Chương 1 KHÁI QUÁT VE NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUAT CUA DUONG SỰ TRONG TO TUNG DAN SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự 1. Khái niệm người đại diện theo pháp luật của đương sự trong to tung dân sự Chủ thé của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự là những chủ thé đặc biệt, “là các cá nhân, tổ chức tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự”". Các quan hệ t6 tụng được chia thành ba loại khác nhau: (1) quan hệ chủ yếu là quan hệ giữa tòa án giải quyết vụ việc dân sự và đương sự (nguyên đơn và bị đơn); (2) quan hệ giữa những người tham gia tố tụng khác với tòa án và những người khác được xem là quan hệ có tính cách phái sinh; (3) quan hệ có sự tham gia của những người tiễn hành tố tụng khác được xem là quan hệ phụ tro’.
Như vậy người tham gia tố tụng với nhiều vai trò và vị trí pháp lý khác nhau trong quy trình tố tụng theo quy định của pháp luật. Trong nhiều trường hợp, trong tố tụng dân sự xuất hiện người đại diện của đương sự. Họ là một loại chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự. Đương sự có thé có hai loại là (1) cơ quan, tổ chức hoặc (2) cá nhân mà có thé là nguyên đơn, bị đơn, hay người có quyền và nghĩa vụ liên quan (Điều 68, BLTTDS 2015).
“Đương sự trong vụ việc dân sự là người tham gia tố tụng dé bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vé lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách do có quyên, nghĩa vụ liên quan đên vụ việc dân sự”. ! Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Trình bày và chế bản tại Phòng biên tập sách và trị sự Tạp chí Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 33. ? Học viện Tư pháp, Giáo trình luật tô tụng dân sự, Nxb. Công an nhân dân, 2007, tr.
Đương sự là người có quyền tham gia tố tụng chủ động khi có yêu cầu về quyền lợi, hoặc bị động khi bị cho là vi phạm quyền lợi của người khác (thường là nguyên đơn). BLTTDS 2015 có quy định đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thầm quyền giải quyết vụ việc dân sự, bên cạnh đó còn có quyền tại Điều 70, BLTTDS 2015. Như vậy, dé xác định tư cách pháp lý của đương sự tại phiên tòa thì cần phải xác định được vụ án đó là dân sự hay việc dân sự. Dấu hiệu pháp lý cơ bản nhất dé phân biệt hai khái niệm này đó chính là có yếu tổ tranh chấp trong đó ra hay không.
“Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự vả người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” là các đương sự, nhưng trong đó “Đương sự đầu tiên được quy định là nguyên đơn trong vụ án dân sự. Có nhiều trường hợp trở thành nguyên đơn ”3. Nguyên đơn là người khởi kiện yêu cầu tòa án bảo vệ quyền lợi của mình bị cho là bị vi phạm. “Cơ quan, tô chức do BLTTDS quy định khởi kiện vụ án dân sự dé yêu cầu tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn.
BỊ đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tô chức, cá nhân khác do BLTTDS quy định khởi kiện dé yêu cầu tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn hoặc của người mà nguyên đơn có trách nhiệm chăm lo bị người đó vi phạm. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng khi giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị với tòa án và được tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đó. Khi giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người khác mà người này không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tô tụng với tư cách người * Trần Anh Tuan (2017), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015, Nhà xuât ban Tư pháp, tr. có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng tại phiên tòa với tư cách người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan” dé có thé bảo vệ quyền va lợi ích của họ kip thời và dé phiên toa xét xử được khách quan, công bang.
Tuy nhiên, khi đương sự là những cá nhân có lý do không đáp ứng về năng lực hành vi, vị trí pháp lý, sức khỏe, có khó khăn về công việc, gặp những tình huống bất khả kháng về thiên tai, lũ lụt, hoặc chưa có sự hiểu biết, hiểu không đủ về pháp luật phải có người thay họ dé tham gia tô tụng,. Người tham gia tố tụng dân sự như vậy được gọi là người đại diện của đương sự. Đại diện là một quan hệ pháp luật mà theo đó một người (có thể là cơ quan, tô chức) xác lập hay thực hiện một hành vi pháp lý trong phạm vi quyền hạn nhất định. “Người đại diện là người nhân danh và vì lợi ích của một người khác xác lập, thực hiện các giao dịch trong phạm vi thẩm quyền đại diện?” BLDS 2015 định nghĩa tại Điều 139 như sau: “đại diện là việc một người (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện”.
Vậy trong lĩnh vực TTDS thì đại diện cho đương sự được hiểu như sau phù hợp với tính chất của hoạt động TTDS: “Người đại diện của đương sự là người tham gia tố tụng thay mặt đương sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tung dé bảo vệ quyền, lợi ich hợp pháp cho đương sự trước tòa án”” Người đại diện của đương sự cũng được phân loại thành hai loại dại diện là (1) người đại điện theo pháp luật; và (2) người đại diện theo ủy quyền. * Võ Văn Tuan, “Quyền và nghĩa vụ của đơJơng sơi trong vụ án dân sự — Những bat cập cần khắc phục”, Tạp chí Toa án, [https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/quyen-va-nghia-vu-cua-duong-su-trong-vu-an-dan-su- nhungbat-cap-can-khac-phuc], (truy cập ngày 26/08/2020). 5 Trường đại học Luật Hà Nội (2008), Từ dién luật hoc, Nxb Giao thông vận tai ® Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Trinh bày và chế bản tại Phòng biên tập sách va tri sự Tạp chí Trường Đại học Luật Ha Nội, tr. Tham gia với tư cách đương sự trước tòa án có thể là bất kỳ ai.
Do đó vấn đề xác định đại diện theo pháp luật của đương sự phụ thuộc vào từng nhiều đạo luật khác nhau. BLDS 2015 qui định tại Điều 136 và Điều 137, đại diện theo pháp luật của cá nhân có thể là: + Cha, mẹ đối với con chưa thành niên; + Người giám hộ đôi với người được giám hộ; + Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo pháp luật nếu được Tòa án chỉ định; + Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người người giám hộ; + Người do Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; và đại diện theo pháp luật của pháp nhân như: + Người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ; + Người có thâm quyền đại diện theo quy định của pháp luật; + Người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án. Đây là quy định có tính chất liệt kê tổng quát. Tuy nhiên luật chuyên ngành có thể quy định cụ thể hơn.
Luật Doanh nghiệp 2020 tại Điều 12 quy định: Người đại điện theo pháp luật của một công ty hay thực thé kinh doanh khác phải là cá nhân có quyền đại diện cho công ty hay thực thé đó thực hiện các quyền và các nghĩa vụ phát sinh từ các hành vi pháp lý của công ty hay thực thê đó, đại diện cho công thy hay thực thể đó với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, hay với tư cách là nguyên đơn hoặc bị đơn, hay là người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tai, Tòa án, cũng như các quyên, nghĩa vụ khác theo pháp luật. Như vậy tư cách đại diện trong TTDS được quy định ngay trong luật nội dung. Tuy nhiên nếu luật tố tụng mà không chú ý tới van dé đại điện theo pháp luật của đương sự thì gây khó khăn cho vấn đề giải quyết vụ án. Chăng hạn: Bộ luật Hình sự 2015 không có quy định khái quát về người đại diện nhưng lại có nhiều quy định liên quan đến người đại diện.
Nhưng người đại diện được tham gia tố tụng hình sự với địa vị pháp lý với tư cách người bào chữa cho người bị buộc tội, người bảo vệ quyền lợi ich hợp pháp của người bi tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại, đương sự hoặc cũng có thê với tư cách là người đại diện của người tham gia tố tụng khác. Thực tế vẫn có trường hợp bị can, bị cáo, bị hại là người đưới 18 tuôi sống cơ nhỡ, không xác định được địa chỉ thường trú, tạm trú; bị hại là người có khó khăn nhận thức, làm chủ hành vi; người mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự và không có người đại diện theo pháp luật thì cơ quan tiến hành tổ tung vẫn phải cử người đại điện cho cho các chủ thé nêu trên. “Thông thường, cơ quan tiến hành tố tụng phải căn cứ vào các quy định của BLTTDS dé cử người đại diện cho bi can, bi cáo, bi hại dưới 18 tuổi; bị hại là người bị hại là người có khó khăn nhận thức, làm chủ hành vi; người mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự. Điều này cũng dẫn đến những nhận thức khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xác định giai đoạn nào mới cử người đại diện, việc cử người đại diện thực hiện như thé nao” Người dai diện theo pháp luật khác với người đại diện theo ủy quyền ở căn cứ làm phát sinh ra quan hệ đại diện.