Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng pháp luật hình sự. Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng pháp luật hình sự ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người bằng pháp luật hình sự. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG BẰNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ 1.
Khái niệm, đặc điểm người tiêu dùng 1.1 Khái niệm người tiêu dùng Cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa, trong đời sống dân sự, kinh tế hình thành các quan hệ tiêu dùng và chủ thể của quan hệ pháp luật tiêu dùng là NTD với tư cách là người sử dụng các hàng hóa, dịch vụ. hoặc tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của thương nhân - chủ thể còn lại trong quan hệ pháp luật. Điều đó đòi hỏi cần sự điều chỉnh của pháp luật trong đó có việc xác định NTD và kéo theo đó là quyền của chủ thể này. Người tiêu dùng là khái niệm có thể tiếp cận từ nhiều phương diện khác nhau.
Trước hết từ phương diện kinh tế, trong bất cứ nền kinh tế nào, NTD cũng giữ vai trò quan trọng, bởi lẽ chính họ là nhân tố định hướng cho hoạt động sản xuất và khiến cho nó trở nên có ý nghĩa. Nếu không có hoạt động tiêu dùng sản phẩm thì không có thương mại hàng hóa. Theo đó, nền kinh tế không thể vận hành, nhu cầu đa dạng của con người cũng không được đáp ứng, xã hội không thể phát triển. Chính vì lẽ đó, các thương nhân luôn đặt sự quan tâm đặc biệt đến việc thu hút NTD sử dụng hàng hóa, dịch vụ và cân bằng lợi ích của họ.
Từ phương diện kinh tế, NTD là TD là phạm trù chỉ những chủ thể tiêu thụ của cải, vật chất được tạo ra bởi nền kinh tế1. Tuy nhiên, khác với người mua nguyên liệu hoặc mua hàng để bán lại, họ là những người sử dụng hàng hóa, dịch vụ cuối cùng và làm chúng tiêu hao hoặc biến mất qua việc sử dụng đó 2. Dưới góc độ pháp lý, để điều chỉnh quan hệ tiêu dùng cần xác định chủ thể của một bên trong quan hệ tiêu dùng này là NTD. Từ phương diện pháp lý có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm người tiêu dùng xoay quanh 2 vấn đề (i) người tiêu dùng là 1 Nguyễn Thị Thư (2013), Hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD ở việt nam hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội, tr 34 2 Trường Đại học Luật Hà nội (2014), Giáo trình Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 72 7 thể nhân hay pháp nhân? (ii) người tiêu dùng có bao gồm đối tượng tiêu thụ sản phẩm vì mục đích thương mại?.
Ở nội dung thứ nhất, pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD của các quốc gia trên thế giới, bên cạnh coi NTD chỉ là thể nhân còn có một số quốc gia coi NTD bao gồm cả pháp nhân. Lý do được đưa ra là thể nhân tham gia tham gia quan hệ tiêu dùng luôn ở vị thế yếu ở mọi phương diện do đó họ cần bảo vệ. Ngược lại, pháp nhân ở vị thế tốt hơn nên vấn đề bảo vệ quyền lợi của pháp nhân trong quan hệ tiêu dùng là không cần thiết. Việc coi tổ chức là NTD sẽ dẫn đến sự bất bình đẳng, thậm chí thiệt hại cho phía nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ do có sự can thiệp và bảo vệ của pháp luật về BVQLNTD dành cho bên mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ; ảnh hưởng đến trật tự và tính ổn định của các giao dịch dân sự.
Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng, xu hướng chung mang tính thông lệ trong pháp luật BVQLNTD ở các quốc gia trên thế giới (nhất là các quốc gia phát triển và các quốc gia thuộc khu vực ASEAN) là NTD chỉ nên giới hạn là cá nhân mua sắm hàng hóa, dịch vụ3. Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam năm 2012 quy định: Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức. Ở nội dung thứ hai, xác định một tổ chức mua một loại hàng hóa hay sử dụng một loại dịch vụ vì mục đích thương mại hay tiêu dùng. Về vấn đề này có quan điểm cho rằng: NTD là một bên trong quan hệ thương mại, dân sự với tính chất là người tiêu thụ những sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ.
Tuy nhiên, trong mối quan hệ này NTD luôn ở vị thế yếu hơn và có nguy cơ gánh chịu rủi ro, thiệt hại"4. Quan điểm này phù hợp mang tính phổ biện trong đó xác định người tiều dùng sử dụng sản phẩm vì mục đích tiêu dùng chứ không có mục đích thương mại. Điều này cũng được thể hiện trong pháp luật nhiều quốc gia trong đó có pháp luật Việt Nam. 3 Phạm Văn Hảo, Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh thực phẩm ở Việt Nam hiện nay” 4 Nguyễn Thị Vân Anh (2014), Đề tài NCKH cấp Bộ: "Tăng cường năng lực các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam", Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp, Hà Nội.
8 Bên cạnh đó, vấn đề người tiêu dùng là cá nhân háy bao gồm cả tổ chức cũng là vấn đề tranh luận trong khoa học pháp lý và về mặt pháp luật cũng có sự khác nhau giữa pháp luật các quốc gia. Theo Điều 3 Luật bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam 2010 thì: Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức. Theo như quy định trên thì người mua, sử dụng hàng hóa dịch vụ với mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức được xem là người tiêu dùng. Điều này được giải thích khi so sánh với “người tiêu dùng cá nhân” thì “người tiêu dùng tổ chức” hoàn toàn có vị thế cân bằng với bên cung cấp hàng hóa, dịch vụ (tổ chức, cá nhân kinh doanh) và không có việc “yếu thế”, hạn chế hơn về địa vị pháp lý, kiền thức, tài chính, nhân sự5,… Trên cơ sở khái niệm về người tiêu dùng của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam có thể thấy, người tiêu dùng được bảo vệ bằng pháp luật hình sự là cá nhân, gia đình, tổ chức có quan hệ mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, tổ chức, gia đình 1.2 Đặc điểm của người tiêu dùng.
Khi tham gia quan hệ tiêu dùng – một quan hệ pháp lý đặc thù của quan hệ dân sư - kinh tế, dó đó, chủ thể người tiêu dùng cũng có một số đặc điểm sau đây: Thứ nhất, NTD là chủ thể phát sinh trong quan hệ tiêu dùng chứ không phải từ quan hệ dân sư - kinh tế. Quan hệ pháp luật tiêu dùng là hình thức pháp lý của các quan hệ xã hội (trao đổi hàng hóa, dịch vụ) giữa người bán và người mua đối với hàng hóa, giữa bên cung ứng dịch vụ và bên thụ hưởng dịch vụ… Quan hệ pháp luật tiêu dùng hình thành trên cơ sở các quy phạm pháp luật điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ với những mục đích cụ thể, được áp dụng khi phát sinh sự kiện pháp lý6 Trong đó NTD có thể không cần phải là một bên xác lập quan hệ tiêu dùng trực tiếp với thương nhân mà có thể do một quan hệ phái sinh từ việc tặng, cho… 5 Cao Xuân Quảng, Bàn về khái niệm người tiêu dùng trong Luật Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam, Tạp chí Công thương, số 22, tháng 9 năm 2020 6 Nguyễn Trọng Điệp, Giải quyết tranh chấp tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sỹ luật học, Học viện Khoa học xã hội, năm 2014, tr. 21 9 Bởi lẽ, cho dù tổ chức là chủ thể mua sản phẩm thì các cá nhân của tổ chức mới là người sử dụng sản phẩm đó, họ là người thực sự bị tổn hại sức khỏe, tính mạng, tài sản. Do đó, họ mới là đối tượng cần được bảo vệ.
Thứ hai, NTD là các cá nhân mua sắm hàng hóa, dịch vụ vì mục đích không nhằm mục đích hoạt động kinh doanh, thương mại hoặc hoạt động nghề nghiệp chuyên nghiệp. Việc mua hàng hóa, dịch vụ là nhằm mục đích tiêu dùng cho cá nhân hộ gia đình. Điều này, phân biệt với trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ để bán lại hoặc phục vụ cho hoạt động của quá trình sản xuất, kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Trong một số trường hợp, NTD có thể không cần phải là một bên xác lập quan hệ pháp luật dân sự trực tiếp với thương nhân, mà có thể do một quan hệ phái sinh từ việc tặng, cho…Khi đó, người sử dụng sản phẩm cuối cùng sẽ được coi là NTD và đương nhiên được bảo vệ bởi pháp luật BVQLNTD Thứ ba, người tiêu dùng trong quan hệ tiêu dùng là chủ thể yếu thế.
Họ là những người “có thể dễ dàng hoặc nhanh chóng bị thiệt hại trong quá trình tiêu dùng, tính dễ bị tổn thương phát sinh từ những đặc điểm của thị trường đối với một sản phẩm cụ thể, hoặc các thuộc tính hoặc hoàn cảnh của cá nhân đó khi quyết định tiêu dùng hoặc việc theo đuổi biện pháp khắc phục cho bất kỳ thiệt hại nào họ phải chịu, hoặc sự kết hợp của những điều này”7 Sự yếu thế này do nhiều nguyên nhân, có thể do quan hệ tiêu dùng luôn mang tính chất thông tin bất cân xứng và người tiêu dùng luôn luôn đứng trước nguy cơ phải chịu bất lợi hoặc không có khả năng nhận biết sản phẩm kém chất lượng, sản phẩm bị lỗi trong quá trình tiêu dùng sản phẩm. Sự bất cân xứng về thông tin sản phẩm. Các thông tin liên quá đến thành phần và quy trình tạo ra sản phẩm là yếu tố bắt buộc phải công khai khi phân phối sản phẩm ra thị trường. Tuy nhiên, không phải mọi thành phần tạo ra sản phẩm đều được người sản xuất, kinh doanh công bố đầy đủ.