Chương 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE NGHĨA VỤ CUA DUONG SU TRONG TO TUNG DAN SU 1. Khái niệm, đặc điểm nghĩa vụ của đương sự trong tố tung dân sự 1. Khái niệm nghĩa vụ của đương sự trong tô tung dân sự: Nghĩa vụ mà tiếng Anh và tiếng Pháp đều viết là “obligation” có nguồn gốc từ danh từ “obligatio” của tiếng Latin. Đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về nghĩa vụ như: “Nghĩa vụ là một QHPL được xác lập giữa hai chủ thé theo đó một chủ thé (chủ thể quyển - người có quyên) có quyên yêu cau chủ thể kia (chủ thể nghĩa vụ - người có nghĩa vụ) phải hoàn thành một yêu câu nhất định" [7, tr.
Cuén từ điền pháp luật của Pháp mang tên “Petit Dictionnaire de Droit” định nghĩa: “Nghia vụ là một mối quan hệ pháp lý theo đó một người, được gọi là trái chủ, có thé sử dụng phương cách cưỡng chế của quyển lực công theo sự lựa chọn của anh ta đề buộc người khác, người thụ trải xác định, chuyển giao tài sản, làm hoặc không làm việc gì đó ”[42]. Điều thứ 676 Bộ luật dân sự (BLDS) Trung Kỳ 1936 và Điều thứ 641 BLDS Bắc Kỳ đã định nghĩa: Nghia vụ là cái dây liên lạc về luật thực tế hay luật thiên nhiên, bó buộc một hay nhiều người phải làm hay đừng làm gì đối với một hay nhiễu người nào đó. Còn "t6 tung" là việc thưa kiện (procès), "t6 tung pháp lý" là việc pháp luật quy định những thủ tục về cách tố tung (code deprocédure)" [9, tr. Sách Tiếng nói nôm na của Lê Gia, dẫn giải 30.000 từ tiếng Việt thường dùng có liên quan đến từ Hán Việt (NXB Văn Nghệ TP HCM, 1999) giải thích chi tiết hơn "7Ø tung" là vạch tội va đưa ra cửa công dé phân giải phải trái (trang 1027-1028).
Thời Pháp thuộc, người ta dùng hai chữ "6 tung" dé dich chữ "procédure" (tiếng Pháp) hay “procedure” (tiếng Anh) đều bắt nguồn từ chữ La tinh procedere nghĩa là tiền bước, gợi lên ý tưởng một đường lối phải theo dé đi đến chỗ thắng kiện như trong Bộ luật dân sự, thương sự tố tụng Bắc Kỳ năm 1921; Bộ dân sự, thương sự tô tụng Trung kỳ năm 1935. Dưới chế độ cũ ở miền Nam trước năm 1975, cũng có Bộ luật dân sự, thương sự tô tụng năm 1972. Hoặc theo Pothier, một luật gia tra danh cuối thé kỷ XIX đã định nghĩa: “T6 tung là hình thức phải theo để đệ don kiện, kháng biện, can thiệp, cứu xét, phán xử, thượng khống và thi hành án văn” [3 1]. Như chúng ta đã biết, nghĩa vụ dân sự của một người bắt đầu từ khi người đó tham vào một giao dịch dân sự và kết thúc khi người đó thực hiện xong nghĩa vụ của mình đối với người có quyên dân sự.
Nhưng khi có tranh chap vê quyên và nghĩa vu dân sự xảy ra va 7 được giải quyết tại Tòa án thì chỉ khi có phán quyết của Tòa án bằng một bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật thì mới xác định được đương sự nào có quyền dân sự và đương sự nào có nghĩa vụ dân sự. Lúc này, đương sự có nghĩa vụ dân sự mới phải thực hiện nghĩa vụ dân sự của minh. Nhung dé có được phán quyết của Tòa án một cách nhanh chóng, đúng dan thì việc giải quyết tranh chấp phải diễn ra trong một quá trình TTDS mà ở đó đương sự vừa có quyền lại vừa có NVTT. Chỉ khi có việc giải quyết VADS tại Tòa án thì khi đó đương sự mới có NVTT.
Việc giải quyết VADS được bắt đầu từ khi có đơn khởi kiện cho đến khi có phán quyết của Tòa án và đương sự phải thực hiện NVTT trong suốt quá trình giải quyết VADS. Trong các văn bản pháp luật tố tụng từ trước đến nay đều không có khái niệm NVTT của đương sự mặc dù thuật ngữ “nghĩa vụ tố tụng dân sự” hoặc “nghĩa vụ tố tụng” đã được sử dụng trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS) như Điều 20 quy định Quyền và nghĩa vụ tố tụng của các đương sự, Điều 23 quy định Quyền va nghĩa vụ tố tụng của người đại diện được uỷ quyền, Điều 27 quy định Sự kế thừa quyên và nghĩa vụ tố tụng, Điều 29 quy định Quyền và nghĩa vụ tố tụng của tổ chức xã hội. BLTTDS năm 2004 cũng sử dụng thuật ngữ “nghĩa vụ tổ tụng” tại các Điều như 57, 62, 67, 74, 189, 192, 406. Đến năm 2011, BLTTDS 2004 được sửa đổi, b6 sung cũng vẫn sử dụng thuật ngữ “nghia vu tổ tung”.
Trong các công trình nghiên cứu trước đây cũng như các giáo trình của các trường đại học hay PLTTDS của nước ngoài cũng sử dụng thuật ngữ này nhưng cũng không đưa ra khái niệm nghĩa vụ của đương sự trong TTDS hay NVTT. Tuy nhiên, từ các phân tích trên có thê đưa ra khái niệm nghĩa vụ của đương sự trong TTDS một cách khái quát như sau: Nghĩa vụ của đương sự trong tô tụng dân sự (gọi tắt là NVTT của đương sự) là việc bắt buộc đương sự phải thực hiện theo quy định của pháp luật to tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án nhằm bảo đảm cho việc giải quyết các vu việc dan sự được nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật. Đặc điểm nghĩa vụ của đương sự trong tô tung dân sự. - Nghĩa vụ tổ tụng của đương sự có mỗi liên hệ mật thiết với nhiệm vụ và quá trình giải quyết vụ án dân sự của Tòa án Các chủ thé của hoạt động TTDS rất đa dang, bao gồm: Các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng (TGTT), người liên quan.
Tùy thuộc vào mục đích TGTT và địa vị pháp ly của moi chủ thê mà môi liên hệ giữa các chủ thê này với nhau 8 trong quá trình giải quyết VADS tai Tòa án là khác nhau. Trong các chủ thé đó, đương sự là chủ thé có vai trò đặc biệt quan trong trong TTDS bởi lợi ích của họ là nguyên nhân và mục đích của quá trình tố tụng. Mối liên hệ giữa đương sự và Tòa án là rõ nét nhất trong quá trình TTDS. Khi đương sự thực hiện nghĩa vụ của mình là cơ sở làm phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể khác như Tòa án, Viện kiểm sát và những người TGTT khác.
Chăng hạn, về nguyên tắc đương sự có nghĩa vụ chính trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh cho yêu cầu của mình là hợp pháp và có căn cứ, Tòa án chỉ tiến hành việc thu thập chứng cứ trong một số trường hợp nhất định do pháp luật quy định khi mà đương sự không tự thu thập được và có yêu cầu. Trong quá trình giải quyết VADS, đa phần nghĩa vu của đương sự là phải thực hiện đối với yêu cầu của Tòa án. Sau khi có phán quyết của Tòa án cấp sơ thâm, nếu Viện kiểm sát muốn kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án thì có quyền yêu cầu đương sự cung cấp hồ sơ, tài liệu, chứng cứ để bảo đảm cho việc thực hiện thâm quyền kháng nghị thì đương sự sẽ có NVTT là cung cấp tài liệu, chứng cứ đối với Viện kiểm sát. Ở một số quốc gia như Cộng hòa Pháp thì đương sự còn có nghĩa vụ với nhau như nghĩa vụ phải gửi các tài liệu chứng cứ của mình cho phía bên kia nhưng PLTTDS Việt Nam lại không quy định các đương sự có nghĩa vụ gì với nhau mà chỉ quy định đương sự có nghĩa vụ đối với Tòa án trong việc giải quyết VADS.
Do đó, có thể nói rằng nghĩa vụ của đương sự trong TTDS Việt Nam là nghĩa vụ đối với Nhà nước, với Tòa án và trong một số trường hợp là đối với Viện kiêm sát và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác. Tòa án là chủ thê đặc biệt duy nhất được thực hiện quyền lực của Nhà nước dé giải quyết VADS. Dé thực hiện quyền lực của mình trong việc giải quyết VADS, Tòa án có quyền yêu cầu đương sự và những người TGTT khác phải thực hiện NVTT. Các đương sự có những nghĩa vụ chung mà bất cứ một đương sự nào khi đến Tòa án cũng phải thực hiện mặc dù không nhận được bat cứ một văn bản tố tụng tô tụng nào của Tòa án như nghĩa vụ tôn trọng Tòa án, nghĩa vụ chấp hành nội quy phiên tòa.
Có những nghĩa vụ mà đương sự phải thực hiện theo văn bản tố tụng của Tòa án như giấy triệu tập, thông báo, quyết định, bản án. buộc các đương sự phải thi hành như nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, nghĩa vụ chấp hành các thông báo, quyết định của Tòa án. Có những nghĩa vụ đương sự vừa có thê tự thực hiện vừa có thể phải thực hiện theo yêu cầu của Tòa án như nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Mỗi một VADS khác nhau lại có quá trình tiến hành tố tụng khác nhau như thủ tục giải quyết vụ án, 9 thủ tục giải quyết việc.
Trong thủ tục giải quyết vụ án có thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, thủ tục hòa giải công nhận sự thỏa thuận, thủ tục đưa vụ án ra xét xử. Trong thủ tục giải quyết VADS thì có các thủ tục giải quyết các yêu cầu khác nhau, mỗi yêu cầu lại có một thủ tục riêng. Như vậy, ở mỗi một VADS áp dụng thủ tục gì thì đương sự sẽ phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định của thủ tục đó. Tòa án với tư cách là cơ quan tiễn hành tố tụng phải có trách nhiệm tạo điều kiện dé cho các đương sự thực hiện được đầy đủ các nghĩa vụ của mình.
Các đương sự thực hiện các NVTT cua mình một cách có thiện chí và đúng theo quy định của pháp luật thi sẽ bao đảm cho việc giải quyết VADS được nhanh chóng và đúng đắn. Trường hợp đương sự chống đối, không hợp tác, không chấp hành các văn bản tố tụng của Tòa án, không đến Toa án theo giấy triệu tập. sẽ gây cản trở cho hoạt động tố tụng của vụ án đó, làm cho vụ án bị quá hạn luật định hoặc nếu xét xử được thì có thê không thực sự đúng sự thật khách quan vì chỉ xét xử theo tài liệu, chứng cứ của một bên cung cấp. - Nghia vu to tung cua duong su mang tinh bắt buộc và phải chịu chế tài néu không thực hiện NVTT của đương sự là do PLTTDS quy định, bắt buộc các đương sự phải thực hiện khi khởi kiện và tham gia vào quá trình giải quyết VADS.