Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ CẤP SƠ THẨM 1. Khái niệm địa vị pháp lý của Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm 1. Xét xử sơ thẩm Xét xử sơ thẩm được coi là giai đoạn trung tâm của hoạt động tư pháp, khi vụ án được đưa ra xét xử lần đầu tiên, HĐXX sơ thẩm phải giải quyết toàn bộ vụ án, mọi chứng cứ tài liệu đều phải được đưa ra xem xét, thẩm tra, đánh giá công khai tại phiên tòà. Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm tuy chưa có hiệu lực pháp luật ngay nhưng rất nhiều quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có giá trị thi hành ngay.
Xét xử sơ thẩm là một hoạt động rất quan trọng trong tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm HĐXX là một tập thể được thành lập theo quy định của pháp luật, hoạt động theo những nguyên tắc do pháp luật quy định và có những quyền hạn, trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa HĐXX giữ vị trí trung tâm, mọi hoạt động tại phiên tòa đều nhằm mục đích giúp cho HĐXX xác định được sự thật của vụ án từ đó ra bản án, quyết định đúng pháp luật. Thành phần HĐXX xét xử ở cấp sơ thẩm gồm có Thẩm phán và các Hội thẩm, thành phần HĐXX sơ thẩm có thể có hai loại: - Loại thứ nhất là HĐXX có 3 thành viên, trong đó có 1 Thẩm phán và 2 Hội thẩm.
HĐXX này xét xử các vụ án không có tính chất nghiêm trọng, không phức tạp và không có bị cáo bị đưa ra xét xử về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình. - Loại thứ hai là HĐXX có 5 thành viên, để xét xử các vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp, các vụ án có bị cáo bị truy tố, xét xử về tội có khung hình phạt mức cao nhất là tử hình. HĐXX có 5 thành viên trong đó phải có 2 Thẩm phán và 3 Hội thẩm. Hiện nay có nhiều ý kiến cho rằng: Thành phần HĐXX hiện nay không phù hợp vì vai trò và của Hội thẩm tại các phiên tòa là rất mờ nhạt, trình độ pháp luật của các Hội thẩm nhìn chung còn hạn chế, trách nhiệm của Hội thẩm chưa rõ ràng, nhiều Hội thẩm tham gia xét xử mang tính hình thức thậm chí không hiểu rõ ràng về vụ án đặc biệt là khi xét xử các tội phạm liên quan đến kinh tế, tin học, chứng khoán…Thành phần của HĐXX cũng là một nội dung cần nghiên cứu xem xét để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng xét xử.
BLTTHS không quy định hình thức phân công Thẩm phán, Hội thẩm tiến hành tố tụng đối với mỗi vụ án, do đó tại nhiều Tòa án, Chánh án không ban hành quyết định bằng văn bản thành lập HĐXX hoặc quyết định phân công Thẩm phán, Hội thẩm tiến hành tố tụng bằng văn bản nên chưa tạo ra cơ sở pháp lý chặt chẽ để xác định vị 5 trí, quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán, Hội thẩm trong quá trình giải quyết vụ án. Đây là một hạn chế của BLTTHS cần phải xem xét, nghiên cứu. Địa vị pháp lý của Hội đồng xét xử Theo Từ điển luật học: "Địa vị pháp lý là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với những chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định của pháp luật. Địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật thể hiện thành một tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt động của mình".
Khi nói tới địa vị pháp lý của một cá nhân người ta hay nói tới quyền và nghĩa vụ của cá nhân đó theo pháp luật, nhưng khi nói tới địa vị pháp lý của một tập thể hay một tổ chức người ta thường nói tới quyền hạn, trách nhiệm của tổ chức đó trước pháp luật. Quyền hạn được hiểu là "quyền được xác định trong phạm vi không gian, thời gian, lĩnh vực hoạt động, cấp và chức nhất định". Còn trách nhiệm được hiểu là "phần việc được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu hậu quả". HĐXX là một chủ thể đặc biệt, không phải là cá nhân, cùng không phải là pháp nhân.
Địa vị pháp lý của HĐXX thể hiện thông qua các quy định của pháp luật về quyền hạn và trách nhiệm của HĐXX, cũng như qua các mối quan hệ của HĐXX với các chủ thể khác trong hoạt động tố tụng hình sự. Đối với HĐXX quyền hạn và trách nhiệm không thể tách rời, quyền hạn đồng thời là trách nhiệm của HĐXX. Do vậy rất khó để phân biệt rạch ròi đâu là quyền hạn, đâu là trách nhiệm của HĐXX. Từ các phân tích trên ta có thể đưa ra khái niệm về địa vị pháp lý của HĐXX trong tố tụng hình sự như sau: "Địa vị pháp lý của HĐXX cấp sơ thẩm trong tố tụng hình sự là vị trí của HĐXX trong mối quan hệ với những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trên cơ sở các quy định của pháp luật tố tụng hình sự từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến khi kết thúc phiên tòa.
Địa vị pháp lý của HĐXX cấp sơ thẩm được thể hiện thông qua tổng thể những quyền hạn, trách nhiệm của HĐXX trong hoạt động xét xử sơ thẩm". Một số nguyên tắc liên quan đến hoạt động của Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm 1. Nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 16 Bộ luật tố tụng hình sự) Đây là một nguyên tắc Hiến định, rất quan trọng trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên hiện nay nguyên tắc này còn bị xem nhẹ, chưa có cơ chế phù hợp cho Thẩm phán, Hội thẩm thực sự độc lập.
Việc can thiệp vào hoạt động xét xử không phải là hiếm. Do vậy nhiều nơi Thẩm phán và Hội thẩm chưa thực sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật khi xét xử. Nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng trước Tòa án (Điều 19 Bộ luật tố tụng hình sự) Nguyên tắc này ghi nhận những người tham gia tố tụng được pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng với nhau và với Kiểm sát viên trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Tòa án nhằm chứng minh cho quan điểm, ý kiến của mình là có căn cứ và hợp pháp. Nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật (Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự).
Nguyên tắc này khẳng định chỉ có Tòa án mới có quyền kết tội một con người đó bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật. Khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, không một người nào bị coi là có tội. Chỉ có người đã bị Tòa án tuyên bố phạm tội mới bị áp dụng hình phạt và việc áp dụng hình phạt phải do Tòa án thực hiện. Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án (Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự) BLTTHS quy định các cơ quan tiến hành tố tụng phải áp dụng mọi biện pháp pháp luật quy định để tìm ra sự thật khách quan của vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ.
Nguyên tắc này còn quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án. Hiện nay trong các nhà nghiên cứu pháp lý có ý kiến nên bỏ quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm của Tòa án trong BLTTHS. Nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng (Điều 14 Bộ luật tố tụng hình sự) 7 Nguyên tắc này đòi hỏi những người tiến hành tố tụng phải đảm bảo vô tư khi làm nhiệm vụ. Nếu HĐXX không vô tư, khách quan có thể sự thật của vụ án sẽ không được rõ ràng, việc áp dụng pháp luật sẽ không chính xác, ảnh hưởng tới uy tín của nhà nước, sự nghiêm minh của pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.
Ngoài các nguyên tắc trên HĐXX cũng phải tuân thủ theo các nguyên tắc khác của BLTTHS. Khái quát pháp luật về Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm từ năm 1945 đến nay 1. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1980 Giai đoạn này chưa có BLTTHS nhưng các văn bản thời bấy giờ như các văn bản: Sắc lệnh 33/C ngày 13/9/1945 của Chủ tịch nước thiết lập các Tòa án quân sự; Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/1/1946 của Chủ tịch nước về tổ chức các ngạch Thẩm phán; Hiến pháp năm 1946; Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 của Chủ tịch nước về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng, Hiến pháp năm 1959; Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960; Thông tư số 2421-TC ngày 29/12/1961 và Thông tư số 16-TATC ngày 29/7/1974 của TANDTC đều có những nội dung ghi nhận việc xét xử phải được thực hiện bằng một tập thể. Trong đó có những văn bản xác định HĐXX có nhiệm vụ quyết định mọi vấn đề về nội dung cũng như về thủ tục tố tụng trong phiên tòa.
HĐXX quyết định theo đa số, trên nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm ngang quyền nhau. Giai đoạn từ năm 1980 đến nay Hiến pháp năm 1980 và BLTTHS năm 1988 đều ghi nhận các nguyên tắc: Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, khi xét xử Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán; Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. BLTTHS năm 2003 trên cơ sở kế thừa BLTTHS năm 1988, đồng thời cũng có một số thay đổi, xác định rõ chức năng nhiệm vụ của những người tiến hành tố tụng, quy định chặt chẽ, cụ thể hơn về quyền hạn, trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng. Sửa đổi các trình tự, thủ tục tố tụng cụ thể, rõ ràng, có tính khả thi hơn, đề cao tính tranh tụng hơn.
Về thành phần HĐXX và các nguyên tắc hoạt động của HĐXX cơ bản được giữ nguyên theo quy định của BLTTHS năm 1988. Một số mối quan hệ của Hội đồng xét xử trong hoạt động xét xử Trong hoạt động xét xử HĐXX có quan hệ với các chủ thể khác, những mối quan hệ này cũng góp phần tạo nên địa vị pháp lý của HĐXX.