Chương 1: Những van đề lý luận về thụ lý vụ án dân sự. 4 Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về thụ lý vụ án dân sự. Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về thụ lý vụ án dân sự tại các Tòa án trên dia ban tỉnh Điện Biên và kiên nghị. CHUONG 1 NHUNG VAN DE LY LUAN VE THU LY VU AN DAN SU 1.
Khai niệm, đặc điểm va ý nghĩa của thụ lý vụ án dân sự 1. Khái niệm thụ lý vụ an dân sự Thuật ngữ VADS lần đầu tiên được xuất hiện trong BLTTDS năm 2004, còn vào những năm trước đó, chưa có văn bản pháp luật TTDS nào định nghĩa về van đề này. Tuy nhiên, thuật ngữ vụ án dân sự (VADS) được đề cập trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án dân sự năm 1989 (PLTTGQVADS). Theo đó, VADS bao gồm những tranh chấp và những việc không có tranh chấp về dân sự và hôn nhân gia đình thuộc thấm quyên giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự như: Tranh chấp về quyền sở hữu, hợp đồng, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hoặc những tranh chấp khác, việc xác định công dân đã chết hoặc mất tích.
Năm 2004 BLTTDS ra đời, Điều 1 quy định: “Bộ luật t6 tung dân sự quy định những nguyên tac cơ bản trong tô tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện dé Toà án giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là vụ án dan sự) và trình tự, thủ tục yêu câu để Toà án giải quyết các việc về yêu cau dân sự, hôn nhân va gia đình, kinh doanh, thương mai, lao động (sau đây gọi chung là việc dan sự); trình tự, thủ tục giải quyết vụ an dân sự, việc dan sự (sau đây gọi chung là vụ việc dan sự) tại Toà án”. Như vậy, lần đầu tiên thuật ngữ VADS đã được BLTTDS ghi nhận chính thức. Khái niệm vụ việc dân sự đã thay thế cho khái nệm VADS trước đây. Vụ việc dân sự bao gồm VADS và việc dân sự.
Trong đó, vụ an dân sự là việc có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động được quy định thuộc thâm quyên giải quyết của Tòa án theo thủ tục TTDS. Việc dân sự là việc các cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp nhưng yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tô chức khác; yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động được pháp luật quy định thuộc thâm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục TTDS. Như vậy, vụ án dân sự là những tranh chap phát sinh từ những quan hệ pháp luật dan sự dân sự, hôn nhán và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động được 6 Tòa án thụ lý, giải quyết theo thủ tục TTDS theo don khởi kiện của các cá nhân, cơ quan, tô chức nhằm yêu câu Tòa án bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của minh, của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước. Thụ ly VADS là hoạt động của cơ quan có thâm quyền giải quyết các VADS.
Khái niệm “thụ lý? VADS có mối quan hệ biện chứng với quyền khởi kiện của chủ thé pháp luật. Có thé nói, chỉ khi quyền khởi kiện của chủ thé pháp luật được thực thi thì mới có hoạt động thụ lý VADS của các cơ quan tiễn hành tố tung. Và ngược lại, chỉ khi hoạt động thụ lý được thực hiện thì quyền khởi kiện của chủ thể pháp luật mới được thực hiện và quyên lợi hợp pháp của chủ thể mới có khả năng được đảm bảo. Xét về mặt thuật ngữ, theo từ dién tiếng Việt “Thu lý là tiếp nhận giải quyết vụ kiện”2.
Như vậy, theo nghĩa chung nhất thì thụ lý VADS là việc Toà án bắt đầu nhận trách nhiệm giải quyết VADS. Dưới góc độ pháp ly, theo Từ điển Luật học thì “Zhu lp vụ án là bắt dau tiếp nhận một vụ việc để xem xét giải quyết. Theo pháp luật t6 tung dan sự, thu ly vụ an là việc toà dân sự nhận don yêu cau của đương sự dé nghị xem xét, giải quyết một vụ việc dé bảo vệ quyên, lợi ich hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, tổ chức, cơ quan”3. Theo cách hiểu này thì thụ lý VADS là việc Toà án tiếp nhận đơn đề nghị của đương sự dé xem xét giải quyết.
Về khái thụ lý VADS cũng tôn tại các quan điểm khác nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng thụ ly vụ án dân sự “là hành vi to tung cua Toa an chap nhan don khởi kiện của đương sự và như vậy đã chính thức rằng buộc trách nhiệm của các chủ thể vào các quan hệ tô tụng. Việc thụ lý là bước khởi điểm làm phát sinh các quan hệ pháp luật to tụng dan sự. Mac dù vậy, nói một cách chính xác thì thu lý gom có nhiễu hành vi to tụng được diễn ra trong thời hạn nhất định, do đó nó được coi nhự là một giai đoạn to tụng nhở”.
Quan điểm thứ hai cho rằng “Thu ly vụ an dan sự là việc Toa an nhận đơn khởi kiện cua người khởi kiện và vào sô thụ ly vu ? Viện Ngôn ngữ học: Từ điển tiếng Việt, Nxb. Da Nẵng — Trung tâm Từ điển học, Hà Nội — Da Nẵng, tr. 3 Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp: Từ điển Luật học, Nxb. Từ điền Bách khoa —Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr 732.
4 Tống Công Cường, Luật tố tụng dân sự Việt Nam, nghiên cứu so sánh, NXB Dai học quốc gia TP. Hồ Chí Minh; tr 315. án dé giải quyét”>. Có thê thấy các quan điểm này đã nói lên một cách tương đối thống nhất nội dung cơ bản của khái niệm thụ lý vụ án dân sự, đó là việc chấp nhận đơn khởi kiện của đương sự để xem xét.
Tuy nhiên ở quan điểm thứ hai đã nêu được rõ ràng hoạt động cơ bản của việc thụ lý vụ án dân sự bao gồm nhận đơn và vào số thụ lý, cách tiếp cận này giúp người doc có thé nhìn nhận rõ hơn về nội dung của khái niệm thụ lý. Còn quan điểm thứ nhất tác giả mới chỉ đề cập đến việc Toà án chấp nhận đơn khởi kiện của đương sự nhưng mà chưa đề cập đến các hoạt động cơ bản của việc thụ lý vụ án dân sự. Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, Tòa án phải tiến hành thụ lý và giải quyết theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định các yêu cầu dân sự của các chủ thé có quyền. Thông thường, các chủ thé có quyền lựa chọn tòa án để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khi có mẫu thuẫn, tranh chấp phát sinh từ lĩnh vực dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toa án hoặc không có tranh chấp nhưng có yêu cầu Toà án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động, yêu cầu Toà án công nhận hoặc không công nhận quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình.
Theo quy định của BLTTDS, sau khi nhận được đơn khởi kiện hoặc đơn yêu cầu và các chứng cứ, tài liệu kèm theo thì Toà án phải vào số nhận đơn và xem xét trong thời hạn do pháp luật quy định. Tòa án sẽ phải kiểm tra tính đầy đủ và hợp pháp của hồ sơ khởi kiện xác định các điều kiện để thụ lý VADS như điều kiện về quyền khởi kiện của chủ thé; điều kiện về thâm quyền; điều kiện sự việc chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thâm quyền khác. Trong trường hợp thấy vụ án thuộc thâm quyền của mình thì Toà án phải thông báo cho người khởi kiện hoặc người yêu cầu biết để họ nộp tiền tạm ứng án phí (trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí ). Sau khi người khởi kiện nộp cho Toà án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí thì Toà án quyết định nhận giải quyết VADS và vào số thụ lý VADS.
Các hoạt động đó cua Toà án được gọi là trình tự, thủ tục thụ lý VADS. > Trường Dai học Luật Hà Nội (2012) Giáo trình Luật Tó tụng dân sự, NXB CAND, Hà Nội, tr 247. 8 Trong quá trình thụ lý VADS, Tòa án phải xác định quan hệ tranh chấp, yêu cầu dân sự cần giải quyết; xác định xác định tư cách đương sự như nguyên đơn, bị đơn, người có quyên lợi nghĩa vụ liên quan; xác định quy phạm pháp luật được áp dụng dé giải quyết vụ án. Day là những công việc rất quan trọng góp phan rất lớn vào việc giải quyết VADS được chính xác, đảm bảo việc bảo vệ quyền và lợi ích của các đương sự.
Thụ lý VADS là công việc đầu tiên của Toà án trong quá trình tố tụng. Nếu không có việc thụ lý vụ án thì Toà án sẽ không có các bước tiếp theo của quá trình tố tụng. Thụ lý VADS bao gồm 02 hoạt động cơ bản là nhận đơn khởi kiện, xem xét và vào số thụ lý vụ án. Các hoạt động này bao gồm nhiều công đoạn nhỏ như tiếp nhận đơn khởi kiện, kiểm tra nội dung đơn đã đầy đủ điều kiện luật định hay chưa, Toa án nhận những tai liệu chứng cứ ban đầu kèm theo đơn khởi kiện, thông báo về việc nộp tiền tạm ứng án phí và vào số thụ lý.
Như vậy, thời điểm Tòa án đã vào số thụ lý VADS là cơ sở pháp lý dé ràng buộc các chủ thê vào trong một mối quan hệ cụ thê được điều chỉnh bằng pháp luật TTDS. Trong mối quan hệ này, Toà án là chủ thể thực hiện quyền lực nhà nước thông qua việc thụ lý giải quyết tranh chấp và yêu cầu dân sự. Các quyết định của Toà án có tính chất bắt buộc đối với các bên. Hoạt động này làm phát sinh quyền và nghĩa vụ tố tụng của các chủ thể và đặt trách nhiệm giải quyết vụ án cho Toà án trong đúng thời hạn luật định.
Thời điểm thụ lý VADS cũng là thời điểm bắt đầu tính thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thâm.