Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Vấn đề BVQLNTD nói chung và BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP đã được nhiều học giả trong nước và nước ngoài quan tâm nghiên cứu. Trên cơ sở tiếp cận khái quát các giáo trình, sách, báo, bài viết, luận văn, luận án của các học giả trong và ngoài nước, tác giả tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án theo các nhóm vấn đề sau đây: 1. Các công trình nghiên cứu về quyền người tiêu dùng và sự cần thiết bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm Về khái niệm NTD, có nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập trên nhiều góc độ khác nhau như: [2], [5], [24], [43], [46], [48], [54], [58], [71], [77], [84], [90], [91], [102], [110].
Dưới góc độ kinh tế: “NTD là những người sử dụng hàng hóa, dịch vụ cuối cùng”. Dưới góc độ pháp lý: “NTD là đối tượng được bảo vệ theo Luật BVQLNTD với tư cách là bên yếu thế” [77], ngoài ra các tài liệu nước ngoài [95], [102], [108] đều chú trọng vào việc phân tích sự khác biệt giữa mục đích của người mua hàng là thương nhân và mục đích của NTD là làm tiêu hao hàng hóa qua việc sử dụng chúng. Tác giả Nguyễn Trọng Điệp đã nghiên cứu định nghĩa về NTD của pháp luật một số quốc gia như: Đài Loan, Ấn Độ, Malaysia. qua đó khẳng định, hầu hết các quốc gia đều thống nhất về quan điểm là đối tượng thụ hưởng hàng hóa, dịch vụ cuối cùng vì nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt riêng, không vì mục tiêu thương mại [42].
Các tác giả cho rằng, mặc dù có sự khác nhau về chủ thể là pháp nhân hay thể nhân, nhưng hầu hết các quốc gia đều thống nhất về quan điểm là đối tượng thụ hưởng hàng hóa, dịch vụ cuối cùng vì nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt riêng, không vì mục tiêu thương mại. Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng, xu hướng chung mang tính thông lệ trong pháp luật BVQLNTD ở các quốc gia trên thế giới (nhất là các quốc gia phát triển và các quốc gia thuộc khu vực ASEAN) là NTD chỉ nên giới hạn là cá nhân mua sắm hàng hóa, dịch vụ không nhằm mục đích hoạt động kinh doanh, thương mại hoặc 6 hoạt động nghề nghiệp chuyên nghiệp. NTD thực phẩm là một trong các nhóm chủ thể cần được bảo vệ. Tuy nhiên, hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến khái niệm và đặc điểm liên quan đến NTD thực phẩm.
Do đó, đây là vấn đề sẽ được tiếp tục nghiên cứu trong Luận án. Nghiên cứu về quyền của NTD, các công trình [1], [24], [42], [43], [45], [50], [51], [84], [85] cũng đều thống nhất nêu 8 quyền của NTD theo công bố của Liên Hợp Quốc gồm: quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản; quyền được an toàn; quyền được thông tin; quyền được lựa chọn; quyền được lắng nghe; quyền được khiếu nại và bồi thường; quyền được giáo dục và đào tạo về tiêu dùng; quyền được có môi trường sống lành mạnh và bền vững. Bên cạnh các quyền được ghi nhận, NTD cũng có các nghĩa vụ gồm: biết phê bình, hành động, có ý thức cộng đồng và xã hội, hiểu biết về tiêu dùng và môi trường. Đánh giá về sự cần thiết phải BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP, các công trình nghiên cứu đều chỉ ra những yêu cầu cấp thiết trong BVQLNTD.
Tác giả Nguyễn Thị Vân Anh và nhiều tác giả khác trong các công trình [1]; [5]; [44]; [69] đã khẳng định: "NTD là một bên trong quan hệ thương mại, dân sự với tính chất là người tiêu thụ những sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ. Tuy nhiên, trong mối quan hệ này NTD luôn ở vị thế yếu hơn và có nguy cơ gánh chịu rủi ro, thiệt hại". Điều này thể hiện ở việc bất bình đẳng về thông tin, hiểu biết, khả năng kiểm tra chất lượng hàng hóa, các khuyết tật và các rủi ro liên quan đến sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, khả năng đàm phán, ký kết hợp đồng của NTD với thương nhân. Trong bài viết [44], tác giả Nguyễn Mạnh Hà cho rằng: "hàng giả, hàng nhái ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống, sức khỏe người dân, làm suy giảm niềm tin của người tiêu dùng đến tính minh bạch của thị trường hàng hóa".
Nghiên cứu về những nguy cơ và thiệt hại mà NTD phải gánh chịu, Đề cương giới thiệu Luật BVQLNTD của Bộ Tư pháp và Bộ Công Thương nêu một số dẫn chứng nhiều vụ việc vi phạm quyền lợi của NTD trong các lĩnh vực khác nhau, trong đó có ATVSTP. Asian law Institute - National university of Singapore (2011) cho rằng: "NTD ở nhiều quốc gia trên thế giới đều có nguy cơ bị xâm phạm quyền lợi, đặc biệt là ở các nước kém và đang phát triển khi hệ thống luật pháp và kiểm soát về ATVSTP chưa tốt" [96]. Tác giả Trần Mai Vân trong Luận văn thạc sĩ Luật học cho rằng: "bảo đảm ATVSTP là một trong những yếu tố 7 quan trọng góp phần nâng cao tầm vóc và thể chất người Việt Nam, góp phần tích cực vào sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân" [90]. Tác giả Đoàn Thị Hường khi đánh giá về thực trạng ô nhiễm sinh học trên thực phẩm cũng cho rằng: "ATVSTP góp phần tăng lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Chất lượng ATVSTP là chìa khoá tiếp thị của sản phẩm" [68]. Ngoài ra còn nhiều công trình [2], [7], [15], [36], [42], [51], [54], [77], [91], [102] cũng đều khẳng định sự cần thiết phải BVQLNTD. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều cho thấy, NTD đang là nạn nhân của nhiều vụ vi phạm nghiêm trọng pháp luật trong kinh doanh như: sản phẩm không đúng chất lượng, không đủ số lượng, quảng cáo gian dối., tính mạng, sức khỏe của NTD bị đe dọa bởi thực phẩm độc hại, sản phẩm không an toàn. Do vậy, có thể nói rằng, NTD Việt Nam đang phải sống trong một môi trường không an toàn, quyền và lợi ích hợp pháp bị vi phạm nghiêm trọng.
Thực trạng này đòi hỏi phải xây dựng một cơ chế pháp lý đầy đủ và hoàn thiện nhằm BVQLNTD. Các công trình nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm, nội dung pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm Các công trình nghiên cứu như [73]; [74]; [84] đều khẳng định pháp luật BVQLNTD là lĩnh vực pháp luật điều chỉnh các quan hệ giữa NTD và các thương nhân khi NTD mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ của thương nhân đó. Các tác giả cũng xác định pháp luật về BVQLNTD là một hệ thống tổng quát liên quan đến nhau trong đó gồm hai nhóm: i) nhóm văn bản trực tiếp điều chỉnh về BVQLNTD; ii) nhóm văn bản gián tiếp điều chỉnh về BVQLNTD. Pháp luật về BVQLNTD thuộc nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng đều hướng đến xác định cơ chế điều chỉnh đặc thù dành riêng cho NTD mà chủ thể pháp luật dân sự thông thường không có.
Lúc này, pháp luật về BVQLNTD như một công cụ can thiệp từ bên ngoài để uốn nắn quan hệ tiêu dùng. Các tài liệu đều có những phân tích liên quan nhằm chỉ ra điểm chung và đặc điểm riêng biệt so với các lĩnh vực pháp luật khác. Theo đó, pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD có những đặc điểm sau: i) áp đặt các điều kiện bắt buộc thương nhân phải tuân thủ để khắc phục những bất lợi của người tiêu dùng trong quan hệ với nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ; ii) xác định trách 8 nhiệm sản phẩm một cách nhiêm khắc và mở rộng về chủ thể chịu trách nhiệm; iii) thiết lập những ngoại lệ so với những nguyên tắc tố tụng dân sự truyền thống nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người tiêu dùng tham gia giải quyết tranh chấp liên quan đến việc quyền lợi của mình bị vi phạm. Nghiên cứu về cấu trúc pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD tác giả Nguyễn Thị Thư trong Luận án tiến sĩ luật học: "Hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD ở việt nam hiện nay" [77] xác định gồm: i) các quy định về quyền và nghĩa vụ của NTD và trách nhiệm của các bên liên quan; ii) các quy định về nghĩa vụ và trách nhiệm của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho NTD; iii) các quy định về cơ chế giải quyết tranh chấp tiêu dùng giữa NTD và thương nhân; iv) các quy định về trách nhiệm của tổ chức xã hội trong việc tham gia bảo vệ quyền lợi NTD; v) các quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD; vi) các quy định về kiểm soát các điều khoản giao dịch không công bằng; vii) các hành vi bị cấm và chế tài xử lý với hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD.
Tác giả Phạm Thị Hồng Yến trong tài liệu [94] cũng đã đề cập đến nội dung quy định pháp lý về ATVSTP của Việt Nam điều chỉnh hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu và nhập khẩu thực phẩm ở Việt Nam. Trong đó, tác giả đề cập đến các quy định về chính sách chung; các hành vi bị cấm khi tham gia kinh doanh, chế biến thực phẩm ở Việt Nam; quy định về điều kiện để bảo đảm ATVSTP; điều kiện để tham gia sản xuất kinh doanh thực phẩm; trình tự, thủ tục và phương thức, nguyên tắc kiểm tra ATVSTP nhập khẩu; điều kiện bảo đảm an toàn với thực phẩm xuất khẩu; quảng cáo, ghi nhãn thực phẩm; kiểm nghiệm thực phẩm, phân tích nguy cơ đối với ATVSTP, phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục sự cố ATVSTP; xử phạt vi phạm hành chính về ATVSTP; thanh tra, kiểm tra chuyên ngành thực phẩm. Luận văn Thạc sĩ luật học: “Pháp luật về kiểm soát ATVSTP trong hoạt động thương mại ở Việt Nam”, tác giả Đặng Công Hiến đề cập ở góc độ pháp luật về ATVSTP đã nhận xét: i) về mặt hình thức pháp lý, hệ thống văn bản pháp luật về kiểm soát ATVSTP trong hoạt động thương mại ngày càng được nâng cao về giá trị hiệu lực pháp lý; ii) về nội dung, các quy định kiểm soát ATVSTP trong hoạt động thương mại ngày càng tiến bộ, bao quát và đầy đủ hơn, đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới. 9 Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trực diện về khái niệm, cấu trúc pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP hiện nay còn rất ít, chủ yếu mới đề cập đến hệ thống pháp luật về ATVSTP dưới dạng thống kê hoặc đánh giá mức độ phù hợp; còn thiếu vắng các công trình nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm, cấu trúc pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực ATVSTP.