CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN CƠ BẢN VE THI HANH PHÁN QUYẾT TRONG TAI THUONG MAI 1. Khái niệm trong tài thương mai Kinh tế thị trường là nền kinh tế mà trong đó bên mua và bên bán thiết lập quan hệ với nhau theo quy luật cung cau, giá trị để xác định giá cả và số lượng hàng hoá, dịch vụ trên thị trường. Doanh nghiệp cũng là chủ thể cấu thành của nền kinh tế, chúng được thành lập và hoạt động dưới nhiều hình thức da dạng phong phú như doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phan hay công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, hai thành viên trở lên. Nhằm đáp ứng được nhu cau phát triển kinh tế, sự liên kết giữa các doanh nghiệp này ngày càng trở nên phô biến với những giao kết thương mại mang lại lợi ích cho các bên tham gia.
Tuy vậy, bên cạnh những giao dịch “thudn buém xuôi gió ”, vẫn luôn tiềm an những nguy cơ gây phát sinh mâu thuẫn, bat đồng giữa các bên dẫn tới các tranh chấp thương mại. Tranh chấp thương mại có một số đặc điểm như được phát sinh từ hoạt động thương mại — hoạt động nhằm mục đích sinh lợi nhuận gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiễn thương mại.; chủ thể chủ yếu là các thương nhân; nội dung là những mâu thuẫn, bất đồng, xung đột về lợi ích vật chất của các bên trong hoạt động thương mại, thường là giá trị vật chất với giá trị lớn mà các bên hướng tới. Trên thực tế, có nhiều phương thức giải quyết tranh chấp thương mại như giải quyết bằng phương thức hòa giải, thương lượng, trọng tài hay tòa án. Mỗi phương thức đều có ưu, — nhược điểm riêng.
Nếu phương thức giải quyết tranh chấp bang tòa án mang tính quyền lực Nhà nước, — quyền tư pháp, — biện pháp mà cực chang đã các bên mới lựa chọn dé bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì dường như phương thức giải quyết tranh chấp bang trọng tài thương mại lại linh hoạt, kín đáo và được nhiều bên tranh chấp lựa chọn. Trên thế giới, Trọng tài thương mại là một khái niệm “than thuộc” trong đời sống kinh tế, đặc biệt là ở các nước phát trién. Tuy vay, có cach hiểu khác nhau về khái niệm này. Theo cuốn Đại từ điển Kinh tế Thị trường, “Trọng tài là một phương thức giải quyết một cách hòa bình các vụ tranh chap.
Là chỉ đôi bên đương sự tự nguyện đem những sự việc, những van đề tranh chấp giao cho người thứ ba có tư cách công bằng, chính trực xét xử, phán quyết do người này đưa ra có hiệu lực ràng buộc với cả hai bên ””. Còn theo Hiệp hội Trọng tài Hoa Kỳ: “7rọng tài thương mai là cách thức giải quyết tranh chấp bằng cách đệ trình vụ tranh chấp cho một hoặc một số người xem xét, giải quyết và họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng có giá trị bắt buộc các bên tranh chấp phải thi hành GO Việt Nam, pháp luật tiếp cận khái niệm “Trọng tài” là một phương thức giải quyết tranh chấp như hầu hết pháp luật các nước nhưng sử dụng thuật ngữ “Trọng tài thương mại” để gọi tên cho phương thức này. Khoản 1, Điều 3 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (sau đây gọi tat là Luật LTTTM ) quy định “L7TT7M là phương thứcgiải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được tiễn hành theo quy định cua Luật này ”. a3 Bên cạnh phương diện là phương thức giải quyết tranh chấp, trọng tài thương mại còn được hiểu là cơ quan giải quyết tranh chấp.
Với cách hiểu này, trọng tài sẽ bao gồm những cá nhân được các bên lựa chọn để giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa họ hoặc trọng tài là cơ quan trung gian được các bên đương sự giao tranh chấp để xét xử. Về mặt tổ chức, Trọng tài có thé là các trung tâm trọng tài thương mại — các cơ quan chuyên biệt hoạt động thường xuyên, có trụ sở làm việc, danh sách trọng tài viên và điều lệ hoạt động riêng của mình hoặc chỉ là cơ quan giải quyết tranh chấp được thành lập theo vụ việc và tự giải tán sau khi hoàn thành việc giải quyết tranh chấp (trọng tài ad-hoc). ? Viện nghiên cứu và phô biến tri thức Bách Khoa, Đại từ điển kinh tế thị trường (1998), tr.com/wp-content/uploads/2016/01/07192014-The-Jurisdiction-between-the-Arbitration- Centre-and-the-Arbitral-Tribunal.pdf, truy cập ngày 20/5/2018 Ở Việt Nam, TTTM là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại. Với tư cách là thiết chế giải quyết tranh chấp, TTTM có thâm quyên giải quyết tất cả các tranh chấp thương mại gồm: Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài (Điều 2, Luật TTTM).
Khi các bên tham gia tranh chấp đã có thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, các chủ thé này có quyền lựa chọn giải quyết tranh chấp này tại trong tai thường trực (quy chê) hoặc trong tài vụ việc. Trọng tài vụ việc là hình thức trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận thành lập dé giải quyết vụ tranh chấp giữa các bên và Trọng tài sẽ tự cham dứt sự ton tại khi giải quyết xong vụ tranh chấp. Bản chất của Trọng tài vụ việc được thé hiện qua các đặc trưng cơ bản như: Trọng tài vụ việc chỉ được thành lập khi phát sinh tranh chấp và tự cham dứt hoạt động (tự giải thé) khi giải quyết xong tranh chấp; Trọng tài vụ việc không có trụ sở thường trực, không có bộ máy điều hành (vì chỉ được thành lập dé giải quyết vụ tranh chấp theo sự thỏa thuận của các bên) và không có danh sách Trọng tài viên riêng. Trọng tài viên được các bên chọn hoặc được chỉ định có thê là người có tên trong danh sách Trọng tài viên của bất cứ trung tâm nào hoặc không phải là trọng tài viên của trung tâm nào; Trọng tài vụ việc không có quy tắc tố tung dành riêng cho mình.
Trọng tai quy chế là hình thức giải quyết tranh chap tại trung tâm trọng tài thành lập theo quy định của Luật trọng tài thương mại. Theo pháp luật về TTTM, Trọng tài quy chế được tổ chức dưới dạng các Trung tâm trọng tài. Trung tâm trọng tài có tư cách pháp nhân, có chức năng tổ chức, điều phối hoạt động giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài và hỗ trợ Trọng tài viên về các mặt hành chính, văn phòng và các trợ giúp khác trong quá trình tố tụng Trọng tài.Trung tâm TTTM được thành lập theo sáng kiến của các Trọng tài viên, sau khi được sự cho phép của cơ quan Nhà nước có thâm quyền, do đó, không nằm trong hệ thống cơ quan nhà nước. Hoạt động 10 của Trung tâm TTTM dựa trên nguyên tắc tự trang trải trên cơ sở thu phí từ các vụ giải quyết tranh chấp chứ không được cấp kinh phí hoạt động từ ngân sách Nhà nước.
Phán quyết của trọng tài không nhân danh quyền lực Nhà nước. Khái niệm, đặc điểm phán quyết trọng tài thương mại 1. Khải niệm phan quyết trọng tài thương mại Khi các bên tranh chấp có thỏa thuận trọng tài đối với việc giải quyết tranh chấp giữa các bên,một bên khởi kiện tại trọng tài và Trọng tải sẽ thụ lý để giải quyết theo một trình tự, thủ tục mà pháp luật về TTTM quy định. Kết thúc quá trình giải quyết tranh chấp (gọi là tố tụng trọng tài), TTTM sẽ đưa ra quyết định giải quyết vụ việc dé các bên thi hành.
Dưới giác độ ngôn ngữ hoc, Từ dién tiếng Việt nêu rõ phán quyết được hiểu là “quyết định dé mọi người phải tuân theo” hay theo Dai từ điển kinh tế thị trường, “phán quyết trọng tài là quyết định mà trọng tài viên hoặc cơ quan trọng tài, theo trình tự luật định, sau khi xét xử, đưa ra đối với vụ việc đôi bên đương sự tranh chấp”. Dưới giác độ luật học, để hiểu phán quyết trọng tài thì trước hết cần làm rõ các loại quyết định của trọng tài. Các quyết định trong tài có thé được phân thành ba loại đó là: quyết định cuối cùng, quyết định từng phần và tạm thời, và quyết định dựa trên cơ sở sự thỏa thuận của các bên. Quyết định cuối cùng là quyết định do hội đồng trọng tài ban hành, giải quyết mọi vấn đề (hoặc các vấn đề còn lại) đã được đưa ra trọng tài.
Quyết định từng phần và tạm thời là quyết định do hội đồng trọng tài ban hành dé giải quyết một hoặc một số vấn đề riêng rẽ trong quá trình trọng tài trước khi ban hành quyết định cuối cùng. Quyết định trên cơ sở thỏa thuận là quyết định do hội đồng trọng tài đưa ra trên cơ sở thỏa thuận hòa giải mà các bên tranh chấp đạt được trong * Viện ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản từ điển Bách Khoa, 2010, tr. 809 5 Viện nghiên cứu và phô biên tri thức Bách Khoa, Đại từ dién kinh tê thi trường, 1998, tr.850 11 khi đang tiến hành tố tung trọng tài.” Về co ban, quyết định trong tài cuối cùng sẽ được đưa ra sau cùng, sẽ giải quyết hết tất cả các mâu thuẫn, xung đột đang tồn tai, là kết quả của quá trình tố tụng trọng tài đồng thời chấm dứt thâm quyền của hội đồng trọng tài bởi khi quyết định cuối cùng được ban hành, hội đồng trọng tài sẽ hết trách nhiệm và đã hoàn thành nhiệm vụ của mình. Theo luật mẫu UNICITRAL, quyết định của hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp và chấm dứt tố tung trọng tài được gọi là phán quyết trọng tài.
Trong khi đó Công ước New York — Công ước điều chỉnh việc công nhận và thi hành phán quyết trọng tài đưa ra định nghĩa: “Thuật ngữ các phán quyết trọng tai bao gồm không chỉ những phán quyết dua ra bởi các trọng tài được chỉ định cho từng vụ mà con bao gom cac phan quyết dua ra bởi các tổ chức trọng tài thường trực được các bên dua vụ việc ra giải quyết ”. Ở Việt Nam, về khái niệm phán quyết Trọng tài, trong quá trình tiếp thu các ý kiến góp ý để chỉnh lý, hoàn thiện Luật TTTM, có ý kiến đề nghị không sử dụng khái niệm “Phán quyết Trọng tài” mà dùng khái niệm “Quyết định Trọng tài”.