dân. Trong mối quan hệ giữa pháp luật và pháp chế, có thể nhận thấy, pháp chế chính là đòi hỏi quan trọng của pháp luật. "Pháp chế như là tính thiêng liêng của pháp luật, tính bền vững của các quy phạm pháp lý. Pháp chế có mối quan hệ chặt chẽ với pháp luật, với bình đẳng và với sự tuân thủ 3 luật pháp, không một ai, không một người nào có bất kỳ một đặc quyền nào trước pháp luật. Ngoài ra, ở một số nước khác, nguyên tắc pháp chế cũng được ghi nhận trong một số sách báo pháp lý, chẳng hạn tác giả Ashworth (người Anh) có cuốn sách "Principles of Criminal Law" (Các nguyên tắc của luật hình sự) (Nxb Oxford University Press, Inc. Công trình đề cập khái quát đến các vấn đề nguyên tắc và chính sách liên quan đến sự hình thành của PLHS, của các nguyên tắc và việc áp dụng của các cơ quan lập pháp, Tòa án, cơ quan cải cách pháp luật. Hay tác giả Jerome Hall (người Anh) có cuốn sách "General Principles Of Criminal Law" (Các nguyên tắc chung của luật hình sự) (Nxb Bobbs Merrill Company, 1947, tái bản năm 1960 và 2005).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ