CHƯƠNG 1: NHUNG VAN DE LÝ LUẬN PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DUNG TRONG GIAO KET VÀ THỰC HIEN HỢP DONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 111. Khái quát về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giao kết và thực hiện hợp đông thương mại điện tir LLL Khải niệm người u dùng Trong bat cứ nên kinh tế nào, NTD cũng luôn la một lực lượng đông đão, là động lực phát triển của nén kinh tế. Với nhu cầu và thi hiểu của mình, họ có vai trò tác đồng không hé nhé đối với quả trình dẫn dét, vận hành của thị trường Hiện nay, pháp luật của các nước trên thé giới quy định về khái niệm. NTD theo hai cách.
Cách thứ nhất, khẳng đính NTD chỉ cóthể là cá nhân Luật các Quyển của Người tiêu dùng 2015 của Anh đã định nghĩa NTD theo cách này, theo đó. “Người tiêu ding là BẮT củ cả nhân nào mua hàng vì muc dich chủ yêu hoặc hoàn toàn không liên quan đắn việc nma bán, kinh doanh, nghé nghiệp, hàng nghề (craft) của người đó”. Cach quy định này thé hiện rõ uất bão vệ NTD chỉ bao vệ đối với cá nhân, còn pháp nhân do ho có những vi thể và điều kiện tốt hơn so với cá nhân trong quan hệ với nha cung cấp nên. uất bao về NTD không cần thiết phải can thiệp vao các giao dich của họ và các cơ quan t6 chức khác trong xã hội.
Các đổi tượng nay, ho cũng có hoạt đông tiêu dùng thông thường ma không phải tắt cả các quan hé mua bán của ho đều là các quan hệ thương mai. Do đó, trong quan hệ tiêu ding ho cũng không phải là những người chuyên nghiệp và cũng như NTD, họ cũng không có sẵn nguồn lực để đôi phó với những hanh vi vi phạm tử phía nha sản xuất và cũng rat cần tối sự bảo vệ của pháp luật bão về NTD. Cách thứ hai, xác định NTD có là cả nhân hoặc tổ chức. Luật Bao vệ người tiêu ding (2251/1994) của Hy Lạp quy định: “Người điêu đừng là bắt cứ cá nhân hay tổ chức nào mà việc sử ding hàng hóa, dich vụ đỗ câu hành việc trở thành NTD của hàng lóa, dich vụ 86 “2 Nhu vay, có sựkhác biệt giữa các quốc gia trong việc định nghĩa NTD, chi có thé là cá nhân hay có thé là cá nhân hoặc tổ chức.
Tuy nhiên, hau hết các nước déu quy định tương đồng với nhau về yếu tô muc dich mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ đó phải nhằm muc dich tiêu đùng, phục vụ cho sinh hoạt không nhằm mục đích kinh doanh kiếm lợi. Phap luật Việt Nam, kể từ khi ban hành các quy định về bao vệ quyền lợi NTD (từ năm 1999 cho đến nay) thi NTD luôn được xác định bao gồm cá nhân, tổ chức. Năm 2010, Luật BVQLNTD số 59/2010/QH12 của Quốc hội nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đồi có hiệu lực từ ngày 01/7/2011, đã quy định: “Người iêu ding là người múa, sử dung hàng hóa. 3 dich vụ cho ruc dich tiêu dig.
sinh hoại của cả nhân, gia đình, tỗ chức Theo đó, NTD được hiểu theo nghia rộng bao gồm cả cá nhân, tổ chức nhưng, khái niệm được giới hạn béi "mục đích”. NTD có thể là người mua đồng thời Ja người sử dụng, cũng có thể mua để tăng, cho, mua để phục vụ chung cho nu câu của toan gia đính hay cho tổ chức nhưng mục đích ở đây déu la "tiêu dùng, sinh hoạt”, nói chung là các yếu tổ đâu vào để tổ chức phục vụ cho hoạt động của tổ chức mình (có thé la thỏa mẫn tiêu dùng gia đính, tiêu dung trong Hội, Doan.) Người tiêu ding trong để tai nghiên cửu nảy được giới hạn là người mua và sử dung hing hỏa, dich vụ thông qua giao kết va thực hiền hop đồng 'TMĐT, hoặc chỉ sử dụng hang hóa, dich vụ của thương nhân. Anlhon, F9đjoammeu (30/9/2013), “Defining a cơsumer under the Consumer Protection I2” tps: interatioralwoffice cony/Wewsetes/anking/Grece/kyruakiles-Georgopouls-Daniles ‘sas /Defning--consumer under the-Consumer Protection 12 * kod iều 3 Lut ảo vệquiền Bí người têu dùng nấm 2010 1. Khái quát về hợp đồng thương mại điện tử và giao kết hop đông thương mai điện tir 1.
Khái niềm hợp đồng thương mại điện tie Luật n của UNCITRAL vẻ TMĐT cũng như pháp luật của nhiều. nước trên thé giới không định nghĩa thé nao la hợp déng TMĐT va thường chi đưa ra quy định thửa nhân giá tri pháp lý của hợp đẳng được ác lập thông qua các phương tiên điện tử. Hop đồng được sác lập thông qua phương tiên điện tử được hiểu tương đổi thống nhất trong quy định của pháp luật các nước Đây là hợp đồng được ký kết thông qua việc sử dụng những phương tiện truyền các thông điệp dữ liệu. Các hợp đồng nay được gọi chung la hop đẳng điện từ.
Pháp luật Viết Nam có ác định khải niêm hợp đồng điện tử, theo đó: “Hợp đồng điện tit ia hợp đồng được thiết lập dưới dang thông điệp die liệu theo guy hi của Luật này '®. Thông điệp đữ liệu là thông tin được tao ra, được gửi di, được nhận vả được lưu trữ bằng phương tiện điện tử. điệp dữ liệu được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng tir điện tử, thư điện ti, điện tín, điện bảo, fax và các hình thức tương tự khác. Nav vậy, có thể hiểu hợp đồng thương mại điện tit là hợp đồng thương.
‘mat được thiét lập dưới dang thông điệp dữ liều theo quy dinh của Luật Giao ich điện tie Thông qua các thông điệp dữ liệu được gửi và nhên giữa các chủ thể, hợp đồng điền tử được thiết lập. Phương tiện điện từ lả một trong những cơ sở dé phân biệt hop đồng điện ti với hợp đồng truyền thống, Nếu như phương tiện thực hiện trong giao dịch truyền thống chủ yếu được thực hiện thông qua lời nói, ảnh vi hay văn bản giấy tờ thi phương tiện thực hiện trong giao dịch điện tử là những phương tiên hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, Ki thuật sổ, tử tính, truyền dẫn không dây, quang hoc, điện tit hoặc công nghệ tương tự ˆ piu 33 Luật Gạo dich din từ nấm 2005 10 1. Đặc diém của hop đồng thương mại điện tie Hợp đông TMĐT trước hết có những đặc điểm cơ bản của hợp đồng. thương mại Xét về ban chất, hợp đẳng TMĐT có những thuộc tính của hợp đẳng thương mại truyén thống Tuy nhiên, do được xác lập thông qua các phương tiên điện tử, nên hợp dong TMĐT có một số đặc điểm sau: Thứ nhất, về clui thé của hợp đồng thương mại điệu tit Căn cử vào quy định tại Luật Thương mại, chủ thể của hợp đồng thương mại phải có ít nhất một bên là thương nhân.
Do vay, chủ thể cia hợp đảng TMĐT cũng phải đáp ứng yêu cầu nảy. La một bên của hợp đồng TMĐT, thương nhân có thể trực tiếp giao kết hợp đồng với khách hang thông qua website TMĐT do mình tự thiết lập hoặc cũng cỏ thể thông qua san giao dich TMĐT hoặc website TMĐT hoặc website đấu giá trực tuyến do các thương nhân, tổ chức, cá nhân khác thiết lập để giao kết hợp đồng. Khách ‘hang có thể là thương nhân, cũng có thé là các tổ chức, cá nhân chấp nhận giao két hop đồng với thương nhân trên cơ sở các thông tin đã được công khai trên các trang thông tin điện tử. Trong đểtai nghiên cửu này, chủ thể giao kết hop đồng TMĐT một bên lả thương nhân, một bên là NTD.
Khi đối tượng của hợp ding lả hang hoa, dich vụ kinh doanh có điểu kiên, các chủ thé của hop đồng cũng phải đáp ứng các diéu kiện kinh doanh. Trường hợp pháp luật yêu câu phải có giấy chứng nhận đũ điều kiện kinh. doanh đổi với hang hoá, dịch vụ đó, thương nhân bản hing hoa, cung ứng dịch vụ phải cung cấp giấy chứng nhận đủ điều kiên kính doanh đó cho thương nhân chủ website TMĐT. Trường hợp thương nhân bán hing cũng lả chủ website TMĐT, thi phải công bó trên website của minh số, ngày cap, nơi cấp giấy chứng nhận đủ điều kiên kinh doanh.
Khác với các hop đồng thương mại truyền thông, việc zác định các chủ thé cia hop đồng hay còn gọi là các bên của hop ding TMĐT gấp ul không it khó khăn trong một số trường hợp. Các bên của hợp đẳng thường hay bi nhằm lẫn với các chủ thể khác tham gia hoạt động TMĐT, đặc biệt khi các chủ thể nảy lả các thương nhân, tổ chức thiết lập website TMĐT để cung cấp môi trường điện tử cho thương nhân, tổ chức, cá nhân khác tiến hảnh hoạt động xúc tiến thương mại, bản hang hoa hoặc cung ứng địch vụ. Ví dụ, trên các website TMĐT nhommua, cucre,. thưởng có sự nhằm.
Tấn giữa thương nhân la chủ sỡ hữu của website với thương nhân có hàng hoá, dich vụ bán, cùng ứng được đưa lên website Do vay, trong hợp đồng TMĐT, can phân biết chủ thé của hợp đồng, với chủ thể cung cấp dịch vụ TMĐT, da trong một số trường hợp các chủ thể nay có thể 1a một (trường hợp hoạt đông thương mại trên website TMBT). 'Việc xác định chủ thé của hợp đồng được giao kết trên các phương tiên điện tử hết sức quan trong, béi khi xác đính được đúng các chủ tl tủa hợp đồng mới xác định được rõ trách nhiệm của các chủ thé Thứ hai, về giao kết hợp dong tương mai điện tir Quy trình giao kết hợp đông TMĐT cũng có một số đặc thù so với quy trình giao kết hợp ding thương mai thông thưởng. Theo quy định của pháp luật chung vé giao kết hợp đồng, hợp đồng được hình thành trên cơ sở một bên đưa ra để nghỉ giao kết và một bên chấp nhân để nghị giao kết Đổi với ‘hop đồng TMĐT, quy trình nay có thể được tiền hảnh một phân hoặc toản bộ ‘bang phương tiên điện tử, thông qua các thông điệp dữ liêu. Chính vì vậy, các quy định liên quan đến việc xác định dé nghị giao kết, xác định chấp nhân để nghị giao kết, thời điểm có hiệu lực của để nghị giao kết, của chấp nhận để nghị giao kết hợp đông vả thời điểm hình thảnh hợp đông có một số điểm khác biệt so với quy định của pháp luật chung 2 Thứ ba, về hig u lực của hợp đồng thương mai điện tứ Hop đồng TMĐT được giao kết và phát sinh hiéu lực tuần theo quy định của pháp luật chung vẻ hợp đồng, Tại thời điểm chấp nhân để nghị giao kết hợp đồng phát sinh hiệu lực, hợp đồng sẽ hình thành.
Hop đồng phat sinh hiệu lực tai thời điểm hợp đồng được giao kết, trừ trường hop các bên có thöa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.