Chương 1 10 vay thế chấp và các tổ chức tiết kiệm mua và bán những khoản vay liên quan nhằm giảm bớt tình trạng khan hiếm vốn trên thị trường tín dụng thế chấp bất động sản. Tuy nhiên, chỉ sự can thiệp của các ngân hàng cho vay thế chấp không đủ để giải quyết tình trạng mất cân đối này mà cần có thêm sự can thiệp của Chính phủ. Và lúc này Chính phủ Mỹ đã thành lập các tổ chức trung gian chuyên trách (Special Purpose Vehicle – SPV). Các tổ chức này mua lại các khoản cho vay thế chấp bất động sản trong tập hợp nợ tương ứng và bán cho công chúng đầu tư.
Những chứng khoán được phát hành trên cơ sở những tập hợp nợ có thế chấp đó được gọi là chứng khoán có thế chấp bất động sản làm đảm bảo (Mortgage Backed Securities – MBS). Các SPV ngày nay nổi tiếng với các trái phiếu chứng khoán hóa ngoài Fannie Mae có thể kể đến là Tổ chức thế chấp quốc gia (Government National Mortgage Association, viết tắt là GNMA, hay còn gọi là Ginnie Mae) được thành lập năm 1968. Hiệp hội này được Chính phủ Mỹ thành lập dưới dạng một công ty trực thuộc Vụ phát triển nhà ở và đô thị. Ginnie Mae thực hiện cam kết mua các khoản nợ có thế chấp bất động sản từ các nhà cho vay riêng lẻ với giá ưu đãi để trợ giúp sự phát triển khu vực nhà ở tại Mỹ.
Song song với việc mua các khoản nợ, Ginnie Mae còn thực hiện việc phát hành các chứng khoán được đảm bảo bằng một tập hợp các khoản vay có thế chấp bất động sản và sản phẩm đầu tiên Ginnie Mae cũng là sản phẩm đầu tiên của kỹ thuật chứng khoán hóa; là chứng khoán có thế chấp bất động sản làm bảo đảm lãi suất cố định (Fixed Rate Mortgage backed Securities) được phát hành vào năm 1970. Năm 1970, công ty cho vay mua nhà có thế chấp liên bang (The Federal Home Loan Mortgage Corporation – FHLMC hay Freddie Mac) ra đời và phát hành ra chứng khoán MBS đầu tiên vào năm 1981. Ngày nay các tổ chức này không chỉ chứng khoán hóa các khoản cho vay của các tổ chức tài trợ cho vay của nhà nước như FHA, VA mà chúng còn thực hiện chứng 123doc Chương 1 11 khoán hóa hoặc bảo đảm thanh toán cho trái phiếu chứng khoán hóa của các ngân hàng cho vay mua nhà khác, trong đó Ginnie Mae mua và bán các khoản cho vay do FHA và VA đảm bảo, còn Freddie Mac mua và bán các khoản cho vay thế chấp bất động sản không có bảo đảm của 2 cơ quan nói trên. Giai đoạn phát triển (từ 1980 đến nay) Kể từ năm 1980, kỹ thuật chứng khoán hóa phát triển mạnh ở Mỹ, ngoài việc chứng khoán hóa các khoản cho vay có thế chấp được chính phủ bảo đảm của GNMA, nhiều cơ quan khác của chính phủ và giới kinh doanh cũng đã phát hành MBS, quá trình chứng khoán hóa mở rộng và phát triển sang các khoản cho vay khác như: các khoản cho vay thương mại; cho vay tiêu dùng; các khoản phải thu của thẻ tín dụng… Năm 1987, chứng khoán hóa được thực hiện và phát triển ở Anh, sau đó là một loạt các nước Châu Âu khác như: Pháp, Đức, Italia…Tại Australia, giá trị các chứng khoán phát hành dựa trên các khoản vay thế chấp bất động sản chiếm vị trí chủ đạo trong việc chứng khoán hóa các khoản vay trung và dài hạn.
Tại Châu Á, một số nước có nền kinh tế phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Hồng Kông…cũng đã ứng dụng và phát triền kỹ thuật này. Trong đó TTCK Hồng Kông được khởi đầu vào năm 1994 với 4 loại chứng khoán dựa trên các khoản vay thế chấp bất động sản. Đặc biệt tại Malaysia đã ứng dụng kỹ thuật này từ năm 1986 với sự thành lập công ty chuyên trách chứng khoán hóa Cagamas Berhad, một dạng tổ chức trung gian chuyên trách như SPV ở Mỹ. SỰ CẦN THIẾT CỦA CHỨNG KHOÁN HOÁ KHOẢN VAY THẾ CHẤP BẤT ĐỘNG SẢN Nick Davis (2000) những lợi ích tiềm năng của chứng khoán hoá đối với người khởi tạo: 1.
Hiệu quả tài chính cao hơn 123doc Chương 1 12 Đối với một số tổ chức khu vực tư nhân, chứng khoán hóa được sử dụng để làm giảm thấp chi phí vốn bình quân gia quyền của công ty. Điều này có thể bởi vì vốn chủ sở hữu không còn cần thiết để hỗ trợ các tài sản và nợ được xếp hạng cao có thể được phát hành vào thị trường vốn phát triển theo nhu cầu của nhà đầu tư làm giảm các chi phí tài chính. Cải thiện cấu trúc của bảng cân đối kế toán Chứng khoán hoá có thể tăng cường sự kiểm soát trên qui mô và cấu trúc của bảng cân đối kế toán công ty. Ví dụ, kế toán về loại bỏ tài sản (chẳng hạn, loại bỏ khỏi bảng cân đối kế toán) có thể cải thiện tỷ lệ hệ số đòn bẩy tài chính cũng như việc đo lường khác về hiệu quả kinh tế (chẳng hạn như tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu).
Các tổ chức tài chính thường sử dụng chứng khoán hoá để đạt được các mục tiêu về an toàn vốn, đặc biệt khi mà các tài sản đã trở nên giảm giá trị. Chứng khoán hoá cũng cung cấp vốn cho các cơ hội đầu tư khác. Điều này có thể tạo ra lợi ích kinh tế nếu các nguồn vay bên ngoài bị hạn chế, hoặc nếu có sự khác biệt giữa chi phí tài chính nội bộ và bên ngoài. Quản lý rủi ro tốt hơn Chứng khoán hoá thường làm giảm rủi ro cho việc tài trợ bằng cách đa dạng hóa các nguồn tài trợ.
Các tổ chức tài chính cũng sử dụng chứng khoán hóa để loại bỏ bất cân xứng về lãi suất. Ví dụ, các ngân hàng có thể cung cấp tài chính dài hạn lãi suất cố định mà không có rủi ro đáng kể, bỏ qua rủi ro lãi suất và rủi ro thị trường khác đối với các nhà đầu tư tìm kiếm tài sản dài hạn lãi suất cố định. Chứng khoán hoá cũng được sử dụng thành công về doanh số trong việc bán các tài sản bị sụt giảm giá trị. Chứng khoán hoá cũng mang lại lợi ích cho các nhà đầu tư.
Nó cho phép họ đưa ra quyết định đầu tư độc lập với danh tiếng của người khởi tạo, và thay vào đó tập trung vào mức độ bảo vệ thể hiện qua cấu trúc của SPV và khả năng thanh toán của tài sản chứng khoán hóa đối với vốn và lãi của việc đầu tư. 123doc Chương 1 13 Chứng khoán hoá cũng tạo ra thị trường hoàn chỉnh hơn bằng cách giới thiệu các danh mục tài sản tài chính mới phù hợp với sở thích rủi ro của nhà đầu tư và bằng cách tăng tiềm năng cho các nhà đầu tư để đạt được các lợi ích đa dạng hóa. Bằng cách đáp ứng nhu cầu của các phân khúc thị trường khác nhau, giao dịch chứng khoán có thể tạo ra lợi ích cho cả người khởi tạo và nhà đầu tư. Ngoài ra, xét về mặt kỹ thuật, sự cần thiết của chứng khoán hoá, xuất phát từ những ưu thế của kỹ thuật này so với hình thức tín dụng thông thường của các NHTM, cụ thể qua ví dụ như sau: NHTM XYZ sử dụng nguồn vốn 200 triệu USD (tài khoản A), chỉ dùng cho vay mua nhà thế chấp bất động sản; mỗi khoản cho vay 2 triệu USD; lãi suất 10%/năm; thời hạn 20 năm.
Trả lãi và gốc cuối mỗi năm và ngay lập tức đầu năm sau dùng toàn bộ số tiền thu được này cho vay tiếp. - Năm thứ 1: ngân hàng sẽ cho vay được 100 khách hàng. 100 x 2 triệu USD = 200 triệu USD. Lãi Gốc Tổng cộng Còn dư nợ Cuối năm 1 20 triệu USD 10 triệu USD 30 triệu USD 190 triệu USD Cuối năm 2 22 triệu USD 11,5 triệu USD 33,5 triệu USD 208,5 triệu USD - Cuối năm thứ nhất, sau khi thu hồi cả lãi và vốn gốc được 30 triệu USD thì ngân hàng thỉ có thể cho vay thêm 30 triệu USD/2 triệu USD = 15 người ở đầu năm thứ hai.
- Tương tự vào cuối năm thứ hai, tổng thu 33,5 triệu USD chỉ có thể cho vay thêm 33,5 triệu USD/2 triệu USD = 17 người ở đầu năm thứ ba. Như vậy, tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay thế chấp bất động sản tăng lên rất chậm và phụ thuộc vào quá trình thu hồi vợ vay hàng năm của ngân hàng. So so với cách cho vay truyền thống, chứng khoán hóa có những ưu nhược điểm sau: 123doc Chương 1 14 Cho vay truyền thống Chứng khoán hoá Không linh hoạt. Linh hoạt, mua bán được.
- Đánh giá tài sản thế chấp chủ quan - Do thị trường đánh giá, thay đổi hàng và định kỳ. - Người khởi tạo tự đánh giá rủi ro để - Phía thứ 3 (tổ chức xếp hạng tín nhiệm) quyết định cho vay. đánh giá độc lập với người khởi tạo. - Chi phí hoạt động của người khởi - Chi phí hoạt động của người khởi tạo tạo cao.
- Thị trường đầu tư địa phương. - Thị trường đầu tư quốc gia và quốc tế. - Thời hạn nợ không linh hoạt, sự lựa - Có nhiều sự lựa chọn về thời hạn và lãi chọn của người vay là hạn chế. suất cho người vay.
MỘT SỐ MÔ HÌNH CHỨNG KHOÁN HÓA 1. Mô hình của Nick Davis (2000) Nick Davis là thành viên điều hành của công ty tư vấn MartinJenkins – công ty tư vấn hàng đầu của New Zealand trong khu vực công. Bài nghiên cứu “Securitization: A Public Policy Tool? (Chứng khoán hóa: Một công cụ chính sách công cộng?)” của ông được trình bày trong hội nghị kinh tế của Bộ tài chính New Zealand năm 2000 trong đó trình bày về những vấn đề như loại tài sản chứng khoán hóa, lý do chứng khoán hóa, những yêu cầu cho việc chứng khoán hóa, thảo luận về cấu trúc tài chính của New Zealand có cản trở cho việc chứng khoán hóa hay không, … Hiện nay New Zealand cũng đã tiến hành chứng khoán thành công. 123doc Chương 1 15 Nguồn: Nick Davis (2000), Securitisatinon: A public policy tool? Trong qui trình chứng khoán hoá, người khởi tạo bán các khoản phải thu cho SPV (SPV được thành lập để mua các khoản phải thu và thực hiện các chức năng khác như tái cấu trúc dòng tiền, cung cấp sự tăng cường tín nhiệm và hỗ trợ thanh khoản).
SPV thường được tổ chức như là một quỹ tín thác hoặc một công ty mà phá sản có kiểm soát. SPV tài trợ cho việc mua các khoản phải thu bằng việc phát hành chứng khoán (tín phiếu, phương phiếu, hối phiếu, trái phiếu, hoặc cổ phần ưu đãi) bán cho nhà đầu tư.