CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI LÔI KÉO KHÁCH HÀNG BẤT CHÍNH 1. Tổng quan về cạnh tranh không lành mạnh Cạnh tranh là một trong ba quy luật phổ biến của nền kinh tế thị trường, đóng vai trò quan trọng và là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, góp phần nâng cao đời sống của con người.2 Bản chất của cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh nhằm giành lấy một lợi thế nhất định để đạt được những mục tiêu trong kinh doanh cũng như đảm bảo sự tồn tại của các chủ thể đó trong thị trường. Từ đây, trong quá trình cạnh tranh, với nền kinh tế thị trường đa dạng thành phần cùng quyền tự do kinh doanh, các chủ thể kinh doanh luôn tìm mọi phương thức để thu hút khách hàng, mở rộng thị phần, do đó, bên cạnh việc sử dụng các biện pháp cạnh tranh chính đáng như chất lượng sản phẩm, giá cả sản phẩm, chế độ chăm sóc khách hàng, nguồn lực, khả năng kinh doanh,… thì một số chủ thể kinh doanh còn sử dụng các biện pháp cạnh tranh không chính đáng nhằm làm giảm khả năng cạnh tranh và gây thiệt hại cho đối thủ, đó là những hành vi CTKLM. Như vậy, CTKLM luôn có bản chất là không đẹp, bất chính nhằm vào đối thủ cạnh tranh cụ thể nào đó, nó là những hành vi cạnh tranh gây cản trở hoạt động hoặc gây thiệt hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến chủ thể kinh doanh khác.3 Các hành vi CTKLM xuất hiện từ rất sớm, cùng với sự xuất hiện của việc thừa nhận và bảo hộ quyền kinh doanh, vì thế, pháp luật chống CTKLM là lĩnh vực pháp luật hình thành và phát triển sớm hơn so với pháp luật chống hạn chế cạnh tranh và kiểm soát độc quyền.4 Pháp luật chống CTKLM được ra đời nhằm đảm bảo các hoạt động kinh doanh được diễn ra một cách công bằng và không bị ảnh hưởng bởi các tác động tiêu cực từ những hành vi CTKLM.
Ở góc độ pháp luật quốc tế, Điều 10 bis Công ước Paris 1883 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (được bổ sung vào Công ước năm 1900 và được sửa đổi lần cuối theo Văn bản Stockholm năm 1967) quy định hành vi CTKLM rằng: “Bất kỳ hành vi cạnh tranh nào đi ngược lại các thông lệ trung thực, thiện chí trong công nghiệp hoặc trong thương mại đều là hành vi cạnh tranh không lành mạnh”. Quy định này được xem là một trong những định nghĩa pháp lý phổ biến và lâu đời nhất5, tuy nhiên tiêu chí đánh giá về tính lành mạnh và không lành mạnh của hành 2 Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại, Nhà xuất bản Hồng Đức, tr.1 3 Tăng Văn Nghĩa (2009), Giáo trình Luật Cạnh tranh, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, tr. 133 4 Trường Đại học Luật Tp.
Hồ Chí Minh, tlđd (2), tr. 35, 36 5 Đoàn Tử Tích Phước, “Chế định cạnh tranh không lành mạnh trong pháp luật cạnh tranh”, http://www.vn/Modules/CMS/Upload/31/2009_8_11/Bai%20viet%20Toa%20dam%20ve%20CTKL M%20-%20Mr%20Phuoc.doc, truy cập ngày 20/3/2019 5 vi cạnh tranh là “các thông lệ trung thực và thiện chí” vẫn chưa rõ ràng và ổn định, thể hiện ý bỏ ngỏ cho pháp luật quốc gia của các nước thành viên tự định đoạt, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và lịch sử của quốc gia đó. Ở Việt Nam, trên tinh thần của Công ước Paris, LCT 2004 đã quy định về hành vi CTKLM như sau: “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng”6. Tuy nhiên, trong quá trình thực thi, khái niệm này còn bộc lộ một số điểm hạn chế bởi tiêu chí đánh giá tính lành mạnh và không lành mạnh còn chưa rõ ràng, chỉ mang tính chung chung, trừu tượng và khó xác định mà không có căn cứ lý giải cụ thể.
Xét thấy, nếu như Công ước Paris sử dụng hai tiêu chí để đánh giá tính lành mạnh, không lành mạnh của hành vi cạnh tranh là “tính trung thực” và “tính thiện chí” thì LCT 2004 không những không bổ sung thêm tiêu chí nào mà còn giản lược hơn với khái niệm đạo đức kinh doanh dẫn đến khó khăn khi xem xét các hành vi CTKLM trên thực tế. Ngoài ra, phạm vi đối tượng chịu tác động của hành vi là khá rộng bao gồm cả lợi ích nhà nước, cả phương diện lý luận cũng như thực tiễn pháp lý khó có thể nhận ra hậu quả “lợi ích của Nhà nước” bị xâm hại bởi hành vi CTKLM, “lợi ích nhà nước” bị xâm hại bởi hành vi CTKLM cũng không mang tính tiêu biểu, không phổ biến trong quy định pháp luật về CTKLM của nhiều quốc gia7, vì thế đây được xem là điểm mở rộng không cần thiết, không phù hợp với bản chất của loại vi phạm vốn đặc trưng ở việc gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh8. Xuất phát từ những hạn chế, thiếu xót trong quy định về hành vi CTKLM của LCT 2004, LCT 2018 được Quốc hội thông qua ngày 12/6/2018 và có hiệu lực từ 01/7/2019 đã có những thay đổi tích cực đối với quy định về hành vi CTKLM, theo đó, “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi của doanh nghiệp trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác”9. Xuất phát từ khái niệm này, có thể xác định các đặc điểm pháp lý của hành vi CTKLM như sau: - Chủ thể thực hiện hành vi CTKLM là doanh nghiệp, doanh nghiệp ở đây được hiểu theo LCT 2018 là khái niệm quy ước để chỉ tổ chức, cá nhân kinh doanh 6 Khoản 3 Điều 4 Luật Cạnh tranh 2004 7 Hoàng Minh Chiến (2016), Quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo luật cạnh tranh và một số bất cập, Tạp chí Luật học, số 8 (195)/2016, tr.
35 8 Đặng Quốc Chương (2019), Một số luận giải về hành vi lôi kéo khách hàng bất chính trong Luật cạnh tranh 2018, Tài liệu hội thảo Những điểm mới của Luật cạnh tranh 2018 và Góp ý cho dự thảo nghị định hướng dẫn Luật cạnh tranh 2018, Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh tr. 23 9 Khoản 6 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2018 6 bao gồm cả doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.10 - Mục đích của hành vi CTKLM là nhằm cạnh tranh trong kinh doanh. Điều đó trước hết có nghĩa là doanh nghiệp nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh nhất định so với đối thủ cạnh tranh thông qua hành vi.11 Tuy nhiên điều này không có nghĩa là khi vi phạm, doanh nghiệp luôn tác động trực tiếp lên đối thủ cạnh tranh mà nhiều trường hợp khách hàng là đối tượng tác động trực tiếp từ hành vi vi phạm.12 - Tính chất của hành vi CTKLM là trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh.
Có thể thấy đây là sự thay đổi tiến bộ, khắc phục được nhược điểm không rõ ràng, trừu tượng, chung chung của LCT 2004, bởi các nguyên tắc thiện chí, trung thực hay tập quán thương mại đã được ghi nhận rõ ràng trong các văn bản pháp luật về dân sự, thương mại. - Hậu quả của hành vi CTKLM là gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác. Như vậy, LCT 2018 đã loại bỏ hậu quả gây thiệt hại cho quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng và gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước. Quy định về hậu quả gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh cho thấy sự tiếp cận khá phù hợp của LCT 2018, theo đó, hành vi vi phạm luôn được soi xét trong mối tương quan với đối thủ cạnh tranh.13 Bên cạnh các nguyên tắc mang tính định tính về CTKLM, LCT 2018 cũng đưa ra danh sách các hành vi CTKLM bị cấm tại Điều 45, tuy nhiên danh mục hành vi CTKLM này lại không có “điều khoản quét” như LCT 2004.
Khi không đưa ra “điều khoản quét” thì việc quy định về các hành vi CTKLM khác theo tiêu chí xác định tại Khoản 6 Điều 3 của LCT 2018 có thể sẽ gây khó khăn trong quá trình thực thi vì không có cơ sở để xử lý hành vi có dấu hiệu CTKLM nhưng chưa được quy định tại Điều 45 LCT 2018. Hành vi lôi kéo khách hàng bất chính trong pháp luật cạnh tranh 1. Bối cảnh cạnh tranh không lành mạnh bằng lôi kéo khách hàng bất chính Hành vi LKKHBC bắt đầu nhen nhóm hình thành từ khi thông tin về hàng hóa, dịch vụ được truyền tải đến khách hàng thông qua hình thức truyền miệng, theo đó, ở thời kì cổ đại và trung đại, các thương nhân trả tiền cho những người rao hàng 10 Khoản 1 Điều 2 Luật Cạnh tranh 2018 11 Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh (2012), tlđd (2), tr.
72 12 Đặng Quốc Chương, tlđd (8), tr. 24 13 Đặng Quốc Chương, tlđd (8), tr. 25 14 Phạm Trí Hùng (2019), Những điểm mới trong quy định của Luật cạnh tranh năm 2018 về hành vi cạnh tranh không lành mạnh, Tài liệu hội thảo Những điểm mới của Luật cạnh tranh 2018 và Góp ý cho dự thảo nghị định hướng dẫn Luật cạnh tranh 2018, Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, tr.
18 7 công cộng tại thị trấn để họ rao các thông tin hàng hóa, dịch vụ cho mình.