CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THẺ TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO THẺ TÍN DỤNG KHCN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về thẻ tín dụng 1. Lịch sử phát triển của thẻ tín dụng Sau hơn 50 năm kể từ khi chiếc thẻ đầu tiên ra đời, đến hiện nay đã có hơn 20 tỷ thẻ ngân hàng được phát hành trên khắp thế giới. Cuối những năm 1800, các nhà buôn và người tiêu dùng Mỹ đã dùng khái niệm uy tín, tín nhiệm khi trao đổi hàng hoá như sử dụng một số loại xu hay tấm thẻ thay cho tiền mặt. Đến năm 1946, thẻ ngân hàng đầu tiên xuất hiện và mang tên “Charg-It” do John Biggins ở Brooklyn (New York) nghĩ ra.
Khi mua sắm hàng hoá, dịch vụ thì ngân hàng trả tiền cho đơn vị kinh doanh và sau đó khách hàng trả tiền cho ngân hàng, thẻ này chỉ sử dụng trong phạm vi địa phương. Đến năm 1949, tiền thân của thẻ tín dụng ra đời. Một doanh nhân tên là Frank McNamara đi ăn tối ở một nhà hàng ở New York nhưng không mang theo tiền mặt và phải gọi vợ đến trả. Sau đó, ông cùng với đôi tác thành lập Diners Club phát hành loại thẻ chuyên dùng để thanh toán cho các nhà hàng mà không cần sử dụng tiền mặt.
Trong năm đầu tiên, hàng chục nhà hàng ở New York chấp nhận thẻ này và dần dần thẻ được sử dụng thêm cả các địa điểm du lịch, giải trí ngoài lĩnh vực ăn uống (Bảo Duy, 2017). Năm 1958, ngân hàng Mỹ (Bank of America) cho ra mắt thẻ BankAmericard dành cho nhóm người tiêu dùng trung lưu và các nhà bán lẻ quy mô nhỏ đến vừa ở Mỹ. Loại thẻ này có tính năng “tín dụng xoay vòng”, với hạn mức tín dụng là 300 USD. Công ty phát triển nhanh chóng, vươn ra quốc tế năm 1974 và gới thiệu thẻ ghi nợ đầu tiên vào năm 1975.
Năm 1976, thẻ Visa được khai sinh khi BankAmericard đổi tên thành VISA với nhận diện là lá cờ hai màu xanh dương và vàng. Năm 1983, Visa cho ra mắt mạng lưới máy rút tiền tự động (ATM), cho phép rút tiền “Mọi lúc, mọi nơi” tại mọi thời điểm trên khắp thế giới. Vào năm 2007, các Luan van 8 doanh nghiệp khu vực trên khắp thế giới được sáp nhập lại thành VISA Inc và cho ra đời nền tảng thanh toán trên di dộng VISA để đẩy nhanh tốc độ tiếp nhận các giao dịch thanh toán trên di động và gia tăng các giá trị dịch vụ.vn/vi_VN). Năm 1966, tiền thân của MasterCard ra đời.
Ba nhóm ngân hàng lớn phía đông nước Mỹ quyết định hợp tác thành lập tập đoàn kinh doanh tín dụng riêng, có tên là Interbank Card Association (ICA). Khi đó, hiệp hội thẻ Liên ngân hàng Mỹ (ICA) là một nhóm ngân hàng phát hành thẻ có nhiệm vụ thiết kế hệ thống thẻ tín dụng quốc gia, phát triển hệ thống mạng lưới thanh toán được chấp nhận rộng rãi. Sau này ICA được đổi thành MasterCard, ban hành các quy định về cấp phép giao dịch thanh toán bù trừ, các biện pháp bảo mật, các phương pháp marketing để hoạt động kinh doanh hiệu quả. Năm 1968 ICA bắt đầu mở rộng chiến lược hoạt động kinh doanh trên phạm vi toàn cầu thông qua việc liên kết với ngân hàng Banco National của Mexico.
Sau đó ICA tiếp tục tìm kiếm đối tác tại các thị trường châu Âu và cho ra đời thẻ EuroCard. Cũng vào năm 1968 ICA kết nạp một số thành viên là một số các ngân hàng tại Nhật nhằm từng bước thâm nhập nắm bắt thị trường Đông Á (Bảo Duy, 2017). Ngày nay, hai tổ chức thẻ quốc tế lớn nhất là VISA và MasterCard, ngoài ra còn nhiều tổ chức thẻ khác như America Express, Diners Club….với quy mô hoạt động nhỏ hơn. Đến ngày nay, toàn thế giới có hàng chục tỷ chiếc thẻ tín dụng được lưu hành và sử dụng rộng rãi.
Tại Việt Nam, chiếc thẻ nội địa đầu tiên được phát hành từ năm 1993 với mục đích triển khai dịch vụ thanh toán thẻ đầu tiên tại Việt Nam. Vietcombank đã đặt những nền tảng đầu tiên cho hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt nam nói chung, sử dụng thẻ thanh toán nói riêng. Năm 1996, Vietcombank và ngân hàng Á Châu phát hành những chiếc thẻ tín dụng quốc tế đầu tiên tại Việt Nam. Đến thời điểm hiện tại, hầu hết tất cả các ngân hàng thương mại đều có các sản phẩm thẻ tín dụng với sự phát triển mạnh mẽ về lượng người sử dụng (Bảo Duy, 2017).2 Khái niệm chung về thẻ tín dụng Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thoả thuận (Thông tư số 03/VBHN-NHNN quy định về Hoạt động thẻ ngân hàng ngày 15/01/2021).
Theo định nghĩa của Ngân hàng trung ương Châu Âu: “Credit card is a card that enables cardholders to make purchases and/or withdraw cash up to a prearranged credit limit. The credit granted may be either settled in full by the end of a specified period, or settled in part, with the balance taken as extended credit (on which interest is usually charged)”. Có thể hiểu: Thẻ tín dụng là thẻ cho phép chủ thẻ mua sắm và/hoặc rút tiền mặt trong phạm vi hạn mức tín dụng được cấp. Khoản tín dụng mà khách hàng vay có thể thanh toán toàn bộ vào ngày đáo hạn hoặc thanh toán một phần, phần tín dụng còn lại sẽ bị ngân hàng tính lãi (Nguyễn Thị Thoan, 2014).
Thẻ tín dụng quốc tế MB dành cho KHCN là thẻ tín dụng mang logo của các TCTQT (Visa, JCB) do MB phát hành cho KHCN, cho phép KH sử dụng thẻ để thanh toán hàng hóa, dịch vụ hoặc ứng tiền mặt tại các thiết bị chấp nhận thẻ tại điểm bán, rút tiền mặt tại các ATM có trưng bày logo của TCTQT tại Việt Nam và toàn thế giới trong phạm vi hạn mức tín dụng (Quy định về sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế MB dành cho KHCN). Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, ra đời từ phương thức mua bán chịu hàng hoá bán lẻ và phát triển gắn liền với sự ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực ngân hàng. Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng thanh toán hàng hoá dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp.3 Đặc điểm cấu tạo của thẻ tín dụng KHCN Thẻ ngân hàng luôn được làm bằng Plastic theo kích cỡ tiêu chuẩn quốc tế và bao gồm các yếu tố: nhãn hiệu thương mại của thẻ, tên và logo của nhà phát hành thẻ, số thẻ, ngày hiệu lực và tên của chủ thẻ. Ngoài ra trên thẻ còn có thể có tên công ty phát hành thẻ hoặc thêm một số yếu tố khác theo tiêu chuẩn của tổ chức tập đoàn thẻ quốc tế… Thẻ tín dụng được làm bằng chất nhựa trắng có 3 lớp, lõi thẻ là lớp nhựa trắng cứng nằm giữa 2 lớp tráng mỏng, kích thước tiêu chuẩn quốc tế là 8,5cm x 5,5cm x 0,07cm.
Sau đây là đặc điểm cấu tạo chi tiết của từng mặt: - Mặt trước thẻ: + Biểu tượng tổ chức quốc tế phát hành thẻ: Mỗi loại thẻ có một biểu tượng riêng + Tên và logo của ngân hàng phát hành thẻ. + Số thẻ, tên của chủ thẻ được in nổi. + Thời gian hiệu lực của thẻ: Là thời gian thẻ được phép lưu hành (tuỳ từng loại thẻ) được thống nhất là ngày dương lịch, tháng dương lịch, năm dương lịch. - Mặt sau của thẻ bao gồm: + Dải băng từ chứa các thông tin đã được mã hoá theo một chuẩn thống nhất như: Số thẻ, ngày hết hạn, các yếu tố kiểm tra an toàn khác.
+ Ô chữ ký dành cho chủ thẻ: Trên nền ô chữ ký, khách hàng phải ký vào chữ ký mẫu của mình khi nhận thẻ từ ngân hàng phát hành để cơ sở chấp nhận thẻ so sánh với chữ ký trên ô hóa đơn mua bán hàng hóa, dịch vụ hay tạm ứng tiền mặt. + Mã bảo mật CVV: Là dãy số ngân hàng cung cấp cho khách hàng khi phát hành thẻ và được in trực tiếp lên bề mặt của tấm thẻ. Mã này có chức năng bảo mật khi giao dịch và chứng thực quyền sở hữu thẻ khi thanh toán (Nguyễn Việt Hà, 2008). Dấu hiệu nhận biết thẻ tín dụng quốc tế MB: Thẻ tín dụng quốc tế do MB phát hành đáp ứng đầy đủ các điều kiện về tính năng và hình thức tiêu chuẩn theo quy định của TCTQT.
Các thông tin cơ bản trên bề mặt thẻ: Luan van 11 + Logo Ngân hàng TMCP Quân Đọi + Logo của TCTQT + Số thẻ dập nổi: gồm 16 số được in dập nổi, đều, thẳng hàng. Cấu tạo số thẻ: ABCDEF XX XXXX YYYZ trong đó: ABCDEF: số BIN do TCTQT cấp cho sản phẩm XX XXXX YYY: Số ngẫu nhiên Z: Số kiểm tra + Thời gian hiệu lực của thẻ + Tên chủ thẻ: Tên chủ thẻ được dập nổi hoặc khắc chìm trên thẻ + Dải băng từ: Dải băng từ phải thẳng, mịn, không được tẩy xóa. Chủ thẻ không được ký lên giải băng từ + Dải chữ ký: Lưu chữ ký của chủ thẻ, có mã số bảo mật in bên cạnh + Mã số bảo mật; Gồm bộ ba ký tự số được in cạnh dải chữ ký, những số này xuất hiện ở dạng nghiêng ngược ở ngay đầu khung chữ ký và ở cuối (mã số bảo mật của VISA được gọi là số CVV2, mã số bảo mật của MasterCard được gọi là CVC2, mã số bảo mật của JCB được gọi là CAV2,…) (Quy định sản phẩm thẻ tín dụng quốc tế MB dành cho KHCN, 2017).4 Tính năng của sản phẩm Thẻ tín dụng thường được các ngân hàng thương mại phát hành dưới nhiều sản phẩm khác nhau, phụ thuộc vào hạn mức sử dụng, mục đích sử dụng, lãi suất và biểu phí áp dụng. Tuy nhiên, về tính năng sử dụng của thẻ tín dụng chủ yếu để thanh toán các hàng hoá, dịch vụ, ngoài ra thẻ tín dụng còn có tính năng rút tiền mặt nhưng tính năng này nên hạn chế sử dụng ở mức tối đa.
Các tính năng chính như sau: Tính năng trên ATM: + Rút tiền mặt: Chủ thẻ có thể thực hiện rút tiền mặt tại cây ATM của ngân hàng. Hạn mức rút tiền mặt thường ở mức 50% giá trị hạn mức thẻ tín dụng Luan van 12 + Đổi PIN: Chủ thẻ có thể đổi mã PIN tại cây ATM. Mã PIN là thông tin bảo mật của chủ thẻ, dùng để rút tiền mặt tại cây ATM hoặc giao dịch tại cây ATM.