CHƯƠNG 1: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE TRÁCH NHIEM THU HOI HANG HOA CO KHUYET TAT CUA TO CHUC, CA NHAN KINH DOANH THEO PHAP LUAT BAO VE QUYEN LOI NGUOI TIEU DUNG 1. Khái quát về hang hoá có khuyết tật và trách nhiệm thu hồi hang hoá có khuyết tật của tổ chức, cá nhân kinh doanh 1. Khái niệm hàng hoá có khuyết tật - Khái niệm “Hàng hoá” Theo Từ điển tiếng Việt, “hàng hóa” là: “Đồ vật bày lên, đem bán” [36, tr. Dưới góc độ pháp lý, khái niệm "hàng hóa" được quy định tại một số văn bản pháp luật như sau: Theo khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005: “Hàng hod bao gồm: Tat cả các loại động sản, ké cả động sản hình thành trong tương lai; Những vật gắn liên với dat đai ”.
Theo khoản 1 Điều 4 Luật Giá năm 2023: “Hang hóa là sản phẩm có thể trao đổi, mua, bán trên thị trường. ” Luật Chất lượng SP, HH năm 2007 quy định đồng thời cả hai khái niệm "sản phẩm" và "hàng hóa", trong đó, “Hang hoá là sản phẩm được đưa vào thị trường, tiêu dùng thông qua trao đối, mua bán, tiếp thi” (theo khoản 2 Điều 3). Như vậy, xác định bản chất và phạm vi của HH là cơ sở dé xác định HHCKT - đối tượng của trách nhiệm thu hồi do HHCKT gây ra. - Khái niệm “Khuyết tật” Theo Từ điển Tiếng Việt, “Khuyết tật” được hiểu là “7hiểu sót khó sửa von có trên SP ngay sau khi chế tạo, gia công” [36, tr.
Theo mục 3 (phần 3.10) Bộ tiêu chuẩn Việt Nam ISO 9000:2015 về phần thuật ngữ và định nghĩa thì “khuyết tật là sự không phù hợp liên quan đến việc sử dụng dự kiến hay quy định” [37]. Theo đó, sự không phù hợp được hiểu là việc không đáp ứng được một nhu câu hoặc mong đợi được tuyên bô, ngâm hiéu chung hoặc bat buộc. Bộ tiêu chuân ISO 9000:2015 đã lay tiêu chí “không đáp ứng được một nhu cau hoặc mong đợi được tuyên bó, ngâm hiểu chung hoặc bắt buộc” để xác định khuyết tật của HH. Như vậy, chính sự “không đáp ứng được một nhu câu hoặc không như mong đợi” mà khuyết tật đã làm mắt hoặc giảm giá trị sử dụng nhất định của HH.
- Khái niệm “Hàng hoá có khuyết tật” Theo Black’s Law Dictionary đưa ra định nghĩa về HHCKT (Defective product) như sau: “Sản phẩm gây ra sự nguy hiểm (thiếu an toàn) một cách bat hợp lý trong điều kiện sử dụng bình thường mà không đáp ứng được yêu cau mà một người sử dụng mong đợi, không phù hợp với những tiêu chuẩn thiết kế ban dau hoặc có lỗi trong thiết kế, sản xuất SP” [48]. Theo đó, “sự thiếu an toàn của HH” chính là tiêu chí để xác định HHCKT. Tiêu chí này cũng được nhiều tổ chức và quốc gia khác như Liên minh Châu Âu (Chi thị số 85/374/EEC ngày 25/7/1985), Nhật Bản (Khoản 2 Điều 2) [41], Trung Quốc (Điều 46) áp dụng để xác định HHCKT [40]. Cũng có quan điểm cho rằng: HHCKT là HH đã không đảm bao an toàn ma một HH thông thường cần có, chứa đựng sự nguy hiểm bat hợp lý bắt nguồn từ sản xuất, thiết kế, không cảnh báo hoặc cảnh báo không đầy đủ sự nguy hiểm và sự an toàn của HH.
Từ đó có thể gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại cho con người, tải sản [25. Theo định nghĩa tại Khoản 3 Điều 3 Luật BVQLNTD năm 2010 của Việt Nam: “HHCKT là hàng hóa không bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng, có khả năng gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng, kế cả trường hợp hàng hóa đó được sản xuất theo đúng tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kỹ thuật hiện hành nhưng chưa phát hiện được khuyết tật tại thời điểm hàng hóa được cung cấp cho người tiêu dùng, bao gồm: a) Hàng hóa sản xuất hàng loạt có khuyết tật phát sinh từ thiết kế kỹ thuật; b) Hàng hóa đơn lẻ có khuyết tật phát sinh từ quá trình sản xuất, chế biến, vận chuyển, lưu giữ; c) Hàng hóa tiềm ẩn nguy cơ gây mat an toàn trong quá trình sử dụng nhưng không có hướng dẫn, cảnh báo đây di cho người tiêu dùng. ” Đến Luật BVQLNTD năm 2023 đã sử dụng đồng thời hai khái niệm “sản phẩm” và “hàng hóa” trong định nghĩa về “Sản phẩm, hàng hoá có khuyết tật”, tức là áp dụng hình thức thu hồi ngay cả khi SP đó mới được lưu chuyền trong hệ thống phân phối nội bộ mà chưa đưa vào thị trường dé trao đổi, mua bán, tiếp thị và trở thành HH. Theo đó, Khoản 4 Điều 3 quy định: “Sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật là sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng, có khả năng gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng nhưng chưa phát hiện được khuyết tật tại thời điểm sản phẩm, hàng hóa được cung cấp cho người tiêu dùng mặc dù sản phẩm, hàng hóa đó được sản xuất theo đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hiện hành, bao gom: a) Sản phẩm, hàng hóa sản xuất hàng loạt có khuyết tật phát sinh từ thiết kế kỹ thuật; b) Sản phẩm, hàng hóa đơn lẻ có khuyết tật phát sinh từ quá trình sản xuất, chế biến, vận chuyển, lưu giữ và sử dụng; c) Sản phẩm, hàng hóa tiềm ẩn nguy cơ gây mat an toàn trong quá trình sử dụng nhưng không có hướng dẫn, cảnh báo day đủ cho người tiêu ding”.
Nhìn chung, có nhiều định nghĩa khác nhau về “Hàng hoá có khuyết tật”. Tuy nhiên, những quan điểm, quy định trên đều có sự đồng nhất trong pháp luật của các quốc gia đó là: cơ sở để xác định HHCKT - sự không đảm bảo an toàn của HH. Hay nói cách khác, HHCKT không chỉ là có sai sót về chất lượng mà nó còn an chứa sự nguy hiểm một cách bat hợp lý và từ đó gây hậu quả, có khả năng gây ra hậu quả cho con người và tài sản. Sự nguy hiểm đó có thê xuất phát do khuyết tật từ thiết kế kỹ thuật của HH; khuyết tật phát sinh trong quá trình sản xuất, chế biến, vận chuyền, lưu giữ đối với một vài HH đơn lẻ; hoặc khuyết tật do không cảnh báo hoặc cảnh báo không đầy đủ sự nguy hiểm và sự an toàn của HH.
Thu hồi hàng hoá có khuyết tật a, Khái niệm Theo Từ điển tiếng Việt, “Thu hồi” được hiểu là “Thu về lại, lấy lại cái trước đó đã dua ra, đã cấp phát hoặc mat vào tay người khác” [36, tr. Dựa vào cách hiểu này, thu hồi sản phâm được xem là hành động lấy lại sản phẩm của chính chủ thé làm ra sản phẩm đó. Theo đó, pháp luật mỗi quốc gia có định nghĩa khác nhau về “Thu hồi HHCKT”, cu thể: Điểm (g) Điều 2 Chi thị 2001/95/EC ngày 03/12/2001 của Nghị viện và Hội đồng Châu Âu quy định chung về an toàn SP nêu rõ: “Bat kỳ biện pháp nào được áp dụng nhằm đạt được sự trở lại của SP nguy hiểm đã được cung cấp hoặc cung cấp cho NTD bởi nhà sản xuất hoặc nhà phân phối “ Theo pháp luật Hoa Kỳ, trong lĩnh vực quản lý thực phẩm và dược phẩm, thu hồi có nghĩa là việc “Một công ty loại bỏ hoặc sửa chữa một SP được bản trên thị trường mà Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm cho là vi phạm luật pháp mà Cục quản lý” (Mục 7. Hành động sửa chữa bao gồm việc sửa đôi hoặc điều chỉnh một SP, dán nhãn lại hoặc kiểm tra SP.
Ngoài ra, cũng có quan điểm cho rằng: “Thu hôi SP là một hành động khắc phục dé đối phó với vấn dé sức khỏe và an toàn tiêu dùng liên quan đến một SP. Một nhà điều hành kinh doanh (nhà sản xuất, người nhập khẩu hoặc người bán) nên có các hành động thích hop bao gém thu thập, sửa chữa, thay thé và hoàn tiên ” [42 ,tr. Hoặc “Thu hồi SP là loại bỏ một SP cụ thé khỏi thị trường hoặc thay thé một SP được tim thấy không an toàn” [43 ,tr. Theo đó, bản chất của thu hồi là loại bỏ SP, HH không an toàn ra khỏi lưu thông.
Mặc dù có nhiều quan điểm, quy định khác nhau, tuy nhiên tỉnh thần việc thu hồi HHCKT vẫn được thé hiện thống nhất. Đó là việc các chủ thé liên quan đến quá trình tao ra hoặc đưa HHCKT vào lưu thông phải thực hiện các biện pháp nhằm lay lại, loại bỏ HHCKT không dam bảo an toàn ra khỏi thị trường, dé ngăn ngừa sự nguy hiểm mà nó có thé gây ra đối với NTD. Việc loại bỏ có thé là loại bỏ chính những HHCKT đó hoặc loại bỏ các khuyết tật trong một bộ phận của HH thông qua các biện pháp sửa chữa. Pháp luật BVQLNTD Việt Nam chưa quy định cụ thể thế nào là “Thu hồi HHCKT”.
Tuy nhiên, từ việc tổng hợp, tiếp thu các ý kiến và pháp luật của các quốc gia khác, có thê tham khảo định nghĩa về “Thu hồi HHCKT” như sau: “Thu hoi HHCKT là việc áp dụng các biện pháp can thiết nhằm loại bỏ HH không dam bảo an toàn ra khỏi lưu thông trên thị trường ”. b, Đặc điểm Các thuộc tính đặc trưng của thu hồi HHCKT bao gồm: - Tính phòng ngừa: “khởi nguồn” của trách nhiệm thu hồi được xác định ngay khi HHCKT có ton tại trên thực tế, không cần tính đến việc khuyết tật đó đã gây ra thiệt hại hay chưa. - Tính chủ động: việc thu hồi HHCKT được thực hiện khi tổ chức, cá nhân kinh doanh phát hiện bất kỳ lỗi nào trong HH mà mình sản xuất hay đưa vào lưu thông. - Tính phổ biến: Thu hồi HHCKT là nghĩa vụ của một nhóm các chủ thé trong chuỗi các hoạt động sản xuất, cung ứng, phân phối HH; đối tượng bị thu hồi bao gồm một tập hợp HH được xác định là cùng lô, cùng loại; đối tượng được bảo vệ không chỉ giới hạn đối với một hoặc một số NTD cụ thê.
Ví dụ: Khi chốt an toàn của quạt sưởi không hoạt động làm cho quạt sưởi nóng lên một cách nhanh chóng dẫn đến hỏa hoạn, gây ra thiệt hại về tính mạng, sức khỏe cho người trực tiếp sử dụng và có thé gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tai sản cho những người xung quanh. Vì các thuộc tính nêu trên mà phạm vi thu hồi không được giới hạn trong một quốc gia, vùng lãnh thé mà nó được tiến hành trên tất cả vùng lãnh thổ, quốc gia mà HH đó được lưu thông. Về mặt pháp lý, điều này đòi hỏi sự hợp tác trao đổi thông tin giữa các quốc gia về HHCKT, cảnh báo HHCKT và thu hồi HHCKT.