Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE PHAP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHAP THUONG MAI BANG TRONG TAI VU VIEC TAI VIET NAM 1. Khái niệm, ban chat của trong tài vụ việc trong giải quyết các tranh chấp thương mại 1. Khai niệm trọng tài vụ việc Có nhiều cách diễn đạt khác nhau về thuật ngữ “Trọng tài vụ việc” (TTVV). TTVV có thé được hiểu là hình thức trọng tài được lập ra theo yêu cầu của các đương sự để giải quyết một vụ tranh chấp cụ thé và tự giải thé khi tranh chap đó đã được giải quyết.
TTVV có nghĩa là trọng tài không nhất thiết được tiến hành theo quy tắc của một tổ chức trọng tài thường trực. Các bên không bắt buộc phải tiến hành trọng tài theo quy tắc của một tô chức trọng tài thường trực. Họ có thể tự quy định quy tắc tố tụng riêng. Nói cách khác, TTVV là trọng tài tự tiễn hành [13].
Giáo trình Luật Thương mại của Trường Đại học Luật Hà Nội định nghĩa “TTVV là phương thức trọng tai do các bên tranh chấp thỏa thuận thành lập để giải quyết vụ tranh chấp giữa các bên và trọng tài sẽ tự chấm dit ton tại khi giải quyết xong vụ tranh chấp” [L5, tr. Trọng tải vụ việc (trọng tài Ad-hoc) là loại hình trọng tài không có cơ quan thường trực, do các bên tranh chấp lập ra dé giải quyết vẫn dé mà họ yêu cầu. Trọng tài Ad-hoc không có quy chế hoạt động riêng và khi giải quyết van đề xong thì giải tán [4, tr. Như vậy, có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về TTVV, tuy nhiên trong khoa học pháp lý, TTVV được xem xét dưới hai góc độ: Là một hình thức giải quyết tranh chấp (hình thức trọng tài) và là cơ quan giải quyết tranh chấp (tổ chức trọng tài).
* Trọng tài vụ việc với tư cách là hình thức giải quyết tranh chấp: TTVV được hiểu là hoạt động của trọng tài viên, với tư cách là chủ thể thứ ba độc lập với các bên tranh chấp, xem xét và đưa ra phán quyết về vụ việc buộc các bên tranh chấp phải thi hành. TTVV chỉ được thành lập khi phát sinh tranh chấp và tự chấm dứt hoạt động khi giải quyết xong tranh chấp. Cũng giống như trọng tài thường trực, cơ chế giải quyết tranh chấp của TTVV là sự kết hợp giữa hai yếu tố: thỏa thuận và tài phán. Các bên muốn giải quyết tranh chấp bằng TTVV phải có thỏa thuận trọng tài.
Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận của các bên có liên quan đưa tranh chấp đã hoặc có thể sẽ xảy ra để giải quyết tranh chấp thông qua phương thức TTVV. Thông qua thỏa thuận TTVV, các bên gián tiếp thỏa thuận khước từ thẩm quyền xét xử của Tòa án. Như vậy, yếu tố cơ bản nhất trong phương thức trọng tài phải là yếu tô thỏa thuận. Nếu không có thỏa thuận trọng tài, sẽ không có hoạt động trọng tài.
Thỏa thuận trọng tài có thể là một điều khoản của hợp đồng (điều khoản trọng tài) hay thé hiện trong một văn bản riêng (hiệp định trọng tài, phụ lục trọng tài. Quan điểm chung của giới trọng tài học quốc tế (mà hiện nay đã được cụ thể hóa thành các quy định trong pháp luật về trọng tài của nhiều quốc gia) là điều khoản trọng tài độc lập với hợp đồng chính, sự vô hiệu của hợp đồng chính không tự động làm vô hiệu điều khoản trọng tài. Cũng giống như Tòa án, việc giải quyết tranh chấp qua trọng tài thường trực hay trọng tài vụ việc đều mang tính chất tài phán. Tuy nhiên, tính tài phán trong giải quyết tranh chấp của trọng tài và Tòa án có sự khác biệt cơ bản là: Thứ nhất, nêu Tòa án là cơ quan đại diện cho “quyền lực công” nhân danh Nhà nước ra phán quyết có tính bắt buộc đối với các đương sự thì Trọng tài là một tô chức phi Chính phủ, là một “Toa án tư” nhân danh ý chí của các bên tranh chấp để giải quyết.
Thư hai, bản an, quyết định của Tòa án nhân danh quyền lực nhà nước nên đương nhiên được cưỡng chế thi hành, trong khi quyết định trọng tài chỉ mang tính tài phán khi được Nhà nước hỗ trợ thi hành. “Đặc điểm cơ bản của cơ chế giải quyết tranh chấp bang trọng tài là sự kết hop hai yếu tô thỏa thuận và tài phan. Cụ thể, thỏa thuận làm tiền dé cho phán quyết và không thé có phan quyết thoát ly những yếu tô đã được thỏa thuận. Do vậy, vì bất kỳ lý do gi, nếu một tổ chức trọng tài đưa ra một phan quyết nào đó mà không dựa trên cơ sở sự thỏa thuận giữa các bên thì đó hoàn toàn không phải là một phán quyết trọng tài theo đúng nghĩa của nó ” [9, tr.
Như vậy, sự thỏa thuận và tài phán làm nên tính hai mặt của trọng tài. Chính tính hai mặt này tạo nên tính khác biệt của hình thức giải quyết tranh chấp bằng con đường trọng tài so với các hình thức giải quyết tranh chấp khác. * Trọng tài vụ việc với tư cách là một cơ quan giải quyết tranh chấp: TTVV được định nghĩa là: Cơ quan xét xử do các bên đương sự thỏa thuận, thành lập để giải quyết tranh chấp giữa các đương sự đó. Thành phan trọng tai do các bên đương sự thỏa thuận quyết định.
Trọng tài là một t6 chức xã hội nghề nghiệp, không nhân danh quyền lực nhà nước, tôn trọng toi da quyén tự định đoạt của đương sự. Do đó, phan quyết trọng tài không đương nhiên được cưỡng chế thi hành nếu không có sự hỗ trợ từ phía cơ quan tư pháp. Trọng tài có đội ngũ trọng tài viên không những am hiểu pháp luật mà còn am hiểu hoạt động kinh doanh. Các trọng tài viên, ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn, còn phải công tâm, vô tư, khách quan.
Đương sự có thể lựa chọn trọng tài viên trong hoặc ngoài danh sách của các trung tâm trọng tài để giải quyết tranh chấp cho mình. Trọng tài là một tổ chức phi Chính phủ, hoạt động trên cơ sở lấy thu bù chi, không nhận được sự hỗ trợ vật chất ban đầu từ Nhà nước, do vậy đã gặp rât nhiêu khó khăn. Trọng tài cân phải tạo được niêm tin đôi với các nhà kinh 10 doanh bằng chính các ưu điểm của mình mà các phương thức giải quyết tranh chấp khác không có, như: giải quyết nhanh chóng, dut điểm, bảo vệ được bí mật kinh doanh, thủ tục đơn giản, gọn nhẹ. Đặc biệt, với sự ra đời của Pháp lệnh Trọng tài Thương mại năm 2003 (PUT TM), sau đó là Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 (LTTTM), phán quyết của trọng tài trong nước được cưỡng chế thi hành mà không phải thông qua thủ tục công nhận của Tòa án.
Tham khảo kinh nghiệm lập pháp của 80 quốc gia trên thé giới cho thay hầu hết các quốc gia đều có những đạo luật (Trung Quốc, Singapore, Thái- lan, Hoa Kỳ, Anh.) hoặc quyền luật trong các bộ luật tố tụng dân sự (Đức, Nhật, Pháp) với tên gọi là Luật Trọng tài, không phân biệt tranh chấp dân sự và thương mại [18]. Ở Việt Nam, pháp luật điều chỉnh hoạt động trọng tài hiện nay được ghi nhận trong LTTTM và các văn bản hướng dẫn thi hành. Theo khoản 7, Điều 3, LTTTM (2010): “Trọng tài vụ việc là hình thức giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật này và trình tự, thủ tục do các bên thỏa thuận `. Điều 2, LTTTM cũng giới hạn thâm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài gồm tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; hoặc tranh chấp giữa các bên mà ít nhất một bên có hoạt động thương mại; hoặc tranh chấp giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài.
Như vậy, pháp luật Việt Nam chỉ thừa nhận trọng tài với tư cách là một hình thức, một cơ quan giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại chứ không giải quyết các tranh chấp dân sự theo nghĩa rộng như cách ghi nhận của pháp luật nhiều quốc gia. Giải quyết tranh chấp thương mại bằng phương thức TTVV là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của các trọng tài viên, với tư cách là bên thứ ba độc lập do các bên tranh chấp thỏa thuận lập ra, nhằm cham dứt mâu thuần, xung đột băng việc đưa ra phán quyết buộc các bên tranh chấp phải thi hành. Bản chất của trọng tài vụ việc II Bản chất của TTVV được thé hiện qua các đặc trưng cơ bản sau đây: Thứ nhất, TTVV chỉ được thành lập khi phát sinh tranh chấp và chấm dirt hoạt động (tự giải thể) khi giải quyết xong tranh chấp. Nếu như Trọng tài thường trực có trụ sở riêng, hoạt động theo quy tắc định sẵn thì tính chất “vụ việc” hay “lâm thời” của hình thức TTVV thể hiện ở chỗ Trọng tài chi được thành lập theo thỏa thuận của các bên tranh chấp dé giải quyết vụ tranh chấp cụ thê giữa các bên.
Tổ chức trọng tài này chỉ tồn tại và hoạt động trong thời gian giải quyết vụ tranh chấp giữa các bên. Khi giải quyết xong vụ tranh chấp, Trọng tài tự cham dứt hoạt động. Đặc trưng này thé hiện sự linh hoạt, chủ động của các bên khi giải quyết tranh chấp. Thứ hai, TTVV không có trụ sở thường trực, không có bộ máy điều hành (vi chỉ được thành lập dé giải quyết vụ tranh chấp theo sự thỏa thuận của các bên) và không có danh sách trọng tài viên riêng.
Trọng tài viên được các bên lựa chọn hoặc được chỉ định có thể là người có tên trong hoặc ngoài danh sách trọng tài viên của bất cứ trung tâm trọng tài nào. Đây cũng chính là ưu điểm lớn của tổ chức trọng tài này vì các bên có nhiều cơ hội lựa chọn được trọng tài viên có sự am hiểu sâu sắc về lĩnh vực đang xây ra tranh chấp. Từ đó, tạo điều kiện dé các bên có thé giải quyết vụ tranh chấp một cách nhanh chóng mà không tốn nhiều thời gian, tiền của. Thứ ba, TTVV không có quy tắc tố tụng có sẵn dành riêng cho minh.
Trọng tài vụ việc chỉ được các bên thành lập khi phát sinh tranh chấp nên quy tắc tố tụng dé giải quyết vụ tranh chấp phải được các bên thỏa thuận xây dựng. Tuy nhiên, để tránh lãng phí thời gian cũng như công sức đầu tư vào việc xây dựng quy tắc t6 tung, các bên tranh chấp có thé thỏa thuận lựa chọn bat kỳ một quy tac tố tung phổ biến nào, mà thông thường là quy tắc tố tụng của trung tâm trọng tài có uy tín ở trong nước và quốc tế.