CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE NANG LUC CUA THIET CHE THUC THI PHAP LUAT BAO VE QUYEN LOI NTD 1. NHUNG VAN DE CHUNG VE THIET CHE THUC THI PHAP LUAT BẢO VE QUYEN LỢI NTD | 1. Khái niệm thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD Theo lý luận pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD (hay còn gọi là pháp luật bảo vệ NTD) được thừa nhận ở nhiều quốc gia,` NTD được coi là đối tượng “yếu thế” trong tương quan với các chủ thể kinh doanh trên thị trường. Bởi vậy, sự hiện diện của pháp luật bảo vệ NTD nói chung và các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD nói riêng là nhằm góp phần hỗ trợ NTD khắc phục thuộc tính “yếu thế” này trong các quan hệ với tổ chức, cá nhân kinh doanh.
Sự yếu thế của NTD trong quan hệ với các tô chức, cá nhân kinh doanh thường ở các khía cạnh cơ bản như: yếu thế trong khả năng tiếp cận các thông tin về hàng hóa, địch vụ (nhà sản xuất, kinh doanh thường có hiểu biết về hàng hóa, dich vụ mình cung ứng tốt hơn so với NTD); yếu thế trong khả năng đàm phán, thương lượng hợp đồng, các điều khoản giao dịch (trong không ít trường hợp, nhà sản xuất, kinh doanh sử dụng các điều khoản giao dịch mẫu được thiết kế theo hướng chỉ có lợi cho nhà sản xuất, kinh doanh, gây thiệt hại cho NTD); yếu thế trong khả năng chỉ phối giá cả trên thị trường: yếu thé trong việc tiếp cận, sử dụng pháp luật dé bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình v. Pháp luật bảo vệ NTD được ban hành cùng với đó là việc thiết lập các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ NTD (hay còn gọi là thiết chế bảo vệ NTD) được sinh ra cũng là nhằm tạo công cụ dé NTD kiềm chế nhà sản xuất, kinh doanh lạm dụng vị trí ưu thế của mình trong quan hệ với NTD để thực hiện các hành vi không công bằng với NTD, gây thiệt hại tới quyền và lợi ích chính đáng của NTD. Pháp luật bảo vệ NTD, vì thế, thường tập trung điều chỉnh các nội dung cơ bản như: kiểm soát các điêu khoản hợp đồng không công bang với NTD; kiểm soát tính trung thực của các loại thông tin thương mại mà nhà sản xuất, kinh doanh cung cấp cho NTD (chống thông tin gian dối, quảng cáo gian dối, gây nhằm lẫn v.); bảo đảm tính an toàn của hàng hóa, dịch vụ cung ứng cho NTD; kiểm soát dịch vụ hậu mãi (nhất là quy định về bảo hành); kiểm soát một số loại hành vi bán hàng đặc biệt mà NTD hay bị xâm hại ‘Geraint Howells & Stephen Weatherill, Consumer Protection Law, 2TM ed. 13 quyền lợi như bán hàng tận cửa, bán hàng từ xa (nhất là các loại giao dịch qua Internet, giao dịch đặt hàng qua đường bưu điện v.), bán các loại ô tô, xe máy cũ v.
Ở Việt Nam trong những năm gần đây, thuật ngữ “thiết chế” hay được sử dụng song hành với thuật ngữ “thể chế” trong các dự án, chương trình nghiên cứu về cải cách pháp luật, cải cách thể chế phục vụ sự vận hành của nên kinh tế thị trường." Trong khi thuật ngữ thể chế thường được hiểu là các quy tắc, các “luật chơi” ràng buộc hành vi ứng xử của con người” thì thiết chế thường được hiểu là những tô chức đóng vai trò thực thi và bảo đảm thực thi những quy tắc ấy. Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010 của Việt Nam và các văn bản hướng dẫn thi hành luật này đã ghi nhận sự hiện diện của các thiết chế có vai trò quan trọng trong thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD bao gồm: các cơ quan quản lý nhà nước (như Bộ Công thương: Bộ, cơ quan ngang bộ khác; Ủy ban nhân dân các cấp); Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ NTD; va co quan tài phán giải quyết tranh chấp giữa NTD với tổ chức, cá nhân kinh doanh. Theo kinh nghiệm quốc tế, hệ thống thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ NTD (hay còn gọi là thiết chế bảo vệ NTD) ở các nước phát triển thường bao gồm 3 nhóm cơ quan là: Các cơ quan hành chính trực tiếp bảo vệ NTD hoặc có liên quan trực tiếp tới việc bảo vệ NTD; Các tổ chức xã hội do NTD thành lập với chức năng bảo vệ quyền lợi của NTD (các hội, hiệp hội bảo vệ NTD); Các cơ quan tài phan về bảo vệ NTD (đặc biệt chú trọng là hệ thống tòa án). Trong nhóm các cơ quan hành chính trực tiếp bảo vệ NTD hoặc các cơ quan có liên quan trực tiếp tới việc bảo vệ NTD, hầu hết các nước phát triển đều thiết lập cơ quan chuyên trách về bảo vệ NTD.
Đây là cơ quan có vai trò trung tâm trong việc thực thi pháp luật bảo vệ NTD. Chang hạn, ở Hoa Kỳ, ở tầm liên bang, Ủy ban thương mại Liên bang (Federal Trade Commission) được giao chức trách này.” Ở Anh, Văn phòng thương mại công bằng (Office of Fair Trading) được giao chức trách này." Điều khá thú vị là, các cơ quan này thường cũng được giao chức năng thực thi các quy định của luật cạnh tranh bởi một lẽ khá giản dị: việc duy trì trật tự cạnh tranh công bằng, lành mạnh trên thị trường, suy cho cùng, cũng nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi NTD, bảo vệ chủ quyền của NTD trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, ngay ở các quốc gia phát triển vừa nêu, chức năng bảo vệ NTD cũng không chỉ được trao duy nhất cho một cơ quan chuyên trách bảo vệ NTD như đã nói. Chức năng bảo vệ NTD còn được chia ‘TS.
Dinh Văn An và TS. Lê Xuân Bá (đồng chủ biên), Tiép tuc xây dung và hoàn thiện thé chế kinh tế ¡ trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (Ha Nội: NXB Khoa học kỹ thuật, 2006) tr. Hà Huy Thành (chủ biên), Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia, 2006) tr. "Federal Trade Commission <hftp://www.gov/bcp/index.
® Office of Fair Trading <http://www. 14 sẻ bởi nhiều cơ quan hành chính khác, nhất là các bộ và cơ quan điều tiết ngành. Những cơ quan quản lý ngành hoặc cơ quan điều tiết ngành thường được giao thêm trách nhiệm bảo vệ NTD chính là các cơ quan quản lý về lĩnh vực an toàn và chất lượng sản phẩm, các cơ quan quản lý về thực phẩm và được phẩm, các cơ quan quản lý dịch vụ tài chính, ngân hàng, các cơ quan giám sát quảng cáo, thông tin cho NTD. Ngoài ra, chức trách bảo vệ NTD còn được giao cho cả các cơ quan trong chính quyền địa phương.” Các té chức xã hội tham gia bảo vệ NTD ở các nước phát triển chủ yếu là các hội, hiệp hội do NTD thành lập dé bảo vệ quyền lợi hợp pháp của minh.
Do quyền tự do lập hội ở các nước phát triển khá rộng rãi trong khi nhu cầu bảo vệ NTD rất đa dạng nên số lượng và chủng loại hội bảo vệ NTD ở những nước này cũng rất đa dạng. Hau hết các nước phát triển đều có rất nhiều hội bảo vệ NTD được thành lập và hoạt động ở nhiều dang quy mô khác nhau (quy mô theo ngành, quy mô theo địa phương, quy mô toàn quốc). Các hội bảo vệ NTD thường dựa vào nguồn kinh phí nhận được từ tiền hội phí thành viên, tiền bán các loại báo, tạp chí phục vụ NTD và nhận tiền tài trợ từ các cá nhân, té chức hảo tâm. Trong một số trường hợp nhất định, các hội này cũng nhận được sự tài trợ của chính phủ khi thực hiện các hoạt động nghiên cứu hoặc giáo đục tiêu dùng được chính phủ chấp thuận.
Thiết chế tài phán tham gia bảo vệ NTD ở các nước phát triển chủ yếu là thiết chế tòa an.'° Thực tế cho thấy, trong khoảng 3-4 thập niên gần đây hệ thống tòa án ở các nước phát triển đều có sự cải cách để quyền tiếp cận công lý (access to justice) của NTD được bảo đảm tốt hơn thông qua việc thiết lập cơ chế để các tòa khiếu kiện nhỏ (small claims courts) hoạt động theo thủ tục rút gọn (thủ tục đơn giản) có thể vận hành và việc thiết lập cơ chế khởi kiện tập thể (class action) để NTD hoặc hội bảo vệ NTD có thể đứng ra khởi kiện chống lại các nhà sản xuất, kinh doanh xâm hại quyền lợi NTD trên bình diện lớn nhưng mỗi cá nhân NTD chỉ bị thiệt hại nhỏ nên không có động lực khởi kiện. Ba nhóm thiết chế kể trên đều có những đặc trưng riêng có của mình. Với nhóm thiết chế đầu tiên (các cơ quan hành chính), các thiết chế này có thể tiến hành các hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng mà không cần chờ đợi yêu cầu bảo vệ quyền lợi từ phía người tiêu dùng. Đây là nhóm thiết chế có vai trò rất quan trọng trong việc chủ động theo dõi, giám sát hành vi kinh doanh của các nhà sản xuất, kinh doanh trên *Geraint Howells & Stephen Weatherill, Consumer Protection Law, 2" ed.
‘Tain Ramsay, Consumer Law and Policy: Text and Materials on Regulating Consumer Markets, 2 ed. (Oxford: Hart Publishing, 2007); cũng xem: Viện Khoa học pháp lý, “Cơ ché pháp lý bao vệ NTD: Thực tiên và kinh nghiệm quốc tế”, Thông tin khoa học pháp ly số 4+5/2007, tr. 15 thị trường và có thê tiến hành các hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm theo quy trình pháp luật quy định. Nhóm thiết chế này do nhà nước thành lập ra và bảo dam các điều kiện về nhân lực, trang thiết bị hoạt động.
Chức năng, nhiệm vụ của các thiết chế này thường do đội ngũ cán bộ, công chức được đào tạo khá bài bản về chuyên môn, nghiệp vụ có liên quan dé có thể thực thi các công vụ pháp luật quy định. Với nhóm thiết chế là các hội bảo vệ người tiêu dùng, các thiết chế này thường được hình thành dra trên sáng kiến của người tiêu dùng, tuy được pháp luật công nhận, cho phép hoạt độag và đôi khi được chính quyền hỗ trợ hoạt động dưới các hình thức khác nhau nhưng đây thuần túy là các tổ chức xã hội, không mang quyền lực nhà nước. Tiếng nói của các thiết chế này là tiếng nói đại diện của người tiêu dùng và là tiếng nói của dư luận. Nióm thiết chế này có thé chủ động tiến hành một số loại hoạt động của minh mà không cần dựa theo yêu cầu của người tiêu dùng (như hoạt động phố biến, giáo dục người têu dùng, các hoạt động nghiên cứu vẻ hàng hóa, dich vụ v.