Chương 1 KHÁI QUAT VE CĂN HỘ CHUNG CƯ VÀ PHÁP LUẬT VE BẢO VỆ QUYEN LỢI NGƯỜI TIỂU DUNG TRONG LĨNH VỰC MUA BAN CAN HO CHUNG CƯ 1. Khai quát về căn hộ chung cư và hợp đồng mua bán căn hộ chung cư 1. Khái niệm, đặc điểm căn hộ chung cư 1. Khai niệm căn hộ chung cu Theo quy định pháp luật Việt Nam, nha chung cu là nhà có từ 2 tang trở lên, có nhiều căn hộ, có lối đi, cầu thang chung, có phần sở hữu riêng, phần sở hữu chung và hệ thống công trình hạ tầng sử dụng chung cho các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức, bao gồm nhà chung cư được xây dựng với mục đích để ở và nhà chung cư được xây dựng có mục đích sử dụng hỗn hợp dé ở và kinh doanh'.
Theo quy định này căn cứ vào mục đích sử dụng thì nhà chung cư gồm 2 loại: Nhà chung cư được xây dựng để ở, bao gồm các căn hộ do khách hàng mua để ở, không vì mục đích kinh doanh, sinh lợi. Nếu là nhà chung cư được xây dựng chỉ với mục đích để ở, thì tuyệt đối không được mua, thuê dé sử dụng các căn hộ làm văn phòng giao dịch hay dé kinh doanh kiếm lợi. Điều này được khẳng định tại khoản 11 Điều 6 Luật Nha ở 2014: “Cam sử dụng căn hộ chung cư vào mục đích không phải để ở”. Người mua căn hộ của chủ đầu tư với mục đích để ở sẽ là người tiêu dùng theo quy định của Luật Bảo vệ quyên lợi người tiêu dùng.
Hợp đồng theo mẫu trong lĩnh mua bán căn hộ chung cư dùng dé ở thuộc danh mục hang hóa thiết yêu phải đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng theo quy định của Quyết ! Luật Nhà ở năm 2014, điều 3 khoản 3 định 02/2012/QĐ-TTg ngày 13/01/2012. Nhà chung cư được xây dựng có mục đích hỗn hợp để ở và để kinh doanh. Ngoài các căn hộ dùng để ở, còn có các căn hộ có mục đích sử dụng là thương mại, dịch vụ như cơ sở lưu trú du lịch, công trình dịch vụ thương mại, văn phòng (căn hộ officetel) và các công trình khác. Nhà chung cư là tập hợp các căn hộ chung cư được xây dựng trong một khối thống nhất mà ở đó các chủ sở hữu căn hộ chung cư bị hạn chế một phần quyền sở hữu của mình.
Ngoài phần diện tích bên trong căn hộ hoặc bên trong phần diện tích khác trong căn hộ chung cư được công nhận là sở hữu riêng của chủ sở hữu căn hộ chung cư và các thiết bị sử dụng riêng trong căn hộ hoặc trong phan diện tích khác của chủ sở hữu căn hộ chung cư được gọi là phần sở hữu riêng, các phần diện tích còn lại được coi là phần sở hữu chung. Như vậy chủ sở hữu căn hộ chung cư sẽ khác với các chủ sở hữu tài sản thông thường khác vì họ bị giới hạn quyền sở hữu riêng bằng việc sở hữu chung trong nhà chung cư. Căn cứ vào khái niệm nhà chung cư, ta có thể hiểu căn hộ chung cư là bộ phận cầu thành và là cấu thành cơ bản của nha chung cư, thuộc phần SỞ hữu riêng của chủ sở hữu căn hộ chung cư. Cần phân biệt rõ giữa khái niệm căn hộ chung cư với nhà chung cư và nhấn mạnh rằng căn hộ chung cư (do người tiêu dùng mua của chủ đầu tư nhằm mục đích dé ở) - cấu thành nhỏ trong nhà chung cư mới chính là đối tượng của hợp đồng mua bán căn hộ chung cư thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn này.
Đặc điểm căn hộ chung cư Trong phạm vi luận văn này tác giả chỉ xét đến căn hộ chung cư để ở (không xét đến căn hộ mua với mục đích kinh doanh). Do đặc tính là tài sản có giá trị nhưng người sở hữu lại bị hạn chế quyền sở hữu so với các chủ sở hữu tài sản khác nên căn hộ chung cư ngoài những đặc điêm chung của nhà ở 10 nói chung, còn mang những đặc điểm riêng biệt như sau: Thứ nhất, căn hộ chung cư là căn hộ khép kín, thuộc phần sở hữu riêng của chủ căn hộ. Phần sở hữu riêng bao gồm phần diện tích bên trong căn hộ, diện tích ban công, lô gia gắn liền với căn hộ đó; Hệ thống trang thiết bị kỹ thuật sử dụng riêng gan liền với căn hộ hoặc gắn liền với phan diện tích khác thuộc sở hữu riêng. Nếu một căn nhà ở riêng biệt, chủ sở hữu nhà được sở hữu toàn bộ căn nhà bao gồm toàn bộ tường xây bao quanh nhà thì chủ sở hữu căn hộ chung cư lại không được sở hữu riêng hoàn toàn bức tường ngăn giữa 02 căn hộ chung cư, mặc cho Luật quy định các chiều trái ngược nhau như: trước thời điểm Thông tư 03/2014/TT-BXD có hiệu lực thì diện tích căn hộ có 02 cách tính là tính từ tim tường ngăn giữa hai căn hộ hoặc tính theo diện tích thông thủy.
Với cách tính diện tích căn hộ từ tim tường thì có thé hiểu, người mua căn hộ sẽ mua 1⁄2 tường ngăn giữa căn hộ, nhưng theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 49 Nghị định 71/2010/NĐ-CP thì tường phân chia các căn hộ thuộc sở hữu chung. Thứ hai, căn hộ chung cư khi bàn giao cho người tiêu dùng có thê là căn hộ đã hoàn thiện hoặc là căn hộ dự án. Người mua hay người tiêu dùng khi mua căn hộ dự án tức là mua căn hộ hình thành trong tương lai, có thê xảy ra nhiều van dé bat cập, ảnh hưởng đến quyền lợi của người mua. Phân loại căn hộ chung cư Căn cứ vào sự tồn tại của chung cư thì được chia ra làm hai loại là căn hộ chung cư đã hoàn thiện và căn hộ chung cư dự án.
Căn hộ chung cư đã hoàn thiện (Finished Units) bao gồm: Căn hộ hoàn thiện cơ bản và căn hộ hoàn thiện đầy đủ. Căn hộ hoàn thiện cơ bản là căn hộ mà "oan như” người mua chi can "don đồ vào là ở". Tất cả các công đoạn hoàn thiện thiết yếu đã được chủ đầu tư hoàn thành. Tuy nhiên, hãy chú ý hoàn thiện ở đây là hoàn thiện ở II mức độ cơ bản không bao gồm giường, sofa, tủ, kệ hay tủ lạnh.
(các thiết bị điện tử khác) Căn hộ hoàn thiện đầy đủ: Với một số dự án đặc biệt hoặc các căn hộ đặc biệt trong dự án như Penthouse, sky villa, garden villa,. một số chủ đầu tư sẽ trang bị đầy đủ nội thất và ban giao cho khách hàng, chỉ cần xách vali vào là ở. Căn hộ hoàn thiện đầy đủ sẽ có các hạng mục bồ sung cho phan hoàn thiện cơ bản, bao gồm toàn bộ phần hoàn thiện thô, hoàn thiện nội thất và trang thiết bị từ giải trí đến gia dụng. Căn hộ chung cư dự án là căn hộ chung cư chưa hình thành trong thực tế.
Chủ đầu tư giao bán căn hộ chung cư hình thành trong tương lai. Đây là hình thức căn hộ chung cư được chủ đầu tư bán chủ yếu hiện nay. Vì chủ đầu tư không đủ tiềm lực tài chính để hoàn thiện một tòa nhà chung cư nếu không huy động được tiền từ người mua. So với nhiều loại hình đầu tư căn hộ chung cư dự án, việc mua căn hộ chung cư hoàn thiện có tính an toàn rất cao.
Căn hộ chung cư còn đang xây dựng có thể vướng phải vấn đề về nguồn vốn, tiến độ, thời điểm bàn giao nhà, pháp lý. Nhà phó, đất nền có thé gặp tình trạng giải toa, đóng băng. Còn căn hộ chung cư hoàn thiện hầu như tránh được hết những rủi ro trên, luôn có nhu cầu lớn và giá tăng ôn định từ 5 — 10%/năm. Hơn thé, trước khi mua, người mua có thé quan sát cấu trúc, chat lượng nhà ở, kiểm tra hệ thông phòng cháy chữa cháy, an toàn điện, van dé an ninh, vệ sinh, chỗ dé xe.
nên sự quyết định sẽ chính xác hơn. Căn cứ vào giá tri sử dụng của căn hộ chung cu, chia ra làm 2 loại bao gồm căn hộ chung cu dùng dé ở, căn hộ chung cu dùng dé kinh doanh. Căn hộ chung cư để ở là căn hộ chung cư mua với mục đích ở, sinh sống trong một thời gian nhất định. Đây là đối tượng nghiên cứu của luận văn này.
12 Căn hộ chung cư dùng dé kinh doanh là căn hộ chung cư mà người mua mua không dùng để ở, sinh sống mà để kinh doanh, sinh lợi nhuận. Có thê cho thuê, bán lại dé ăn chênh lệch,.Đây không phải đối tượng nghiên cứu của Luận văn này. Khái quát về hợp đồng mua bán căn hộ chung cư giữa chủ dau tu và người tiêu dùng 1. Khái niệm hợp đồng mua bán căn hộ chung cư Việc mua bán căn hộ chung cư bắt buộc phải được thực hiện thông qua hợp đồng.
Tuy pháp luật hiện hành không có quy định cu thé về khái niệm hợp đồng mua bán căn hộ chung cư nhưng dựa vào bản chất của loại hợp đồng mua bán tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự và những đặc trưng của hợp đồng mua bán nhà ở theo Luật Nhà ở năm 2014 ta có thé đưa ra khái niệm về hợp đồng mua bán căn hộ chung cư như sau: Hợp đồng mua bản căn hộ chung cư xét trong phạm vì nghiên cứu của luận văn này là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiêu bên nhằm xác lập, thay đổi, chấm ditt quyên và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên, theo đó bên ban là chủ dau tr có nghĩa vụ giao căn hộ chung cư, nhận tiền và chuyển quyên sở hữu cho bên mua (khách hàng), còn bên mua có nghĩa vụ trả tiền cho bên bán và xác lập quyền sở hữu theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư được ký kết giữa người bán (chủ đầu tư) - với người mua (người tiêu dung). Theo đó chủ dau tư thu được một khoản tiền nhất định và chuyển giao quyền sở hữu căn hộ chung cư cho người mua. Ngược lại, người mua trả tiền và trở thành chủ sở hữu căn hộ (chủ hộ).
Người mua sử dụng căn hộ dé ở, không sử dụng với mục đích khác như kinh doanh, cho thuê lại để kiếm lợi. Bên bán (chủ đầu tư): phải là doanh nghiệp hoặc hợp tác xã và đáp ứng các điều kiện đặc biệt để kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng và kinh doanh 13 bất động sản theo yêu cầu của Luật Xây dựng năm 2014 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014.