Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 1. Trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - khái niệm, đặc điểm, cơ sở, các biện pháp cưỡng chế và trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp đặc biệt 1. Khái niệm, đặc điểm, cơ sở, các biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự và trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp đặc biệt 1. Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm hình sự Theo đại từ điển tiếng Việt, thuật ngữ trách nhiệm đƣợc hiểu là: “điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình” [47, tr.
Trong thực tiễn đời sống xã hội chính trị và pháp lí, thuật ngữ “trách nhiệm” thƣờng đƣợc hiểu theo hai nghĩa. Thứ nhất, trách nhiệm là nghĩa vụ, bổn phận của một ngƣời trƣớc ngƣời khác, trƣớc xã hội hoặc nhà nƣớc. Ví dụ: trách nhiệm của công dân trong việc bảo vệ môi trƣờng sống, trách nhiệm của bố mẹ trong chăm sóc, bảo vệ và giáo dục con cái… Thứ hai, trách nhiệm là hậu quả bất lợi mà một ngƣời phải gánh chịu trƣớc ngƣời khác, trƣớc xã hội hoặc Nhà nƣớc do đã có hành vi vi phạm nghĩa vụ, bổn phận nào đó [19, tr. Trách nhiệm pháp lí trong đó có trách nhiệm hình sự đƣợc dùng theo nghĩa thứ hai.
Hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau trong khoa học luật hình sự về khái niệm “trách nhiệm hình sự”, có thể kể đến một vài quan điểm nhƣ sau: Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lí, là trách nhiệm của ngƣời khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà ngƣời đó đã thực hiện [25, tr.14]; 8 z Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lí của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ ngƣời đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trƣớc Nhà nƣớc [45, tr.41]; Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lí, bao gồm: nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cƣỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp tƣ pháp) và chịu mang án tích [18, tr.21]; Trách nhiệm hình sự là sự phản ứng của Nhà nƣớc đối với ngƣời thực hiện tội phạm, thể hiện tập trung ở sự áp dụng hình phạt với chủ thể đó [40, tr. Các quan điểm đó tuy có sự khác nhau về một số nội dung nhƣ thời điểm bắt đầu trách nhiệm hình sự, các yếu tố của trách nhiệm hình sự… nhƣng tựu chung lại, đa số các quan điểm đều phản ánh thống nhất một số đặc điểm của trách nhiệm hình sự là: Thứ nhất, trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lí của việc thực hiện hành vi phạm tội. Hậu quả này chỉ phát sinh khi có ngƣời thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự cấm hoặc không thực hiện những nghĩa vụ mà pháp luật hình sự yêu cầu phải thực hiện. Điều này có nghĩa, không có việc thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm thì không thể có trách nhiệm hình sự.
Trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự, để quy kết hành vi nào đó là tội phạm và buộc ngƣời thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự, ngƣời áp dụng pháp luật phải trên cơ sở đối chiếu hành vi đã thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đƣợc quy định trong Bộ luật hình sự, chứ không đƣợc áp đặt theo ý thức chủ quan, bất chấp những quy định của pháp luật. Nếu trong quá trình áp dụng pháp luật, ngƣời áp dụng pháp luật xác định đƣợc hành vi của một ngƣời thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm 9 z đƣợc Bộ luật hình sự quy định thì mới có thể buộc ngƣời thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự [19, tr. Thứ hai, trách nhiệm hình sự chỉ có thể được xác định bằng trình tự đặc biệt theo quy định của pháp luật mà các cơ quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ phải thực hiện. Việc xác định các căn cứ để có thể áp dụng trách nhiệm hình sự là kết quả của cả một quá trình điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tố tụng có thẩm quyền.
Quá trình này đƣợc thực hiện bởi các cơ quan có thẩm quyền và phải tuân theo các quy định của luật Tố tụng hình sự về trình tự, thủ tục… Song, cần lƣu ý rằng, “quá trình giải quyết vụ án cùng với việc áp dụng các biện pháp đó của cơ quan tiến hành tố tụng không phải là quá trình thực hiện trách nhiệm hình sự mà chỉ là quá trình xác định những điều kiện cần và đủ” [19, tr.31] để có thể truy tố ngƣời phạm tội và buộc tội họ trƣớc Tòa án. Thứ ba, trách nhiệm hình sự được biểu hiện tập trung nhất ở việc người phạm tội phải chịu biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước là hình phạt. Trách nhiệm hình sự bao gồm hai nội dung cơ bản là ngƣời phạm tội phải bị kết tội (bởi cơ quan có thẩm quyền duy nhất là Tòa án) và ngƣời phạm tội phải chịu biện pháp cƣỡng chế của TNHS bao gồm hình phạt và các biện pháp tƣ pháp. Trong đó, hình phạt là biện pháp cƣỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nƣớc nhằm tƣớc bỏ, hạn chế quyền, lợi ích của ngƣời phạm tội.
“Trách nhiệm hình sự có nội hàm rộng hơn hình phạt. Hình phạt chỉ là một dạng đặc trưng, điển hình và phổ biến do Tòa án áp dụng trên thực tế của trách nhiệm hình sự” [46, tr. Trong nhiều trƣờng hợp, ngƣời phạm tội đƣợc miễn hình phạt. Điều đó không đồng nghĩa với việc ngƣời phạm tội không có trách nhiệm hình sự, bởi họ vẫn bị Tòa án kết tội, mà chỉ là ngƣời phạm tội trong trƣờng hợp đó không phải chịu biện pháp cƣỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nƣớc do đã thực hiện hành vi phạm tội mà thôi.
10 z Thứ tư, trách nhiệm hình sự mà người phạm tội phải gánh chịu là trách nhiệm trước nhà nước chứ không phải với ngƣời mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại. Trách nhiệm hình sự chỉ đƣợc thực hiện trong phạm vi của quan hệ pháp luật hình sự giữa hai bên với tính chất là hai chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự, đó là Nhà nƣớc và ngƣời phạm tội. Trong đó “Nhà nước, mà đại diện cho Nhà nước là các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền – có quyền khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử người phạm tội” [46, tr.225] có nghĩa vụ chỉ đƣợc xử lí ngƣời phạm tội dựa trên các căn cứ và trong các giới hạn của pháp luật quy định: Ngƣời phạm tội có nghĩa vụ phải chịu sự tƣớc bỏ hoặc hạn chế quyền, tự do nhất định, nhƣng đồng thời họ cũng có quyền yêu cầu sự tuân thủ nghiêm minh, đầy đủ và thực hiện đúng quy định của pháp luật từ phía nhà nƣớc, từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền và từ các cán bộ thực thi pháp luật [46, tr. Thứ năm, trách nhiệm hình sự phải được phản ánh trong bản án hay quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Nhƣ đã trình bày ở nội dung trên, căn cứ vào kết quả điều tra và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án sẽ ra phán quyết về việc có kết tội ngƣời bị truy tố hay không. Nếu có đủ cơ sở, Tòa án sẽ ra bản án kết tội đối với ngƣời đó. Bản án kết tội của Tòa án chính là sự thể hiện của trách nhiệm hình sự áp dụng đối với ngƣời phạm tội. Việc thực hiện trách nhiệm hình sự từ phía nhà nƣớc và việc phải chịu trách nhiệm hình sự từ phía ngƣời phạm tội chỉ bắt đầu khi bản án kết tội của Tòa án đối với ngƣời bị kết tội có hiệu lực pháp luật.
Nhƣ vậy, từ các phân tích trên, tác giả xin đƣa ra khái niệm trách nhiệm hình sự nhƣ sau: trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lí, là hậu quả pháp lí bất lợi mà người phạm tội phải gánh chịu trước nhà nước do việc 11 z người đó thực hiện tội phạm, được thể hiện ở việc người phạm tội phải chịu bị kết tội bởi bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án và phải chịu các biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (bao gồm hình phạt và các biện pháp tư pháp). Cơ sở của trách nhiệm hình sự Cơ sở của TNHS là một trong những vấn đề quan trọng của TNHS. Cơ sở của TNHS bao gồm cơ sở triết học của TNHS, cơ sở pháp lí của TNHS và cơ sở thực tế của TNHS. Trong đó, vấn đề cơ sở triết học của TNHS nhằm giải quyết câu hỏi “dựa trên cơ sở nào mà xã hội có thể buộc con người phải chịu TNHS về hành vi của họ?” [16, tr.
Còn vấn đề cơ sở pháp lí của TNHS nhằm trả lời câu hỏi “căn cứ vào đâu mà Nhà nước có thể buộc con người phải chịu TNHS về hành vi của mình” [16, tr. Về cơ sở triết học của TNHS: xã hội có thể buộc con ngƣời phải chịu TNHS về hành vi của họ là bởi hành vi của con ngƣời vừa có tính tất yếu vừa có tính tự do. Tính tất yếu của hành vi của con ngƣời thể hiện ở chỗ hành vi đƣợc hình thành không phải một cách ngẫu nhiên, tách rời những điều kiện xã hội mà đƣợc hình thành một cách có quy luật. Nó là kết quả của sự tác động qua lại giữa những điều kiện xã hội và con ngƣời.
Nhƣng, điều đó không có nghĩa hành vi của con ngƣời trong một tình huống cụ thể là tất yếu, là duy nhất, là không thể tránh đƣợc. Mọi xử sự của con ngƣời đều chịu sự chi phối của quy luật khách quan nhƣng con ngƣời, nhờ hoạt động ý thức, có khả năng nhận thức đƣợc quy luật là lợi dụng quy luật thực hiện mục đích của mình. Đó là sự tự do của con ngƣời [16, tr. Lí giải cụ thể hơn: Các nguyên nhân bên ngoài tác động đến con ngƣời không phải một cách máy móc mà phải thông qua sự suy xét (lí trí) và sự quyết định (ý chí) của họ.