CHƯƠNG 1: NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE BẢO VỆ QUYEN LỢI NGƯỜI TIỂU DUNG TRONG HỢP DONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TU 1. Khái quát về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hợp đồng thương mại điện tử LI. Khái niệm người tiêu dùng Khái niệm “người tiêu dùng” đã tồn tại khá lâu trong hệ thống pháp luật các nước; tuy nhiên, mỗi nước lại chọn cho mình một quan niệm riêng về van đề nay. “Người tiêu dùng” được định nghĩa như sau ở một vài quốc gia: - Liên minh châu Âu: Năm 1975 Hội đồng Liên minh châu Âu đã ban hành ở một chương trình sơ bộ về bảo vệ người tiêu dùng và chính sách bảo mật thông tin.
Chương trình này cũng đưa ra 5 quyền cơ bản của người tiêu dùng bao gồm các quyền sau: Quyền được bảo vệ sức khỏe và an toàn; được bảo vệ lợi ích kinh tế; được bồi thường; được thông tin và giáo dục; được lắng nghe. Theo mục 17 Chỉ thị 2011/83/EU của Nghị viện Châu Âu và của Hội đồng ngày 25/10/2011 về quyền của người tiêu dùng, “nguodi tiêu ding được định nghĩa là một con người tự nhiên, hành động ngoài mục dich thương mại, kinh doanh, thủ công hoặc nghề nghiệp chuyên nghiệp. Tuy nhiên trong trường hợp có hợp đồng hai mục đích, gồm cả mục đích thương mại và phi thương mại thì nếu mục đích thương mại bị giới hạn đến mức không thể trở thành chủ chốt trong nội dung của hợp dong thì người đó cũng có thé được coi là người tiêu dung”. - Trung Quốc: theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1993, không có điều khoản riêng giải thích khái niệm người tiêu dùng nhưng tại Điều 2 của Luật này có quy định: “7rzường hợp người tiêu dùng, vì nhu cấu sinh hoạt trong cuộc song, mua hang hóa, sử dụng hang 11 hóa, dịch vụ thì các quyên và lợi ích hợp pháp của mình sẽ được bảo vệ theo quy định của Luật này và trường hợp Luật này không quy định thì sẽ được bảo vệ theo các quy định khác có liên quan của pháp luật”.
Điều luật này có thé cho thấy rằng người tiêu dùng theo quan niệm của pháp luật Trung Quốc chỉ là cá nhân, tức là những người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ vì nhu cầu sinh hoạt của mình chứ không phải vì mục đích kinh doanh hoặc hoạt động nghề nghiệp. - Hoa Ky: Tuy không có một đạo luật chung thong nhat vé bao vé người tiêu dùng và khái niệm người tiêu dùng chưa được giải thích rõ rang, nhưng theo các chuyên gia pháp luật Hoa Kỳ, khái niệm người tiêu dùng chỉ được hiểu là cá nhân người tiêu dùng (Nguyễn Văn Cương, 2008). - Malaysia: Điều 3 của Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 1999 giải thích: “người tiêu dùng là người mua hoặc sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ cho mục dich sinh hoạt cá nhân hoặc sinh hoạt gia đình. và không gom viéc mua hoặc sw dung hàng hóa vi mục dich chính dé bán lại hoặc dua vào qua trình sản xuất hàng hóa, dịch vụ khác hoặc dé dung cho việc sua chữa, gan thêm vào hang hóa khác ”.
- Hàn Quốc, Luật khung về bảo vệ NTD năm 2006 có cách tiếp cận độc đáo ở chỗ xác định NTD có mục đích sản xuất (production) ngoài mục đích sử dụng hàng ngày (daily use), nhưng phải được nêu rõ trong các nghị định của Tổng thống Hàn Quốc (Presidential Decree). - Thái Lan: Mục 3 Luật Bảo vệ người tiêu dùng Thái Lan năm 1979 giải thích: “người tiêu dùng là người mua hàng hóa hoặc dịch vụ hoặc được chào mua hàng hóa hoặc dịch vụ từ một người kinh doanh, bao gồm người thực sự sử dụng hàng hóa, tiêu thụ dịch vụ có nguồn sốc từ người kinh doanh mặc dù người này không trực tiếp trả tiền cho việc sử dụng hàng hóa, tiêu thụ dich vụ do.” Trong khi đó, cũng tại điều khoản này, “người kinh doanh” được 12 giải thích là người bán hàng, nhà sản xuất, nhà nhập khẩu để bán hàng, người mua hàng để bán lại, người cung cấp dịch vụ, người tiến hành việc quảng cáo.” Như vậy có thé hiểu NTD không chỉ là những người sử dụng hang hóa dịch vụ vào mục đích tiêu dùng mà còn cả những người sử dụng vào mục đích thương mại hoặc sản xuất, NTD theo quy định của Thái Lan không chỉ là các thê nhân mà còn bao gồm pháp nhân. - Tại Việt Nam, theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 quy định: “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức ”. Từ các khái niệm trên, ta thấy quan niệm của các nước trên thế giới về khái niệm “người tiêu dùng” được chia làm ba hướng đi khác nhau.
Cách quy định thứ nhất chỉ quy định người tiêu dùng là thé nhân (hoặc cá nhân), đây là cách quy định của Châu Âu. Cách thứ hai là khái niệm người tiêu dùng được quy định bao gồm cả thé nhân và pháp nhân. Quy định này có vẻ hơi rộng và cũng có thé nó sẽ làm loãng đi hiệu lực của Luật bảo vệ người tiêu dùng. Cách quy định thứ ba là khái niệm người tiêu dùng không nêu rõ chỉ là cá nhân hay gồm cả cá nhân và pháp nhân.
Cách quy định này đưa ra là “người nào” hoặc “những ai”. Cách quy định này có thể dẫn tới nhiều cách hiểu khác nhau do đó sẽ khó áp dụng trong thực tiễn bởi lẽ nó có thể được hiểu là gồm cả cá nhân và pháp nhân, nhưng cũng có thể giải thích theo hướng chỉ là cá nhân. Học viên đồng tình với quan điểm xác định khái niệm NTD trong hợp đồng thương mại điện tử chỉ gồm cá nhân mà không coi tổ chức là NTD. Bởi lẽ: thứ nhất, theo pháp luật bảo vệ NTD, NTD được hưởng sự ưu tiên hơn so với chủ thê luật dân sự khác trong các giao dịch với thương nhân bán hàng 13 hóa, dịch vụ.
Điều này xuất phát từ sự yếu thế của NTD như: thiếu thông tin về hàng hóa, dịch vụ, yếu thế về khả năng đàm phán khi giao kết hợp đồng, yếu thế về khả năng chịu rủi ro phát sinh trong quá trình tiêu dùng, hạn chế này thé hiện rõ ràng ở các cá nhân đơn lẻ hơn so với tô chức; thứ hai, pháp luật bảo vệ NTD được đặt ra để hỗ trợ luật dân sự và thương mại dé khắc phục những hạn chế của quyền tự do khế ước khi không có sự cân xứng về điều kiện kinh tế, trình độ hiểu biết giữa các bên trong giao dịch chứ pháp luật bảo vệ NTD không thay thế luật dân sự và thương mại. Khái niệm về thương mại điện tử Sự phát triển và bùng nỗ của hệ thống mạng Internet và công nghệ thông tin đã tạo nên tảng cơ sở cho sự ra đời của thương mại điện tử, đánh dau những thay đôi đáng kinh ngạc trong hoạt động thương mại trên toàn cầu. Từ những năm 1960, ứng dụng thương mại đầu tiên của máy tính đã được thực hiện với hình thức là máy ghi và thanh toán điện tử. Như vậy có thê thấy máy tính đã được áp dụng vào thương mại trước khi internet ra đời.
Vào khoảng những năm 1970 - 1980, các doanh nghiệp liên tục mở rộng việc ứng dụng công nghệ thông tin vào sản xuất kinh doanh như: gửi nhận các đơn đặt hàng, hóa đơn và thông báo vận chuyền băng phương thức điện tử qua dịch vụ trao đôi thông điệp dữ liệu điện tử (EDI). Thương mại điện tử bắt đầu phát triển mạnh mẽ vào những năm 1990 sau khi internet ra đời. Như vậy, dù không còn xa lạ gì với thế giới, nhưng phải đến những năm gần đây TMĐT mới được du nhập vào Việt Nam và ngày càng trở nên phổ biến. Mặc dù đã xuất hiện khá lâu nhưng đến thời điểm này van còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về TMĐT.
Thuật ngữ “Thương mại điện tử” là cụm từ được dịch ra trong tiếng anh là “electronic commerce” (viết tat là e-commerce), thé hiện bản chất của thương mại điện tử được công nhận rộng rãi đó là sự kết hợp của hai yêu tô “thương mại” (“commerce”) và điện tu (“electronic”). Nói cu thé 14 hơn, thương mại điện tử được hiểu là một lĩnh vực mà các hoạt động thương mại được hỗ trợ bởi các phương tiện, công cụ điện tử. Trong Luật mẫu về thương mại điện tử năm 1996, UNCITRAL (Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế) cho rằng thương mại điện tử là tất cả các hoạt động thương mại mà việc giao dịch, thông tin được thực hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu. Trong khi đó, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) định nghĩa rằng: “Giao dich thương mại điện tử là việc bán hoặc mua hàng hoá hoặc dịch vụ, được thực hiện qua mạng máy tính bằng các phương pháp được thiết kế đặc biệt dé nhận hoặc đặt hàng” [24].
Hàng hoá hoặc dịch vụ được đặt hàng bằng những phương pháp này, nhưng việc thanh toán và phân phối cuối cùng của hàng hoá hoặc dịch vụ không cần phải được tiến hành trực tuyến. Trong pháp luật Việt Nam, ND 52/2013/NĐ-CP đã đưa ra định nghĩa về hoạt động thương mại điện tử tại khoản 1 Điều 3 như sau: “Hoat động thương mại điện tử là việc tiễn hành một phân hoặc toàn bộ quy trình cua hoạt động thương mại bằng nhiễu phương tiện điện tử có kết noi với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác”. Có thể nhận thấy, quan điểm này của pháp luật Việt Nam không giới hạn phạm vi của các hoạt động thương mại hay chỉ tập trung vào nền tảng Internet khi Luật Giao dịch điện tử đã quy định: “Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự. Như vậy, theo pháp luật Việt Nam thì thương mại điện tử là các hoạt động nhằm mục đích sinh lời của ít nhất một bên trong giao dịch bao gồm nhiều hoạt động khác nhau như mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư xúc tiễn thương mại và các hoạt động sinh lời khác được thực hiện bằng các phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động 15 hoặc các mang mở khác.
Trong đó, các bước tiến hành giao dịch không nhất thiết phải hoàn toàn băng phương tiện điện tử. Từ khái niệm trên, về bản chất, thương mại điện tử vẫn có những nội dung cơ bản như thương mại truyền thống.