CHƯƠNG 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE XU LÝ TÀI SAN THE CHAP LA BAT DONG SAN VA PHAP LUAT VE XU LY TAI SAN THE CHAP LA BAT DONG SAN TAI NGAN HANG THUONG MAI 1. Một số van dé lý luận về xử lý tài sản thé chấp là bat động san tại các ngân hàng thương mại 1. Ngân hàng thương mai và những nghĩa vụ được bao dam tại ngân hàng thương mai 1. Ngan hàng thương mại Nhìn nhận dưới góc độ nền kinh tế và pháp luật Việt Nam, tôi cho rằng NHTM cần được hiéu là một loại hình TCTD có thé thực hiện tat cả các hoạt động của ngân hàng với mục đích kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận, mang tính chuyên nghiệp, thường xuyên như hoạt động chính và mang tính cốt lõi.
Dựa trên tư duy pháp lý mang tính cơ bản này, pháp luật Việt Nam hiện hành đã xây dựng được cho mình chế định NHTM cụ thể theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật Các TCTD năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như sau: “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất ca các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Như vậy, khi đưa ra khái nệm về NHTM, nhà làm luật Việt Nam đã lựa chọn hình thức chỉ ra đặc điểm, tính chất đặc thù và riêng biệt của đối tượng, giúp phân biệt NHTM đối với các đối tượng khác. Theo đó, các đặc điểm pháp lý để nhận diện NHTM bao gồm: (i) Loại hình ngân hang; (ii) Thực hiện các hoạt động của ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác; (iii) Nhăm mục tiêu lợi nhuận. Theo đó, loại hình ngân hàng chính là hình thức tô chức của doanh nghiệp tín dụng nhằm thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng.
Tùy theo tính chất và mục tiêu hoạt động, ngân hàng tại Việt Nam được chia ra thành: NHTM, ngân hàng chính sách, ngân 10 hàng hợp tác xã. Trong đó, NHTM là loại hình phổ biến hơn cả và chính là loại ngân hàng mà tác giả hướng tới tìm hiểu và xây dựng khái niệm. Theo đó, NHTM với bản chất cốt lõi là ngân hàng nên tất nhiên phải thực hiện các hoạt động ngân hàng như: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Trong đó, hoạt động nhận tiền gửi và cấp tín dụng là 02 hoạt động mang tính lâu đời và cơ bản nhất của ngân hàng ké từ khi ra đời.
Cùng với 02 hoạt động này, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản dù ra đời sau nhưng cũng đang trở thành hoạt động được phát triển mạnh và góp phan thúc đây sự vận hành và phát triển của nền kinh tế. Bên cạnh đó, nhà làm luật của Việt Nam cũng thể hiện tính mở, tính dự trù khi quy định thêm cả các hoạt động kinh doanh khác được quy định rõ ràng trong luật hay được quy định mang tính mở dé việc ghi nhận hoạt động của ngân hàng theo hướng ngày càng mở rộng theo sự phát triển của quan hệ xã hội chứ không bó hẹp trong nhận thức của nhà làm luật tại thời điểm xây dựng quy định pháp luật. Cuối cùng, mục tiêu lợi nhuận chính là đặc điểm pháp lý giúp phân biệt NHTM đối với các loại hình ngân hàng khác khi mục đích tìm kiếm lợi nhuận chính là cách thê hiện bản chất thương mại, kinh tế thị trường của ngân hang và cũng hoàn toàn phù hợp với thuộc tính của pháp nhân thương mại là hình thức, tư cách chủ thể mà NHTM được ghi nhận trong pháp luật Việt Nam hiện nay. Các nghĩa vụ được bảo dam tại ngân hàng thương mai Nghia vụ trong phạm vi pháp luật dân sự được hiểu là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thê với tên gọi chung là bên có nghĩa vụ phải chuyên giao vật, chuyên giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của chủ thể có quyền.
Theo đó, nghĩa vụ được bảo đảm là nghĩa vụ như cách giải thích nêu trên nhưng được một hoặc một nhóm chủ thê xác định cam kết thực hiện và đảm bảo quyền lợi của bên nhận bảo đảm đó đến cùng bằng các biện pháp bảo đảm nhằm bù đắp 11 cho người có quyền một lợi ích tương ứng nếu như nghĩa vụ không được thực hiện hoặc được thực hiện không đúng. Đối chiếu với hoạt động ngân hàng nêu trên, về mặt lý thuyết, có rất nhiều các nghĩa vụ phát sinh và có thê được bảo đảm trong quá trình hoạt động ngân hàng như nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản được thực hiện. Tuy nhiên, hoạt động nhận tiền gửi và cung ứng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng không phải là nghĩa vụ thường được bảo đảm bởi biện pháp thế chấp BĐS. Bởi lẽ, từ vị thế và quy định pháp luật hiện nay, nghĩa vụ trong hoạt động nhận tiền gửi và cung ứng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng không được áp dụng biện pháp thé chấp BĐS hoặc thường được áp dụng biện pháp bảo đảm khác dé dam bao thực hiện các nghĩa vụ đặc thù này.
Hiện nay, thực tế việc thực hiện hoạt động ngân hàng cho thấy, hoạt động cấp tín dụng hay còn gọi là hoạt động cho vay chính là hoạt động phát sinh rủi ro lớn nhất cho ngân hàng với đặc thù người được cấp tín dụng là các khách hàng vay của ngân hàng vì nhiều lý do khác nhau không thé thực hiện được đúng nghĩa vụ trả nợ của mình tại các hợp đồng tín dụng. Do đó, nghĩa vụ trả nợ của khách hàng sau khi được NHTM cấp tín dụng chính là nghĩa vụ chủ yếu và quan trọng nhất mà các bên hướng tới bảo đảm việc thực hiện trong quá trình thực hiện chức năng cấp tín dụng của NHTM. Đây cũng chính là nghĩa vụ được bảo đảm tại NHTM mà tác giả hướng tới nghiên cứu trong luận văn nay và pháp luật về hoạt động xử lý tài san thé chấp dé đảm bảo tại NHTM trong phạm vi nghiên cứu cũng là nhằm mục đích dé giải quyết van đề hướng tới bù đắp hoặc thay thé cho nghĩa vụ này. Tài sản bảo đảm là bất động sản 1.
Tai sản thé chấp Thứ nhất, tài sản thé chấp phải thỏa mãn quy định về tài sản theo quy định pháp luật. 12 TSTC có bản chất là tài sản theo quy định pháp luật và là đối tượng được tác động của biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là thế chấp. Do đó, để trở thành TSTC, trước tiên tài sản xét trên góc độ kinh tế phải có giá trị và giá trị sử dụng. Bởi lẽ, để có thể đưa vào lưu thông trong đời sống xã hội và trở thành TSBD với vai trò như một phương án dé người nhận bảo đảm có thé xử lý, sử dụng giá trị của tài sản để bù đắp cho nghĩa vụ được bảo đảm đáng ra được thực hiện thì việc tài sản này phải có giá trị và giá trị sử dụng là điều gần như bắt buộc.
Theo đó, giá trị của TSBD được xác định là khả năng được định giá trên thị trường và quy đổi sang tài sản khác mà phổ biến nhất được các bên sử dung cho việc xác định giá trị là việc có thé định giá, quy đổi ra đơn vị tiền tệ để đối chiếu và so sánh với các tài sản khác. Trong khi, giá trị sử dụng của TSTC được hiểu là việc TSTC có tính năng sử dụng và việc sử dụng tài sản này sẽ giúp đáp ứng được một hoặc một số nhu cau nhất định của người sử dụng. Bên cạnh đó, nhìn nhận dưới góc độ pháp lý, TSTC với bản chất là tài sản cũng sẽ thỏa mãn khái niệm và nội hàm của chế định tài sản theo quy định pháp luật. Hiện nay, trên thế giới, tôi nhận thấy có hai cách thức chủ yếu và điển hình dé đưa ra khái niệm về một đối tượng.
Theo đó, dé xác định khái niệm của một đối tượng, người xây dựng khái niệm thường lựa chọn cách nêu ra các dau hiệu pháp lý buộc phải có của đối tượng được xây dựng khái niệm. Đây chính là những thuộc tính vốn có, bắt buộc phải có của đối tượng này và cũng chính là căn cứ để xác định đối tượng này với các đối tượng khác không phải nó, cách định nghĩa này theo tôi hiểu là người xây dựng định nghĩa phải xác định các nội hàm của đối tượng và để xác định một đối tượng có phải là đối tượng đang được định nghĩa không thì ta sẽ đi kiểm tra xem đối tượng này có thỏa mãn các dấu hiệu pháp lý được đưa ra dé mô tả đối tượng trong khái niệm hay không. Ngoài cách xây dựng khái niệm dựa trên nội hàm nêu trên, 13 chúng ta còn một cách xây dựng khái niệm nữa khá phổ biến là bằng cách xác định ngoại dién của đối tượng được hướng tới định nghĩa băng cách liệt kê tất cả các hình thức thé hiện trên thực tế của đối tượng đang được hướng tới định nghĩa. Đối với chế định tài sản có sự bao trùm TSTC như đã trình bày nêu trên, tại Việt Nam ta nhà làm luật đã lựa chọn cách định nghĩa theo cách liệt kê.
Do đó, khi xây dựng khái niệm về tài sản, tại khoản 1 Điều 105 BLDS năm 2015 quy định về tài sản lại đưa ra định nghĩa về tài sản bang cach liét ké các dang thé hiện của tài san là: “vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”. Như vậy, nhà làm luật của ta đã làm rõ khái niệm tài sản bang hinh thuc goi tên, liệt kê tat cả các hình thức thé hiện của tài sản trên thực tế theo quan điểm của nhà làm luật và phần đông các cá nhân trong xã hội tại thời điểm chế định này được xây dựng. Đối với cách định nghĩa này có ưu điểm là việc xác định rõ ràng, ít gây tranh cãi mâu thuẫn về cách hiểu do đã được chỉ mặt đặt tên cụ thé giúp cho việc xác định tài sản khi áp dụng chế định vào thực tế tương đối dễ dàng và đồng nhất, ai cũng có thé dé dàng xác định và việc xác định không bị chỉ phối nhiều bởi quan điểm cá nhân. Tuy nhiên, cách xác định này cũng tồn tại không ít các nhược điểm khi nhà làm luật xác định tài sản theo hình thức liệt kê đóng như này sẽ dẫn tới nguy cơ bỏ sót các dạng hình thức thể hiện mới của tài sản gây ra tranh chấp giữa các bên.