phần mở đầu, phần nội dung và kết luận. Ngoài ra còn có các phần như mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục. Phần nội dung bao gồm 03 chương: 6 Chƣơng 1: Khái quát chung về bảo vệ quyền lợi NTD trong hợp đồng giao kết từ xa. Chƣơng 2: Những quy định của pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền lợi NTD trong hợp đồng giao kết từ xa.
Chƣơng 3: Thực trạng và một số kiến nghị về bảo vệ quyền lợi NTD trong hợp đồng giao kết từ xa 7 Chƣơng 1: Khái quát chung về bảo vệ quyền lợi NTD trong hợp đồng giao kết từ xa. Muốn tiêu dùng phát triển thì phải có NTD, những người sử dụng hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân kinh doanh cung cấp. Trong một nền kinh tế thị trường đang phát triển hiện nay thì NTD có vai trò hết sức quan trọng, nó mang tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của một thương hiệu 1, một doanh nghiệp. Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của các loại hình giao kết từ xa thì việc làm rõ khái niệm thế nào là tiêu dùng và NTD là một vấn đề rất quan trọng vì nó có liên quan đến tổ chức, cá nhân kinh doanh trong các hợp đồng khi NTD ký kết.
Tiêu dùng và ngƣời tiêu dùng 1. Tiêu dùng Tiêu dùng theo từ điển tiếng Việt có thể hiểu là việc con người sử dụng những của cải vật chất được sản xuất ra thoả mãn các nhu cầu của xã hội 2, của con người. Như vậy, có thể hiểu tiêu dùng là việc chúng ta mua hàng hóa, yêu cầu cung ứng dịch vụ để sử dụng chính hàng hóa, dịch vụ đó nhằm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất của cá nhân, cho gia đình. Nhờ có tiêu dùng mà nhà sản xuất, người bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ mới có vốn để tiếp tục đầu tư và mở rộng sản xuất ra những hàng hóa, dịch vụ để phục vụ cho người mua hàng hóa, yêu cầu cung ứng dịch vụ.
Mục đích của tiêu dùng là sử dụng những hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất. Đồng thời, tiêu dùng giúp cho quá trình sản xuất phát triển, vì không có tiêu dùng sẽ dẫn đến tình trạng hạn chế sản xuất nói riêng và kiềm chế sự phát triển của nền kinh tế của đất nước nói chung. Ngƣời tiêu dùng Theo luật bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010 quy định thì NTD là người mua, người sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của một cá nhân, gia đình, tổ chức. Từ quy định trên cho thấy, người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ dùng cho mục đích để sản xuất, để kinh doanh tạo ra lợi nhuận thì không được gọi là NTD theo luật bảo vệ quyền lợi NTD và đương nhiên họ sẽ không được áp dụng luật về bảo vệ quyền lợi NTD.
1 Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng - Hội đồng phối hợp công tác phổ biến giáo dục pháp luật của chính phủ- Đặc san tuyên truyền pháp luật số 06/2011- trang 6 2 Từ điển tiếng việt –http://www.de/duc/Dict 8 Khái niệm NTD sẽ giúp phân biệt với khách hàng. Khách hàng (customer) mang nghĩa rộng hơn, dùng để chỉ người mua hàng hóa, dịch vụ để sử dụng cho bản thân hoặc làm nguyên liệu cho sản xuất, kinh doanh. Như vậy, không phải mọi khách hàng đều là NTD và được pháp luật về quyền lợi NTD bảo vệ. Quyền lợi của những đối tượng này được bảo vệ bởi các văn bản quy phạm pháp luật khác như BLDS, BLHS, BLTTDS, BLTTHS, Luật TM, Luật cạnh tranh, Luật bảo vệ quyền lợi NTD3.
Luật bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010 ra đời. Qua hơn 5 năm thi hành luật này đã thực sự đi vào cuộc sống của con người tạo nên được hành lang pháp lý để NTD tự bảo vệ quyền lợi cho mình, các thương nhân, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ đã nâng cao trách nhiệm của mình đối với NTD. Đồng thời cũng là cơ sở để các cơ quan Nhà nước thực hiện tốt chức năng bảo vệ quyền lợi cho NTD 4. Như vậy NTD là tất cả mọi người sống trên thế giới không phân biệt trai, gái, trẻ, già, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, nếu những người này có tham gia mua hàng hoá để sử dụng hoặc sử dụng các dịch vụ của các thương nhân, các cá nhân, các tổ chức, các cơ sở kinh doanh, để phục vụ cho nhu cầu ăn, ở, sinh hoạt, học hành, giải trí, phục vụ cho các vật dụng sinh hoạt hàng ngày của mình mà không có mục đích kiếm lời thì đó là NTD.
Hợp đồng giao kết từ xa Trong cuộc sống hiện nay, việc trực tiếp gặp nhau để trao đổi, đàm phán, giao kết hợp đồng đối với một số loại hợp đồng. Nhất là các loại hợp đồng có giá trị không cao, mục đích nhằm để phục vụ cho tiêu dùng là rất ít. Bởi vì do hiện nay, dưới sự phát triển mạnh mẽ của internet,5 điện thoại, các phương tiện hoạt động dựa trên sóng điện từ, từ đó người tiêu dùng đã dùng những phương tiện này để giao kết hợp đồng mà chủ yếu nhất là dùng phương tiện điện thoại để ký kết hợp đồng với tổ 3 TS Đinh Thị Mỹ Loan- Hỏi đáp về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng – NXB lao động xã hội năm 2007 , trang 10 4 Báo cáo của Bộ tư pháp ngày 30 tháng 6 năm 2015 về tổng kết 5 năm thực hiện luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. 5 Hiện nay hầu hết các nhà đều sử dụng mạng internet.
Trong suốt 17 năm trở lại đây, Việt Nam luôn nằm trong top 20 quốc gia có tốc độ tăng trưởng Internet nhanh nhất thế giới. Năm 2012, Việt Nam xếp thứ 18 trong số các quốc gia có số người dùng Internet lớn nhất thế giới, với thời lượng truy cập trung bình vượt xa các nước khác trong khu vực Đông Nam Á. Hiện, tỷ lệ người dùng internet trong mỗ hộ gia đình tại Việt Nam đạt 14,6%. Ở nhiều tỉnh thành (46/63) có tỷ lệ dưới 14%.
9 chức, cá nhân kinh doanh. Chẳng hạn như một cá nhân gọi điện thoại đến cửa hàng gas để đổi gas hoặc mua một loại hàng để sử dụng hàng ngày. Như vậy về hình thức giao kết hợp đồng như vậy về pháp lý được gọi là hợp đồng giao kết từ xa. Chủ thể hợp đồng giao kết từ xa Chủ thể của hợp đồng giao kết từ xa bao gồm NTD và tổ chức, cá nhân kinh 6 doanh.
Theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 quy định cụ thể chủ thể nào là tổ chức, cá nhân kinh doanh. Theo Luật thương mại 2005“Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh”7. Riêng, cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên, không phải đăng ký kinh doanh sẽ chịu sự điều chỉnh của Nghị định 39/2007/NĐ-CP ngày 16 tháng 3 năm 2007 về cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên, không phải đăng ký kinh doanh. Phân loại hợp đồng giao kết từ xa Có nhiều cách phân loại khác nhau dựa vào các tiêu chí nhất định để phân loại hợp đồng giao kết từ xa.
Hợp đồng giao kết từ xa có thể bao gồm hai loại là hợp đồng giao kết từ xa đó là hợp đồng giao kết từ xa mang tính chất hợp đồng dân sự và hợp đồng giao kết từ xa mang tính chất hợp đồng thương mại. Có thể hiểu, hợp đồng giao kết từ xa là loại hợp đồng dân sự hoặc thương mại. Bởi lẽ, một bên trong hợp đồng là NTD không nhằm mục đích lợi nhuận, bên còn lại là thương nhân, tổ chức, cá nhân kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi. Tuy nhiên, để phù hợp với loại hình thương mại điện tử hiện nay, các quy định về thương mại, các qui định pháp luật liên quan và để tiện nghiên cứu thì trong phạm vi của luận văn, chỉ xem xét tư cách của loại hợp đồng này dưới góc độ là hợp đồng thương mại.
Hợp đồng giao kết từ xa được chia thành hai loại, đó là loại hợp đồng giao kết bằng phương tiện điện tử và hợp đồng giao kết bằng lời nói. Tương ứng với cách phân loại này, có thể có hai phương thức giao kết rất phổ biến hiện nay là giao kết thông qua website thương mại điện tử và giao kết bằng cách gọi điện thoại trực tiếp. Với quy trình tự động hóa được thiết lập sẵn trên website bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ để NTD giao kết hợp đồng với tổ chức, cá nhân kinh doanh thì phương 6 Nghị định 55/2008. 7 Khoản 1 điều 6 Luật Thương mại 2005 10 thức giao dịch này đã đem đến sự tiện lợi cho các bên về thời gian và kinh phí.
Tuy nhiên, với phương thức giao kết như vậy thì cũng mang tính rủi ro cao như rủi ro về thông tin, rủi ro liên quan đến an ninh mạng mà các bên trong hợp đồng có thể sẽ không kiểm soát được. Bên cạnh việc giao kết hợp đồng thông qua website thương mại điện tử thì hợp đồng cũng được giao kết thông qua điện thoại. NTD có thể gọi điện thoại đến tổ chức, cá nhân kinh doanh để mua hàng hóa, yêu cầu cung ứng dịch vụ. Hợp đồng giao kết từ xa có thể được giao kết giữa NTD với tổ chức, cá nhân kinh doanh Việt Nam hoặc tổ chức, cá nhân kinh doanh nước ngoài.
NTD hoàn toàn có thể lên website thương mại điện tử của tổ chức, cá nhân kinh doanh nước ngoài để giao kết hợp đồng. Khi hợp đồng được ký kết thì hàng hóa có thể được chuyển vào Việt Nam thông qua đường hàng không hoặc đường biển. Thông thường sau khi phân loại hợp đồng phải có sự phân biệt về pháp lý, còn nếu không thì sự phân loại ít ý nghĩa. Sự cần thiết của hợp đồng giao kết từ xa Internet hay điện thoại là phương tiện liên hệ với nhau đã và đang rất quen thuộc với người Việt Nam.
Nó xâm nhập vào thị trường Việt Nam như là một tất yếu khách quan trong tổng thể về sự phát triển kinh tế chung của toàn thế giới. Việc lựa chọn hình thức mua bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ thông qua hai phương thức này đã phát triển tại nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam.