CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG, RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1.1 Những vấn đề cơ bản về tín dụng ngân hàng 1.1 Khái niệm, đặc điểm tín dụng ngân hàng “Tín dụng ngân hàng là một khái niệm có từ rất lâu nhưng đến nay, định nghĩa về tín dụng vẫn chưa được thống nhất và có nhiều cách hiểu khác nhau.Về nguồn gốc, khái niệm "Tín dụng" có nguồn gốc từ thuật ngữ La tinh "Creditium" có nghĩa là sự tin tưởng. Như vậy, có thể hiểu tín dụng là một sự ứng trước "giá trị hiện tại" để đổi lấy "giá trị tương lai" với mong muốn rằng "giá trị tương lai" sẽ lớn hơn "giá trị hiện tại". “Tín dụng - dưới hình thức biểu hiện của nó là sự tín nhiệm ít nhiều có căn cứ đã khiến người này giao cho người khác một số tư bản nào đó dưới hình thái hàng hoá được đánh giá thành một số tiền nhất định. Số tiền này bao giờ cũng phải được trả lại trong một thời gian đã được ấn định”.
(Bùi Thị Kim Ngân, 2008, trang 25) Như vậy, tín dụng có đặc điểm cơ bản là: Người sở hữu có một số vốn (biểu hiện bằng hàng hoá hay tiền) chuyển giao cho người khác sử dụng trong một thời gian nhất định. Hết thời hạn sử dụng, người sử dụng vốn phải hoàn trả vốn cho người chủ sở hữu với một giá trị lớn hơn. Phần chênh lệch đó gọi là lãi suất tín dụng. Như vậy, trong quan hệ tín dụng, người cho vay chỉ trao đổi quyền sử dụng vốn chứ không trao đổi quyền sở hữu vốn cho người đi vay.
Một số khái niệm theo các văn bản của Ngân hàng Nhà nước: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức Tín dụng cho giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi”. Căn cứ theo khoản 01 Điều 03 của Quy chế cho vay của Tổ chức Tín dụng đối với khách hàng (Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, 2001, Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN). 123doc 6 “ Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, vốn huy động để cấp tín dụng”. Căn cứ theo Điều 20 (Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam khoá X, 1997, Luật tổ chức tín dụng).
“Tổ chức tín dụng được cấp tín dựng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước”. Căn cứ theo Điều 49 (Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam khoá X, 1997, Luật tổ chức tín dụng). Từ các khái niệm trên, ta có thể hiểu Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với tất cả các cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp khác trong xã hội. Nó không phải là quan hệ dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu mà là quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua một tổ chức trung gian, đó là ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn và là quan hệ bình đẳng cả 2 bên cùng có lợi. Ngoài ra, tín dụng ngân hàng có thể thoả mãn một cách tối đa nhu cầu về vốn của các cá nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế vì nó có thể huy động nguồn vốn bằng tiền nhàn rỗi trong xã hội dưới nhiều hình thức và khối lượng lớn, đó cũng là ưu điểm nổi bật của tín dụng ngân hàng so với các hình thức tín dụng khác.2 Phân loại tín dụng ngân hàng Có rất nhiều cách phân loại tín dụng ngân hàng dựa vào các căn cứ khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu. Tuy nhiên người ta thường phân loại theo một số tiêu thức sau: (Nguyễn Lan Khanh, 2010) Dựa vào mục đích cho vay Dựa vào thời hạn cho vay Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng Trong nền kinh tế thị trường việc phân loại tín dụng ngân hàng theo các tiêu thức trên chỉ có ý nghĩa tương đối. Khi các hình thức tín dụng càng đa dạng thì cách 123doc 7 phân loại càng chi tiết.
Phân loại tín dụng giúp cho việc nghiên cứu sự vận động của vốn tín dụng trong từng loại hình cho vay và là cơ sở để so sánh, đánh giá hiệu quả kinh tế của chúng.3 Ý nghĩa của hoạt động tín dụng 1.1 Đối với nền kinh tế Hoạt động tín dụng có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế, nó là kênh luân chuyển vốn có ý nghĩa rất lớn trong việc thúc đẩy tính hiệu quả của nền kinh tế đồng thời phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính trong nền kinh tế, thông qua tín dụng ngân hàng mà vốn từ những người thiếu các dự án đầu tư hiệu quả được chuyển tới những người có các dự án đầu tư hiệu quả hơn nhưng thiếu vốn và kết quả là, kinh tế tăng trưởng, tạo công ăn việc làm, và năng suất lao động cao (Nguyễn Thái, 2007). Ngoài ra hoạt động tín dụng còn góp phần lưu thông tiền tệ, hàng hóa, điều tiết thị trường, kiểm soát giá tri đồng tiền và thúc đẩy quá trình mở rộng giao lưu kinh tế giữa các nước giúp mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước thông qua thuế thu nhập và lãi từ ủy thác đầu tư vốn của Chính phủ, đồng thời còn là kênh truyền tải vốn tài trợ của Nhà nước đến nông nghiệp, nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định chính trị, xã hội (Nguyễn Thái, 2007).2 Đối với khách hàng Tương tự như vai trò đối với nền kinh tế, tín dụng cũng mang một ý nghĩa to lớn đối với khách hàng. Nó đáp ứng kịp thời nhu cầu về số lượng và chất lượng vốn cho khách hàng. Với các ưu điểm như an toàn, thuận tiện, nhanh chóng, dễ tiếp cận và có khả năng đáp ứng được nhu cầu vốn lớn, tín dụng ngân hàng thỏa mãn được nhu cầu đa dạng của khách hàng.
Và quan trọng là giúp nhà đầu tư nắm bắt được những cơ hội kinh doanh, doanh nghiệp có vốn để mở rộng sản xuất, các cá nhân có đủ khả năng tài chính để trang trải cho các khoản chi tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống. Bên cạnh đó, việc ràng buộc trách nhiệm khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi trong thòi hạn nhất định như thỏa thuận đã buộc khách hàng phải nỗ lực, tận dụng hết khả năng của mình để sử dụng vốn vay hiệu quả, đẩy nhanh quá trình tái 123doc 8 sản xuất, đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp và đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng và góp phần thúc đẩy nền kinh tế (Nguyễn Thái, 2007).3 Đối với ngân hàng Hoạt động tín dụng là hoạt động truyền thống, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản có và mang lại nguồn, thu nhập chủ yếu cho ngân hàng (từ 70 đến 90%). Mặc dù tỷ trọng của hoạt động tín dụng đang có xu hướng giảm, nhưng tín dụng ngân hàng vẫn luôn là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất đối với mỗi ngân hàng. Thông qua hoạt động tín dụng mà ngân hàng đa dạng hóa được danh mục tài sản có và giảm thiểu rủi ro (Nguyễn Thái, 2007).2 Rủi ro tín dụng ngân hàng 1.1 Khái niệm về rủi ro Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa về rủi ro, những trường phái khác nhau đưa ra những định nghĩa về rủi ro khác nhau.
Tuy nhiên, nó được bao quát qua 2 trường phái lớn: 1.1 Trường phái truyền thống “Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người” (University of Oxford, 2015, Nhà xuất bản Đại học Oxford. Oxford English Dictionary.2 Trường phái hiện đại “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa mang tinh tich cực, vừa mang tinh tiêu cực. Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội” (University of Oxford, 2015, Nhà xuất bản Đại học Oxford. Oxford English Dictionary.) Tuy nhiên, đứng ở góc độ rủi ro tín dụng thì rủi ro sẽ là những thiệt hại, những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong qua trinh kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.2 Khái niệm về rủi ro tín dụng ngân hàng 123doc 9 Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro rất lớn.
Các thống kê và nghiên cứu cho thấy, rủi ro tín dụng chiếm đến 70% trong tổng rủi ro hoạt động ngân hàng.Vì vậy, rủi ro tín dụng là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng kinh doanh ngân hàng. Nó là loại rủi ro phức tạp nhất, nên việc quản lý và phòng ngừa nó rất khó khăn, nó có thể xảy ra ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào. Rủi ro tín dụng nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời sẽ nảy sinh các rủi ro khác. Rủi ro tín dụng ngân hàng, được hiểu theo khái niệm cơ bản nhất, “là khả năng khách hàng nhận khoản vốn vay không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân hàng, gây tổn thất cho ngân hàng, đó là khả năng khách hàng không trả, không trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi cho ngân hàng” (Trịnh Thanh Huyền, 2007, trang 13).
Rủi ro tín dụng là “Tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết” Theo khoản 1, Điều 3 (Ngân hàng Nhà nước, 2013, Thông tư số 02/2013/TT- NHNN phân loại tài sản có và trích lập dự phòng). Trong tài liệu “Financial Institutions Management – A Modern Perpective”, A.Lange định nghĩa “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời hạn” (A.