Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Quảng cáo là một trong những hình thức truyền thông tiếp thị giữ vai trò then chốt trong việc truyền tải thông tin về hàng hóa, dịch vụ và thu hút người tiêu dùng. Ngành quảng cáo đã phát triển mạnh mẽ từ cuộc cách mạng công nghiệp thế kỷ XIX và tiếp tục mở rộng với nhiều phương thức hiện đại trong kỷ nguyên số. Tuy nhiên, phạm vi tác động sâu rộng của hoạt động quảng cáo đòi hỏi hành lang pháp lý chặt chẽ; nếu thiếu cơ chế kiểm soát thích đáng, các chủ thể có thể phát ngôn tùy tiện, gây phương hại đến quyền lợi của người tiêu dùng và trật tự kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu các điều kiện đảm bảo tính hợp pháp của hoạt động quảng cáo là yêu cầu cấp thiết nhằm hoàn thiện thể chế pháp lý, đặc biệt trong bối cảnh Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 3314/QĐ-BVHTTDL ngày 27/09/2023 về Kế hoạch lập đề nghị xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quảng cáo.
Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động quảng cáo và các điều kiện đảm bảo tính hợp pháp của hoạt động quảng cáo.
- Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành các điều kiện đảm bảo tính hợp pháp của hoạt động quảng cáo tại Việt Nam.
- Chỉ ra các bất cập, hạn chế còn tồn tại trong hệ thống quy định và công tác thực thi, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành trong thực tiễn.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận và quy định pháp luật về các điều kiện đảm bảo tính hợp pháp của hoạt động quảng cáo theo pháp luật Việt Nam, có sự đối chiếu giữa hoạt động quảng cáo nói chung và quảng cáo thương mại. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành (trọng tâm là Luật Quảng cáo năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2018 và các văn bản hướng dẫn) cùng thực tiễn thi hành trên địa bàn cả nước (điển hình tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh) giai đoạn từ khi Luật Quảng cáo có hiệu lực đến năm 2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận vận dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, cùng các quan điểm của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được phân bổ theo từng phần nội dung:
- Phương pháp phân tích, bình luận, diễn giải, so sánh và phương pháp lịch sử: Sử dụng trong nghiên cứu cơ sở lý luận, quá trình phát triển của khái niệm và quy định pháp luật qua các thời kỳ (Nghị định số 194/CP năm 1994, Luật Thương mại năm 1997, Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001, Luật Thương mại năm 2005 và Luật Quảng cáo năm 2012).
- Phương pháp so sánh luật học, phân tích, tổng hợp và đánh giá thực tiễn: Sử dụng để đối chiếu các quy định pháp luật giữa Luật Quảng cáo và các luật chuyên ngành (Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật năm 2006, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Luật Báo chí năm 2016, Luật Dược năm 2016, Luật An toàn thực phẩm năm 2010...), đồng thời xử lý số liệu báo cáo, vụ việc xử phạt hành chính trên thực tế.
- Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Luật, Nghị định 181/2013/NĐ-CP, Nghị định 70/2021/NĐ-CP, Nghị định 38/2021/NĐ-CP, các Thông tư chuyên ngành), báo cáo tổng kết của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Thông tin và Truyền thông, số liệu thanh tra xử phạt của UBND và Sở Văn hóa - Thể thao Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, cùng các công trình nghiên cứu khoa học, tài liệu hội thảo và phản ánh từ cơ quan báo chí chính thống.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Một số vấn đề lý luận về hoạt động quảng cáo và điều kiện đảm bảo tính hợp pháp của hoạt động quảng cáo
Chương này tập trung làm rõ các khái niệm, đặc điểm và bản chất pháp lý của hoạt động quảng cáo:
- Tiếp cận đa ngành về quảng cáo: Dưới góc độ ngôn ngữ học (thông báo rộng rãi), marketing (công cụ truyền thông xúc tiến bán hàng), xã hội học (quá trình truyền tin định hướng hành vi mua), kinh tế học và quản lý. Dưới góc độ pháp lý, Khoản 1 Điều 2 Luật Quảng cáo 2012 xác định quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có hoặc không có mục đích sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được giới thiệu (trừ tin thời sự, chính sách xã hội, thông tin cá nhân).
- Phân biệt quảng cáo nói chung và quảng cáo thương mại: Quảng cáo thương mại (Điều 102 Luật Thương mại 2005) là một phân nhánh đặc thù do thương nhân thực hiện nhằm mục đích sinh lời trực tiếp và xúc tiến thương mại.
- Đặc điểm pháp lý của quảng cáo: (1) Tính chất thông tin đơn phương, một chiều, mang tính độc thoại; (2) Đối tượng quảng cáo đa dạng (hàng hóa, dịch vụ sinh lợi hoặc phi sinh lợi, hình ảnh tổ chức, cá nhân); (3) Chủ thể tham gia đa dạng (người quảng cáo, người kinh doanh dịch vụ quảng cáo, người phát hành quảng cáo, người cho thuê phương tiện/địa điểm, người tiếp nhận quảng cáo); (4) Phương thức truyền đạt thông qua các sản phẩm và phương tiện truyền thông.
- Khái niệm điều kiện đảm bảo tính hợp pháp: Là hệ thống các quy phạm pháp luật xác lập giới hạn tự do và các yêu cầu tối thiểu (về phương tiện, nội dung, hình thức, hồ sơ pháp lý, các hành vi bị cấm) buộc các chủ thể phải tuân thủ để hoạt động quảng cáo được Nhà nước thừa nhận và bảo hộ.
Chương II: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành các điều kiện đảm bảo tính hợp pháp của hoạt động quảng cáo tại Việt Nam
Tác giả phân tích cấu trúc quy định pháp luật thực định và dữ liệu thi hành:
1. Thực trạng quy định pháp luật hiện hành
- Phương tiện và yêu cầu nội dung, hình thức: Điều 17 Luật Quảng cáo 2012 quy định 8 nhóm phương tiện quảng cáo. Nội dung quảng cáo phải trung thực, chính xác, rõ ràng (Khoản 1 Điều 19). Ngôn ngữ quảng cáo phải bằng tiếng Việt; trường hợp sử dụng tiếng nước ngoài thì khổ chữ không quá 3/4 khổ chữ tiếng Việt và phải đặt bên dưới, khi phát thanh/truyền hình phải đọc tiếng Việt trước (Điều 18).
- Điều kiện quảng cáo cụ thể (Điều 20 Luật Quảng cáo 2012):
- Quảng cáo hoạt động kinh doanh: Phải có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
- Quảng cáo sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ: Phải có tài liệu chứng minh sự hợp chuẩn, hợp quy theo Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật 2006.
- Quảng cáo tài sản: Phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng (như nhà ở, công trình xây dựng, đất đai).
- Quảng cáo sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đặc biệt: Phải đáp ứng các giấy phép chuyên ngành:
| Loại sản phẩm, dịch vụ đặc biệt |
Điều kiện giấy tờ bắt buộc theo Điều 20 |
| Thuốc |
Giấy phép lưu hành tại Việt Nam còn hiệu lực và tờ hướng dẫn sử dụng do Bộ Y tế phê duyệt. |
| Mỹ phẩm |
Phiếu công bố sản phẩm mỹ phẩm theo quy định pháp luật về y tế. |
| Hóa chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn |
Giấy chứng nhận đăng ký lưu hành do Bộ Y tế cấp. |
| Sữa và sản phẩm dinh dưỡng cho trẻ nhỏ |
Giấy chứng nhận tiêu chuẩn, Giấy chứng nhận VSATTP (trong nước); Giấy chứng nhận chất lượng của nước sản xuất và giấy phép lưu hành (nhập khẩu). |
| Thực phẩm, phụ gia thực phẩm |
Giấy chứng nhận đăng ký chất lượng VSATTP hoặc Giấy tiếp nhận hồ sơ công bố tiêu chuẩn. |
| Dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh |
Giấy chứng nhận đủ tiêu chuẩn hành nghề do ngành y tế cấp. |
| Trang thiết bị y tế |
Giấy phép lưu hành (trong nước) hoặc Giấy phép nhập khẩu. |
| Thuốc BVTV, vật tư BVTV, sinh vật có ích |
Giấy chứng nhận đăng ký thuốc BVTV; Giấy phép kiểm dịch thực vật do Bộ NN&PTNT cấp. |
| Thuốc thú y, vật tư thú y |
Giấy phép lưu hành sản phẩm và bản tóm tắt đặc tính sản phẩm. |
| Phân bón, chế phẩm sinh học, TĂCN |
Giấy chứng nhận chất lượng sản phẩm hoặc văn bản tự công bố chất lượng sản phẩm. |
- Các hành vi bị cấm: 16 hành vi tại Điều 8 Luật Quảng cáo 2012 (cấm quảng cáo hàng cấm kinh doanh, thuốc lá, rượu từ 15 độ trở lên, sữa thay thế sữa mẹ cho trẻ dưới 24 tháng, thuốc kê đơn; cấm dùng từ "nhất", "duy nhất", "tốt nhất", "số một" nếu không có tài liệu hợp pháp; cấm quảng cáo so sánh trực tiếp, xâm phạm sở hữu trí tuệ, dán vẽ lên cột điện/cây xanh).
- Thủ tục hành chính: Phân định thủ tục thông báo (phát hành phụ trương báo in, thông báo sản phẩm quảng cáo trên bảng/băng-rôn gửi Sở VHTTDL trước 15 ngày) và thủ tục cấp phép (ra kênh chuyên quảng cáo tại Bộ TTTT, cấp phép xây dựng công trình quảng cáo tại Sở Xây dựng, xác nhận nội dung quảng cáo hàng hóa đặc biệt tại các Bộ chuyên ngành).
2. Thực tiễn thi hành và số liệu vi phạm
- Quy mô thị trường: Hà Nội có hơn 1.800 doanh nghiệp quảng cáo (500-750 đơn vị hoạt động thường xuyên); TP. Hồ Chí Minh có hơn 2.000 doanh nghiệp (680-900 đơn vị hoạt động thường xuyên). Cơ cấu doanh thu: quảng cáo ngoài trời chiếm 20%, 80% thuộc về mạng xã hội, truyền hình, phát thanh. Tại Hà Nội (2019 đến tháng 8/2022), Sở VHTT cấp phép nội dung cho 278 bảng quảng cáo tấm lớn, 45 màn hình LED xã hội hóa và 535 bảng tại nhà ở riêng lẻ.
- Tình hình vi phạm ngoài trời: Khoảng 60% sản phẩm quảng cáo được rà soát thực hiện chưa đúng quy định (sai vị trí, kích thước, không phép, vi phạm chữ nước ngoài). Doanh nghiệp chấp nhận nộp phạt đến 15 triệu đồng/lần để dựng bảng trái phép. Vi phạm tồn tại ngay tại các đơn vị nhà nước (Trung tâm Văn hóa Quận 1 dựng 02 trụ quảng cáo không phép tại ngã tư Nguyễn Thị Minh Khai - Phạm Viết Chánh gần 2 năm; Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam tại vòng xoay Điện Biên Phủ - Nguyễn Bỉnh Khiêm dựng bảng sai phép).
- Vi phạm về tính trung thực và quảng cáo số:
- Vụ thực phẩm chức năng trị gout Senzation Double Joint Care (Công ty TNHH MTV TM&DV XNK Vĩnh Thanh phân phối) quảng cáo hiệu quả sau 2 ngày nhưng chứa tân dược độc nhóm B (piroxicam và betamethason).
- Tình trạng mạo danh logo VTV, cắt ghép hình ảnh biên tập viên và nghệ sĩ (diễn viên Bảo Thanh, NSND Lê Khanh).
- Hành vi quảng cáo so sánh trực tiếp hạ thấp đối thủ (tranh chấp giữa nệm cao su thiên nhiên với nệm lò xo/nhựa; quảng cáo mì gói có màu vàng sậm do chiên dầu nhiều lần).
- Kết quả xử lý vi phạm:
- TP. Hồ Chí Minh (từ 2012 đến 2023): Kiểm tra, xử lý 2.781 trường hợp, phạt tiền hơn 28 tỷ đồng.
- Hà Nội (từ 2018 đến 2023): Xử phạt gần 600 trường hợp, thu hơn 7 tỷ đồng.
- Xử lý nền tảng xuyên biên giới (2018 - 2022): Bộ Thông tin và Truyền thông lập danh sách 30 mạng lưới quảng cáo xuyên biên giới, chặn tên miền 02 doanh nghiệp vi phạm không hợp tác (Your Adchoices và Adbro); chỉ có 09 doanh nghiệp đăng ký hoạt động (đều không đặt máy chủ tại Việt Nam), các đơn vị chưa thông báo gồm Meta, Amazon, LinkedIn, The Trade Desk, SilverPush, AdColony, Adskeeper, Taboola. Facebook đã gỡ 330 fanpages game cờ bạc, 72 tài khoản/fanpages buôn bán vũ khí; Google gỡ 130 video săn bắn động vật hoang dã, 500 video hướng dẫn chế tạo vũ khí, vật liệu nổ.
Chương III: Một số hạn chế còn tồn tại trong quy định hiện hành và đề xuất giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về điều kiện đảm bảo tính hợp pháp của hoạt động quảng cáo
1. Hạn chế, bất cập tồn tại
- Xung đột, thiếu đồng bộ giữa các luật: Thuật ngữ phương tiện quảng cáo tại Điều 17 Luật Quảng cáo 2012 không đồng nhất với Điều 106 Luật Thương mại 2005. Khái niệm hành vi cấm tại Khoản 12 Điều 8 Luật Quảng cáo 2012 (quảng cáo có nội dung cạnh tranh không lành mạnh) mâu thuẫn với Khoản 6 Điều 109 Luật Thương mại 2005 (quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh). Điều 12 Nghị định 181/2013/NĐ-CP đặt ra thủ tục "xác nhận nội dung quảng cáo" đối với hàng hóa đặc biệt, làm phát sinh loại giấy phép con trái với tinh thần Điều 20 Luật Quảng cáo 2012.
- Quy định mang tính định tính, cảm tính: Tiêu chí cấm "thiểu thẩm mỹ" (Khoản 3 Điều 8) và "ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị" (Khoản 4 Điều 8) chưa có định nghĩa định lượng rõ ràng, dẫn đến áp dụng cảm tính. Điều kiện quảng cáo mỹ phẩm (Điểm b Khoản 4 Điều 20) chỉ yêu cầu Phiếu công bố mà chưa phân loại theo nhóm người dùng/độ tuổi để giới hạn khung giờ, vị trí phát sóng (như mỹ phẩm chống lão hóa cho người trên 30 tuổi tác động đến trẻ em).
- Lỗ hổng pháp lý trong quảng cáo xuyên biên giới: Mạng xã hội cho phép người dùng tự động bật tính năng kiếm tiền và chèn quảng cáo tự phát; cơ chế quản lý các đại lý quảng cáo trung gian còn lỏng lẻo.
- Bất cập trong thanh tra và chế tài: Thẩm quyền quản lý phân tán, chồng chéo giữa Bộ VHTTDL, Bộ TTTT, Bộ Y tế, Bộ Công Thương; thiếu chế tài xử lý các cá nhân được thuê làm người mẫu, diễn xuất phản cảm (điển hình vụ nhóm thanh niên cởi trần trên tàu điện Cát Linh - Hà Đông ngày 13/12/2021). Thiếu quy định về thời hạn tồn tại của công trình quảng cáo sau cấp phép tại Điều 31 Luật Quảng cáo 2012 dẫn đến tình trạng trơ khung sắt rỉ sét khi hết hạn nội dung.
2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi
- Hoàn thiện pháp luật:
- Sửa đổi Điều 12 Nghị định 181/2013/NĐ-CP để thống nhất với Điều 20 Luật Quảng cáo 2012, bãi bỏ các thủ tục xác nhận nội dung không cần thiết.
- Bổ sung quy định phân loại các nhóm mỹ phẩm bị hạn chế khung giờ, không gian quảng cáo hướng tới bảo vệ trẻ em.
- Bổ sung quy định về thời hạn sử dụng và nghĩa vụ tháo dỡ đối với công trình, trụ quảng cáo ngoài trời tại Điều 31 Luật Quảng cáo 2012.
- Ban hành phụ lục chi tiết quy định từng loại hành vi quảng cáo trong Luật Quảng cáo để thuận tiện áp dụng.
- Luật hóa các nghĩa vụ đối với thương nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới từ Nghị định 70/2021/NĐ-CP vào văn bản Luật.
- Quy định rõ trách nhiệm pháp lý liên đới của các nhà cung cấp phương tiện quảng cáo (báo chí, nhà mạng, nền tảng số) khi phát hành quảng cáo sai phạm.
- Nâng mức xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp đình chỉ phát sóng quảng cáo có thời hạn trên phương tiện vi phạm và công khai danh sách đen (black list) các nhãn hàng, nền tảng vi phạm.
- Nâng cao hiệu quả thực thi:
- Đẩy mạnh phổ biến, tập huấn pháp luật quảng cáo cho doanh nghiệp và các tổ chức hành nghề luật.
- Tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành, định kỳ chia sẻ thông tin thanh tra giữa Bộ VHTTDL, Bộ TTTT, Bộ Y tế và Bộ Công Thương; siết chặt kiểm duyệt nội dung trên môi trường truyền hình và mạng viễn thông.
Kết quả và đóng góp
- Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận: Làm sáng tỏ bản chất pháp lý của các điều kiện đảm bảo tính hợp pháp của hoạt động quảng cáo, phân định ranh giới giữa quảng cáo nói chung và quảng cáo thương mại.
- Tổng hợp bức tranh thực chứng xác thực: Khóa luận cung cấp số liệu thực tế về thị trường và xử phạt vi phạm hành chính:
- Tổng số tiền phạt tại TP. Hồ Chí Minh đạt hơn 28 tỷ đồng (2.781 vụ việc từ 2012 đến 2023) và Hà Nội đạt hơn 7 tỷ đồng (gần 600 vụ việc từ 2018 đến 2023).
- Thống kê tỷ lệ vi phạm quảng cáo ngoài trời lên tới khoảng 60%.
- Dữ liệu ngăn chặn thông tin mạng với 330 fanpages cờ bạc, 72 tài khoản vũ khí trên Facebook và 630 video sai phạm trên Google.
- Chỉ ra các điểm nghẽn pháp lý cụ thể: Phân tích sự không tương thích giữa Luật Quảng cáo 2012, Luật Thương mại 2005 và Nghị định 181/2013/NĐ-CP (về thủ tục xác nhận nội dung quảng cáo hàng hóa đặc biệt).
- Đề xuất 07 nhóm giải pháp lập pháp và 02 nhóm giải pháp thực thi: Đóng góp luận cứ phục vụ trực tiếp cho quá trình xây dựng Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quảng cáo theo kế hoạch của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Đề tài tập trung chủ yếu vào việc phân tích văn bản quy phạm pháp luật và các dữ liệu vi phạm hành chính sẵn có từ nguồn cơ quan quản lý nhà nước; chưa có điều kiện khảo sát định lượng diện rộng về mức độ nhận thức pháp luật của người tiêu dùng và các đại lý quảng cáo trung gian.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục nghiên cứu sâu về cơ chế kiểm soát thuật toán phân phối quảng cáo tự động và mô hình kinh tế số xuyên biên giới (quảng cáo thông qua KOLs, KOCs, tiếp thị liên kết) khi Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Quảng cáo được Quốc hội thông qua.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Thương mại, Luật Kinh tế; cán bộ thanh tra chuyên ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thông tin và Truyền thông; các luật sư tư vấn doanh nghiệp và nhà quản trị tiếp thị.
- Nội dung giá trị: Bảng tổng hợp điều kiện đối với 10 nhóm hàng hóa, dịch vụ đặc biệt (Chương II) và phần phân tích xung đột điều luật giữa Luật Quảng cáo và Luật Thương mại (Chương III) là tài liệu tham khảo có giá trị cao trong nghiên cứu học thuật và rà soát tuân thủ pháp lý cho doanh nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
-
Khóa luận phân biệt quảng cáo nói chung và quảng cáo thương mại dựa trên những tiêu chí pháp lý nào?
Quảng cáo nói chung (Khoản 1 Điều 2 Luật Quảng cáo 2012) áp dụng cho mọi chủ thể với đối tượng bao gồm cả sản phẩm, dịch vụ sinh lợi và phi sinh lợi nhằm mục đích chính trị, văn hóa, xã hội. Quảng cáo thương mại (Điều 102 Luật Thương mại 2005) là hoạt động xúc tiến thương mại mang tính bắt buộc do thương nhân thực hiện nhằm phục vụ mục tiêu sinh lợi trực tiếp.
-
Hàng hóa, dịch vụ đặc biệt gồm những loại nào và điều kiện quảng cáo có gì khác biệt?
Bao gồm 10 nhóm: thuốc, mỹ phẩm, hóa chất/chế phẩm diệt côn trùng diệt khuẩn, sữa và sản phẩm dinh dưỡng cho trẻ nhỏ, thực phẩm/phụ gia thực phẩm, dịch vụ khám chữa bệnh, trang thiết bị y tế, thuốc BVTV, thuốc thú y, phân bón/TĂCN/chế phẩm sinh học. Các đối tượng này bắt buộc phải có giấy phép lưu hành, phiếu công bố hoặc giấy chứng nhận chất lượng chuyên ngành theo quy định tại Khoản 4 Điều 20 Luật Quảng cáo 2012.
-
Mâu thuẫn nổi bật giữa Luật Quảng cáo 2012 và Luật Thương mại 2005 được tác giả chỉ ra là gì?
Mâu thuẫn nằm ở quy định hành vi bị cấm: Khoản 6 Điều 109 Luật Thương mại 2005 cấm quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh (xét về mục đích), trong khi Khoản 12 Điều 8 Luật Quảng cáo 2012 cấm quảng cáo có nội dung cạnh tranh không lành mạnh (xét về hành vi/nội dung thông tin truyền tải), dẫn đến thiếu thống nhất trong việc áp dụng căn cứ pháp lý để xử lý vi phạm.
-
Số liệu thực tế về việc xử lý các nền tảng quảng cáo xuyên biên giới được ghi nhận ra sao?
Từ năm 2018 đến 2022, cơ quan chức năng đã chặn tên miền 02 doanh nghiệp không hợp tác (Your Adchoices và Adbro); Facebook thực hiện gỡ bỏ 330 fanpages cờ bạc và 72 tài khoản/fanpages buôn bán vũ khí; Google ngăn chặn 130 video săn bắn động vật hoang dã và 500 video hướng dẫn chế tạo vũ khí, vật liệu nổ.
-
Tại sao tác giả đề xuất bãi bỏ thủ tục "xác nhận nội dung quảng cáo" tại Điều 12 Nghị định 181/2013/NĐ-CP?
Vì quy định này làm phát sinh một loại "giấy phép con" tại các Bộ chuyên ngành (Y tế, Nông nghiệp, Công Thương), đi ngược lại tinh thần cải cách thủ tục hành chính của Luật Quảng cáo 2012 (vốn đã chuyển dịch sang cơ chế hậu kiểm dựa trên việc đáp ứng đủ giấy tờ hợp chuẩn, hợp quy theo Điều 20).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Thị Tuyết đã hệ thống hóa sâu sắc các vấn đề lý luận và đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật về điều kiện đảm bảo tính hợp pháp của hoạt động quảng cáo tại Việt Nam. Thông qua việc phân tích thực tiễn áp dụng và các vụ việc sai phạm điển hình, công trình đã làm rõ những khoảng trống pháp lý và xung đột giữa Luật Quảng cáo với các luật chuyên ngành. Các đề xuất hoàn thiện quy định về phương tiện ngoài trời, phân loại mỹ phẩm, quản lý nền tảng xuyên biên giới và tăng cường chế tài liên đới mang tính thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho quá trình sửa đổi Luật Quảng cáo hiện hành.