Chương 1: Lý luận về trách nhiệm sản phẩm. Chương này tập trung vào các vấn đề lý luận về trách nhiệm sản phẩm, bao gồm các chủ thể, khuyết tật và các học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt, trách nhiệm bảo đảm, trách nhiệm bất cẩn. Chương 2: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện. Chương này tập trung so sánh pháp luật về trách nhiệm sản phẩm của Việt Nam so với một số nước trên thế giới, và thực trạng hiện nay của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm sản phẩm; nêu lên một số bất cập của pháp luật hiện hành về trách nhiệm sản phẩm và các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật.
LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM 1.1 Khái quát về sản phẩm và trách nhiệm sản phẩm 1.1 Sản phẩm - hàng hóa Theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000:2015, “sản phẩm là đầu ra của một tổ chức có thể được tạo ra mà không thực hiện bất kỳ giao dịch nào giữa tổ chức và khách hàng”5. Mà “thành phần chủ đạo của sản phẩm thường hữu hình, bao gồm phần cứng và vật liệu đã được chế biến, thường được coi là hàng hóa”6. Sản phẩm theo tiêu chuẩn ISO 9000:2015 là thứ được tạo ra nhằm mua bán mà không cần dựa vào thỏa thuận giữa khách hàng với người sản xuất và thường là sản phẩm hữu hình. Từ điển ngôn ngữ của Đại học Oxford thì định nghĩa “sản phẩm là thứ được trồng, sản xuất hoặc tạo ra, thường được dùng để bán”7.
Định nghĩa này nhìn nhận sản phẩm là loại vật chất được tạo ra dùng cho mục đích trao đổi thông qua hình thức mua bán; vật chất được con người tạo ra nhằm mục đích mua bán là sản phẩm. Theo quan điểm Marketing thì “sản phẩm là thứ có khả năng thỏa mãn nhu cầu mong muốn của khách hàng, cống hiến những lợi ích cho họ và có thể đưa ra chào bán trên thị trường với khả năng thu hút sự chú ý mua sắm và tiêu dùng”8. Từ điển tiếng Việt định nghĩa “sản phẩm là cái do lao động của con người tạo ra hoặc cái được tạo ra như một kết quả tự nhiên”9; tức là những thứ được tạo ra qua sự lao động của con người là sản phẩm. Khoản 1 Điều 3 Luật CLSPHH 2007 định nghĩa “sản phẩm là kết quả của quá trình sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ nhằm mục đích kinh doanh hoặc tiêu dùng”.
Dù là theo cách định nghĩa nào, sản phẩm đều có điểm chung là thứ được con người tạo ra bằng lao động với ý nghĩa và mục tiêu sử dụng có thể khác nhau, nhưng mục đích sản phẩm được tạo ra là để trao đổi thông qua hình thức mua bán.6 TCVN ISO 9000: 2015: Hệ thống quản lý chất lượng - Cơ sở và từ vựng.6 TCVN ISO 9000: 2015: Hệ thống quản lý chất lượng - Cơ sở và từ vựng. 7 Oxford Learner’s Dictionnaries, truy cập ngày 10/01/2021 tại https://www.com/definition/english/product?q=product. 8 Nguyễn Minh Thư (2013) (trích dẫn trong Nguyễn Thị Thanh Huyền, giáo trình marketing căn bản, Nxb. Hà Nội, 2005, tr.
36), “Kiến nghị xây dựng khái niệm sản phẩm trong Luật trách nhiệm sản phẩm”, Tạp chí Luật học, (08), tr. 9 Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, NXB. Đà Nẵng, Hà Nội - Đà Nẵng, tr. 11 Chỉ những thứ con người không tạo ra được như đất đai, tài nguyên thiên nhiên hay các thực thể ngoài vũ trụ mới không được xem là sản phẩm, bởi con người không thể tạo ra và cũng không liên quan đến quá trình hình thành.
Sản phẩm được tạo ra để trao đổi, lưu thông trên thị trường, khi ở giai đoạn lưu thông, sản phẩm không đơn thuần là được tạo ra để trao đổi nữa mà phải để người sản xuất, người kinh doanh có thể thu lợi nhuận. Khi đó sản phẩm sẽ được gọi dưới cái tên phổ quát hơn. Theo từ điển Tiếng Việt “hàng hóa là sản phẩm do lao động làm ra được mua bán trên thị trường”10. Theo định nghĩa này, hàng hóa là tất cả các loại sản phẩm được tạo ra do lao động nhằm mục đích để trao đổi giữa người mua và người bán.
Theo một cách định nghĩa khác thì “hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán”11. Sản phẩm hình thành từ lao động nhằm mục đích trao đổi, mua bán thì được xem là hàng hóa. Khoản 2 Điều 3 Luật CLSPHH 2007 thì định nghĩa hàng hóa “là sản phẩm được đưa vào thị trường, tiêu dùng thông qua trao đổi, mua bán, tiếp thị”. Các định nghĩa về hàng hóa đều chỉ ra sản phẩm là tập hợp con của hàng hóa, tức hàng hóa là các sản phẩm được con người sản xuất, tạo ra nhằm mục đích để giao dịch trên thị trường.
Hàng hóa là loại sản phẩm được tạo ra nhằm mục đích trao đổi, mua bán mà sâu xa về bản chất của việc trao đổi, mua bán sản phẩm cũng chỉ vì mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng của bên mua và thỏa mãn nhu cầu thu về lợi ích bằng tiền hoặc tài sản tương đương của bên bán. Vì thế mà hàng hóa có thể thỏa mãn nhu cầu sản xuất, tiêu dùng của con người và thông qua việc trao đổi, con người có thể thỏa mãn nhu cầu của mình12. Luật BVQLNTD 2010 không định nghĩa hàng hóa hay sản phẩm mà quy định chung về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa; xác định về chủ thể kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; xác định trách nhiệm của chủ thể kinh doanh khi hàng hóa có khuyết tật gây ra. Cho đến Dự thảo 02 Luật BVQLNTD (sửa đổi) công 10 Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, NXB.
Đà Nẵng, Hà Nội - Đà Nẵng, tr. 11 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – LêNin, NXB Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tr. 12 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam tập II, NXB. Công an nhân dân, Hà Nội, tr 139.
12 bố ngày 10/01/2022, do Bộ Công thương chủ trì soạn thảo dự án Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (sửa đổi) cũng không có định nghĩa hàng hóa hay sản phẩm nhưng đã thay thế thuật ngữ “hàng hóa” bằng “sản phẩm” và thay thế thuật ngữ “hàng hóa có khuyết tật” theo Luật BVQLNTD 2010 thành “sản phẩm có khuyết tật”13. Luật pháp của nhiều nước trên thế giới thường sử dụng chế định hay Luật về “trách nhiệm sản phẩm” như Malaysia, Nhật Bản, Đức,14 thay vì “trách nhiệm hàng hóa”. Nên trách nhiệm hàng hóa của chủ thể kinh doanh theo Luật BVQLNTD 2010 của Việt Nam cũng chính là trách nhiệm sản phẩm của chủ thể kinh doanh đối với người tiêu dùng. Ở luận văn này nhắc đến sản phẩm hay hàng hóa thì sản phẩm hay hàng hóa đều chung một ý nghĩa.2 Trách nhiệm sản phẩm Theo từ điển tiếng Việt, “trách nhiệm là phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả” hoặc “sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai trái phải gánh chịu phần hậu quả”15.
Kết hợp định nghĩa “trách nhiệm” với “sản phẩm” thì “trách nhiệm sản phẩm” là bổn phận, sự ràng buộc của một chủ thể đối chủ thể khác về cam kết đối với sản phẩm. Mitchell Polinsky và Steven Shavell thì “trách nhiệm sản phẩm là trách nhiệm của nhà sản xuất đối với các sản phẩm gây thiệt hại cho khách hàng”16. Tác giả Lê Hồng Hạnh cho rằng “trách nhiệm sản phẩm là trách nhiệm của người sản xuất hoặc người bán hàng trong việc bồi thường cho các thiệt hại gây ra bởi khuyết tật của hàng hóa mà họ đã cung cấp cho người tiêu dùng trong quá trình kinh doanh. Trách nhiệm sản phẩm là một loại trách nhiệm dân sự đòi hỏi người có 13 Khoản 3 Điều 3 Dự thảo 02 Luật BVQLNTD (sửa đổi) (10/01/2022) “Sản phẩm có khuyết tật là sản phẩm không bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng, có khả năng gây thiệt hại cho tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người tiêu dùng, kể cả trường hợp sản phẩm đó được sản xuất theo đúng tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kỹ thuật hiện hành nhưng chưa phát hiện được khuyết tật tại thời điểm hàng hoá được cung cấp cho người tiêu dùng…”.
14 Đạo luật Trách nhiệm sản phẩm của Đức, Luật Trách nhiệm sản phẩm của Nhật Bản hay Luật Bảo vệ người tiêu dùng Malaysia đều quy định là “sản phẩm” thay vì “hàng hóa” như Luật BVQLNTD Việt Nam. 15 Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, NXB. Đà Nẵng, Hà Nội - Đà Nẵng, tr. Mitchell Polinsky, Steven Shavell (2010), “The Uneasy Case for Product Liability”, Harvard Law Review, Vol.
13 trách nhiệm phải bù đắp bằng cách thức phù hợp đối với thiệt hại mà người khác phải gánh chịu, dựa trên những cơ sở nhất định làm phát sinh trách nhiệm theo quy định của pháp luật”17. Theo hướng dẫn của Liên Hiệp Quốc về bảo vệ người tiêu dùng được ban hành năm 1985 và sửa đổi năm 1999 thì người tiêu dùng sẽ được hưởng các quyền là: quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản; quyền được an toàn; quyền được thông tin; quyền được lắng nghe; quyền được lựa chọn; quyền được khiếu nại và bồi thường; quyền được giáo dục, đào tạo về tiêu dùng; quyền được có môi trường sống lành mạnh và bền vững18. Trong các quyền trên, người tiêu dùng có quyền khiếu nại và yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với người kinh doanh, quyền này phát sinh khi người tiêu dùng bị thiệt hại do sản phẩm có khuyết tật gây nên. Người tiêu dùng tiêu tốn chi phí để thông qua sản phẩm đáp ứng các nhu cầu mong muốn trong mức độ phù hợp công dụng và sự an toàn mong đợi từ sản phẩm; người kinh doanh cung cấp sản phẩm cho người tiêu dùng để thu lợi về tài chính.
Người kinh doanh khi nhận được lợi ích từ người tiêu dùng thì phải “trao lại” cho người tiêu dùng “sản phẩm” với “sự bảo đảm về sản phẩm” mà mình đã cung cấp, như thế mới đúng cái mục đích mà hai bên mong muốn giao dịch. Trách nhiệm sản phẩm, hiểu một cách đơn giản là bổn phận của người kinh doanh khi vi phạm thỏa thuận về tính hoàn hảo của sản phẩm đã chuyển giao cho người tiêu dùng. Trách nhiệm ở đây là trách nhiệm đối với những thiệt hại do sản phẩm gây ra cho người mua, người sử dụng sản phẩm. Bởi, nếu một sản phẩm được sử dụng tối ưu nhất các tính năng và lợi ích mà không gây thiệt hại thì người tiêu dùng không có nhu cầu xem xét đến trách nhiệm của người kinh doanh.