Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) giữ vai trò huyết mạch trong việc cung ứng và lưu thông dòng vốn. Hoạt động ngân hàng – đặc biệt là hoạt động cấp tín dụng dưới hình thức cho vay – mang lại nguồn thu chủ đạo nhưng cũng đi kèm rủi ro tín dụng và nợ xấu. Tại Việt Nam, tính đến hết quý III/2020, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) có xu hướng gia tăng từ mức 1,8% tại thời điểm cuối quý II lên xấp xỉ 2,0%. Vấn đề nợ xấu không chỉ là rủi ro nội bộ của từng ngân hàng mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn hệ thống tài chính, làm suy giảm hệ số tín nhiệm quốc gia và kìm hãm sự phục hồi kinh tế, đặc biệt đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) – vốn chiếm khoảng 541.753 doanh nghiệp đang hoạt động, đóng góp khoảng 40% GDP và 30% ngân sách nhà nước.

Theo các chuẩn mực giám sát quốc tế (các Hiệp ước Basel 1 và Basel 2 với trọng tâm là tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu được Việt Nam định hướng áp dụng từ năm 2010), việc nhận diện, kiểm soát và xử lý nợ xấu là điều kiện bắt buộc. Trong các công cụ xử lý nợ xấu, hoạt động mua bán nợ được đánh giá là giải pháp tối ưu giúp làm sạch bảng cân đối kế toán, tăng tính thanh khoản và đẩy nhanh tốc độ thu hồi vốn. Từ mốc pháp lý đầu tiên là Quyết định 140/1999/QĐ-NHNN14 cho đến Thông tư 09/2015/TT-NHNN, hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động mua bán nợ của Việt Nam đã trải qua hơn hai thập kỷ phát triển. Tuy nhiên, các quy định và thực tiễn triển khai mua bán nợ của các NHTM vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn.

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Hoài Thương tập trung giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu sau:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động mua bán nợ của NHTM, bản chất pháp lý và nghiên cứu kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật tại một số quốc gia có thị trường nợ phát triển (Anh, Pháp).
  2. Phân tích các yếu tố tác động và khung pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động mua bán nợ của NHTM Việt Nam (quy định về chủ thể, đối tượng nợ, định giá và nội dung hợp đồng mua bán nợ).
  3. Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật, chỉ ra những bất cập, vướng mắc trong các giao dịch mua bán nợ của NHTM và đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy thị trường mua bán nợ vận hành minh bạch, hiệu quả.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán nợ của các NHTM và các chủ thể mua bán nợ liên quan trong thực tiễn.
  • Phạm vi nội dung: Quy định chung về mua bán nợ xấu của NHTM Việt Nam, các quy định đặc thù về hợp đồng mua bán nợ, quy chế thành lập và vận hành của các định chế mua bán nợ chuyên trách (AMC, DATC, VAMC).
  • Phạm vi thời gian và không gian: Tập trung vào các quy định pháp luật điều chỉnh NHTM tại thị trường Việt Nam từ năm 1999 đến năm 2021, có sự so sánh, đối chiếu với pháp luật Vương quốc Anh và Cộng hòa Pháp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận hoạt động mua bán nợ dưới góc độ kết hợp giữa lý luận pháp luật dân sự, pháp luật thương mại - ngân hàng và thực tiễn quản trị tài chính.

Khung lý thuyết và nền tảng pháp lý:

  • Lý luận chuyển giao quyền tài sản và thế quyền: Tiếp cận giao dịch mua bán nợ theo hai thuộc tính: bản chất mua bán tài sản đặc thù (các quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng tín dụng) và bản chất chuyển giao quyền yêu cầu theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015.
  • Hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam: Luật Các tổ chức tín dụng 2010; Bộ luật Dân sự 2015; Thông tư 09/2015/TT-NHNN quy định về hoạt động mua, bán nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Quyết định 59/2006/QĐ-NHNN; Quyết định 140/1999/QĐ-NHNN14; Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN; Nghị định 53/2013/NĐ-CP và Thông tư 19/2013/TT-NHNN (về VAMC); Nghị định 129/2020/NĐ-CP (về DATC); Thông tư 39/2016/TT-NHNN.
  • Khung pháp lý quốc tế tham chiếu: Đạo luật Tài sản 1925 (The Law of Property Act 1925), Đạo luật Tài sản 1958 của Anh; Đạo luật về Hợp đồng (Quyền của bên thứ ba) 1999 của Anh; Hợp đồng mẫu chuẩn hóa của Hiệp hội Thị trường Cho vay London (LMA); Bộ luật Dân sự Pháp (Code Civil); Bộ luật Tiền tệ và Tài chính Pháp (Code Monétaire et Financier - cơ chế chuyển nhượng Dailly).

Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính làm chủ đạo, bao gồm:

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Rà soát từng điều khoản luật định qua các thời kỳ (1999, 2006, 2015), từ đó tổng hợp thành các thuộc tính pháp lý của quan hệ mua bán nợ.
  • Phương pháp so sánh - đối chiếu: So sánh quy chế mua bán nợ giữa các văn bản quy phạm pháp luật trong nước; so sánh mô hình hoạt động của VAMC và DATC; đối chiếu kỹ thuật lập pháp giữa hệ thống Thông luật (Common Law - Anh) và Dân luật (Civil Law - Pháp) trong việc chuyển giao khoản nợ.
  • Phương pháp nghiên cứu logic: Luận giải mối liên hệ nhân quả giữa quy định pháp luật với tính thanh khoản của thị trường và khả năng xử lý nợ xấu của hệ sinh thái ngân hàng.

Nguồn dữ liệu: Báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam (Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2019), các đề tài cấp Bộ, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ chuyên ngành luật học, cùng các án lệ và biểu mẫu hợp đồng tiêu chuẩn (LMA, VAMC).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận chung về hoạt động mua bán nợ của ngân hàng thương mại

Chương 1 làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng và phân tích kinh nghiệm quốc tế:

  • Khái niệm và sự phát triển thuật ngữ qua các thời kỳ: Hoạt động mua bán nợ được ghi nhận lần đầu tại Quyết định 140/1999/QĐ-NHNN14 với mô tả quyền - nghĩa vụ cơ bản; được thu gọn nội hàm tại Quyết định 59/2006/QĐ-NHNN; và chuẩn hóa tại Thông tư 09/2015/TT-NHNN theo hướng xác định rõ bản chất là thỏa thuận bằng văn bản về việc chuyển giao quyền đòi nợ đối với khoản nợ phát sinh từ nghiệp vụ cho vay và khoản trả thay trong nghiệp vụ bảo lãnh.
  • Bản chất pháp lý kép:
    1. Mua bán tài sản: Đối tượng giao dịch là một dạng tài sản đặc biệt – quyền đòi nợ và các quyền tài sản gắn liền phát sinh từ quan hệ tín dụng, đòi hỏi sự thống nhất ý chí giữa bên bán (NHTM) và bên mua.
    2. Chuyển giao quyền yêu cầu và thế quyền: Bên mua nợ trở thành người kế thừa toàn bộ quyền chủ nợ của bên bán. Pháp luật quy định nghĩa vụ bắt buộc của bên bán là phải thông báo bằng văn bản cho bên nợ, nhưng không bắt buộc phải có sự đồng ý của bên nợ (nhằm đảm bảo tính nhanh chóng của lưu thông vốn), trừ trường hợp khoản vay tuần hoàn/chưa giải ngân hết hoặc có thỏa thuận khác.
  • Vai trò đa chiều: Mua bán nợ giúp bên bán làm sạch bảng cân đối kế toán và tái tạo nguồn vốn; giúp bên mua tìm kiếm lợi nhuận hoặc cơ cấu lại danh mục tài sản; giúp bên nợ có cơ hội tái cấu trúc sản xuất kinh doanh; giúp Nhà nước giảm gánh nặng ngân sách và điều tiết thanh khoản vĩ mô.
  • Kinh nghiệm quốc tế:
    • Pháp luật Anh: Áp dụng hai cơ chế chủ đạo: Chuyển giao quyền và nghĩa vụ (Novation – hủy hợp đồng cũ, xác lập hợp đồng mới, yêu cầu sự đồng thuận của tất cả các bên kể cả bên bảo đảm, thường dùng mẫu LMA) và Chuyển nhượng quyền (Assignment – gồm Legal assignment theo Đạo luật Tài sản 1925 đòi hỏi văn bản tuyệt đối kèm thông báo, và Equitable assignment mềm dẻo hơn nhưng tiềm ẩn rủi ro về thứ tự ưu tiên thanh toán).
    • Pháp luật Pháp: Áp dụng chế định chuyển nhượng nợ Dailly theo Bộ luật Tiền tệ và Tài chính (Điều L. 313-23), bắt buộc lập văn bản dưới hình thức phiếu bordereau. Cơ chế này cho phép tự động chuyển giao các biện pháp bảo đảm đi kèm (Điều L. 313-27) mà không cần thủ tục phụ, đồng thời giới hạn số lần chuyển nhượng để kiểm soát rủi ro.

Chương 2: Lý luận về pháp luật về hoạt động mua bán nợ của NHTM

Chương 2 tập trung phân tích khung pháp lý thực định điều chỉnh hoạt động mua bán nợ:

  • Sự cần thiết và các yếu tố tác động: Việc xây dựng pháp luật mua bán nợ chịu sự chi phối chặt chẽ bởi: (1) Yếu tố chính trị (thể chế hóa đường lối của Đảng, bảo đảm trật tự an toàn tài chính, phòng chống tiêu cực ngân hàng); (2) Yếu tố kinh tế (mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, yêu cầu xử lý tắc nghẽn vốn); (3) Yếu tố hội nhập quốc tế (chuẩn mực Basel, thông lệ thị trường vốn).
  • Chủ thể tham gia thị trường:
    • Bên bán nợ: Các NHTM có nhu cầu thanh lý nợ xấu, cơ cấu tài sản.
    • Bên mua nợ chuyên trách: Khóa luận so sánh chi tiết hai định chế mua bán nợ đặc thù do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ:
Tiêu chí so sánh Công ty Quản lý nợ và Khai thác tài sản (DATC) Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC)
Căn cứ thành lập Quyết định của Thủ tướng thành lập năm 2003; Nghị định 129/2020/NĐ-CP Nghị định 53/2013/NĐ-CP; Thông tư 19/2013/TT-NHNN
Mục đích chính Tái cơ cấu doanh nghiệp thông qua mua bán, xử lý nợ; bảo toàn và phát triển vốn Nhà nước Xử lý nhanh nợ xấu ngân hàng, lành mạnh hóa hệ thống TCTD, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng
Đối tượng khoản nợ Mua các khoản nợ nói chung (bao gồm cả nợ nhóm 1, nhóm 2 của doanh nghiệp) Tập trung mua nợ xấu (từ nhóm 3 đến nhóm 5) đáp ứng các điều kiện pháp luật quy định
Phương thức định giá & thanh toán Mua theo giá thị trường, tự xác định phương án sinh lời, thanh toán bằng tiền mặt Mua theo giá trị ghi sổ (thanh toán bằng trái phiếu đặc biệt) hoặc mua theo giá trị thị trường
Nguyên tắc tài chính Đảm bảo khả năng sinh lời, hiệu quả kinh tế Hoạt động lấy thu bù chi, không vì mục tiêu lợi nhuận
  • Bên thứ ba trong quan hệ mua bán nợ: Bên nợ (giữ nguyên nghĩa vụ nhưng thay đổi chủ nợ tiếp nhận), tổ chức môi giới và tổ chức đấu giá tài sản.
  • Đối tượng của hoạt động mua bán nợ: Theo Thông tư 09/2015/TT-NHNN, khoản nợ được phép giao dịch phải phát sinh từ hai nghiệp vụ: cho vay hoặc trả thay trong bảo lãnh; đang được theo dõi nội bảng, ngoại bảng hoặc đã xuất toán; có đầy đủ hồ sơ pháp lý chứng minh và không có thỏa thuận cấm chuyển nhượng.
  • Phương thức xác định giá và nội dung hợp đồng: Giá mua bán nợ được xác định qua hình thức thỏa thuận hoặc đấu giá, thông qua vai trò bắt buộc của Hội đồng mua, bán nợ do NHTM thành lập. Hợp đồng mua bán nợ bắt buộc phải chuẩn hóa các điều khoản trọng yếu: thông tin định danh khoản nợ, giá và phương thức thanh toán, thời điểm chuyển giao hồ sơ và xác lập hiệu lực thế quyền, quyền được cung cấp thông tin của bên mua, nghĩa vụ thông báo trong hạn 05 ngày làm việc của bên bán, điều khoản chế tài vi phạm và giải quyết tranh chấp.

Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về hoạt động mua bán nợ của các NHTM Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện

Chương 3 tổng kết các rào cản trong quá trình thực thi pháp luật và xác định định hướng sửa đổi:

  • Thực trạng triển khai và vướng mắc: Hoạt động mua bán nợ tại các NHTM Việt Nam còn gặp trở ngại do thị trường nợ thứ cấp chưa phát triển toàn diện; cơ chế xử lý tài sản bảo đảm còn xung đột giữa pháp luật dân sự và pháp luật chuyên ngành ngân hàng; việc chuyển nhượng quyền bảo đảm (đặc biệt là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất) cho các chủ thể không phải TCTD còn gặp rào cản đăng ký giao dịch bảo đảm.
  • Phương hướng và giải pháp hoàn thiện:
    1. Hoàn thiện quy định về điều kiện tham gia thị trường của các nhà đầu tư tư nhân và nhà đầu tư nước ngoài để đa dạng hóa nguồn cầu trên thị trường nợ.
    2. Nâng cao vai trò trung tâm của VAMC trong việc vận hành sàn giao dịch nợ chuyên nghiệp theo Đề án được Ngân hàng Nhà nước phê duyệt.
    3. Minh bạch hóa quy chuẩn định giá khoản nợ và trách nhiệm pháp lý của Hội đồng mua, bán nợ tại các TCTD.
    4. Đơn giản hóa thủ tục hành chính trong việc đăng ký biến động bên nhận bảo đảm khi chuyển nhượng khoản nợ có tài sản bảo đảm.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa toàn diện quá trình tiến hóa lập pháp: Khóa luận đã phân tích mạch lạc tiến trình phát triển của các văn bản điều chỉnh hoạt động mua bán nợ từ Quyết định 140/1999/QĐ-NHNN14, Quyết định 59/2006/QĐ-NHNN đến Thông tư 09/2015/TT-NHNN, chỉ rõ các điểm sửa đổi tiến bộ như việc bãi bỏ quy định bắt buộc bên nợ phải chấp nhận vô điều kiện và bổ sung quyền được cung cấp thông tin khoản nợ cho bên mua.
  • Làm rõ ranh giới pháp lý giữa các mô hình định chế: Phân định rành mạch địa vị pháp lý, mục tiêu hoạt động và cơ chế tài chính giữa mô hình AMC của NHTM, DATC (tập trung tái cơ cấu doanh nghiệp theo giá thị trường) và VAMC (tổ chức xử lý nợ xấu quốc gia vận hành cơ chế trái phiếu đặc biệt).
  • Tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế: Chỉ ra khả năng ứng dụng các kỹ thuật lập pháp từ chế định Assignment/Novation của Anh và cơ chế chứng từ hóa (bordereau) của Pháp để giải quyết điểm nghẽn chuyển giao tài sản bảo đảm trong pháp luật Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do dữ liệu thực tiễn được tiếp cận đến năm 2021, khóa luận chưa phản ánh hết tác động sâu rộng của các đợt bùng phát dịch bệnh kéo dài sau năm 2020 đối với cơ cấu nợ xấu ngân hàng cũng như các chính sách cơ cấu lại nợ đặc thù được ban hành trong giai đoạn tiếp theo.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu khung khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động của Sàn giao dịch nợ quốc gia; cơ chế chứng khoán hóa các khoản nợ xấu (Asset-Backed Securities - ABS); và cơ chế xử lý nợ xấu xuyên biên giới khi các nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp tham gia thị trường mua bán nợ tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

  • Đối với sinh viên và học viên ngành Luật Thương mại, Tài chính - Ngân hàng: Tài liệu cung cấp cơ sở lý luận chi tiết, hệ thống thuật ngữ pháp lý chuẩn xác và cách tiếp cận luật so sánh liên quan đến chuyển giao nghĩa vụ dân sự và quyền đòi nợ.
  • Đối với cán bộ pháp chế NHTM và doanh nghiệp xử lý nợ: Phần phân tích cấu trúc điều khoản hợp đồng mua bán nợ (Chương 2) và phân tích rủi ro trong chuyển giao hồ sơ, thực hiện nghĩa vụ thông báo (Điều 14, 16, 17 Thông tư 09/2015/TT-NHNN) có giá trị tham khảo thực tiễn cao trong quá trình soạn thảo, rà soát hợp đồng giao dịch nợ xấu.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo Thông tư 09/2015/TT-NHNN, những loại khoản nợ nào được phép trở thành đối tượng mua bán của NHTM?

Khoản nợ được phép mua bán phải phát sinh từ hai nghiệp vụ tín dụng cụ thể: nghiệp vụ cho vay hoặc khoản trả thay trong nghiệp vụ bảo lãnh. Khoản nợ này phải đang được theo dõi hạch toán nội bảng, ngoại bảng tại bảng cân đối kế toán hoặc đã xuất toán ra khỏi bảng cân đối kế toán; có đầy đủ hồ sơ, chứng từ chứng minh thực trạng nợ; không có thỏa thuận cấm mua bán nợ; và không bị sử dụng để bảo đảm nghĩa vụ dân sự khác (trừ khi bên nhận bảo đảm đồng ý bằng văn bản).

2. Sự khác biệt cốt lõi giữa hai mô hình mua bán nợ VAMC và DATC là gì?

DATC mua nợ nhằm mục đích chính là tái cơ cấu và phục hồi doanh nghiệp vay nợ, hoạt động theo nguyên tắc thị trường, bảo toàn vốn và có thể mua cả các khoản nợ nhóm 1 hoặc nhóm 2 bằng tiền mặt. Ngược lại, VAMC là tổ chức xử lý nợ xấu quốc gia nhằm lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng, hoạt động theo nguyên tắc lấy thu bù chi, tập trung mua nợ xấu (từ nhóm 3 đến nhóm 5) bằng trái phiếu đặc biệt (theo giá trị ghi sổ) hoặc thanh toán theo giá trị thị trường.

3. Việc bán nợ của NHTM có bắt buộc phải có sự đồng ý của khách hàng vay (bên nợ) không?

Không bắt buộc. Do bản chất mua bán nợ là chuyển giao quyền yêu cầu của chủ nợ, thỏa thuận mua bán nợ chỉ cần sự thống nhất ý chí giữa bên bán nợ (NHTM) và bên mua nợ. Bên bán nợ chỉ có nghĩa vụ bắt buộc là thông báo bằng văn bản cho bên nợ trong thời hạn chậm nhất 05 ngày làm việc kể từ ngày ký kết hoặc sửa đổi hợp đồng mua bán nợ. Sự đồng ý của bên vay chỉ cần thiết khi khoản vay là khoản vay tuần hoàn hoặc ngân hàng chưa giải ngân hết hạn mức vốn cam kết.

4. Pháp luật Anh điều chỉnh việc chuyển nhượng khoản vay của ngân hàng thông qua những cơ chế nào?

Pháp luật Anh sử dụng hai cơ chế phổ biến:

  • Novation (Chuyển giao quyền và nghĩa vụ): Thay thế hợp đồng cũ bằng hợp đồng mới, chấm dứt tư cách của ngân hàng cũ và chuyển toàn bộ quyền lẫn nghĩa vụ cho bên thứ ba, đòi hỏi sự đồng thuận của tất cả các bên và phải thiết lập lại các biện pháp bảo đảm.
  • Assignment (Chuyển nhượng quyền): Chỉ chuyển giao các quyền (bao gồm quyền đòi nợ và quyền khởi kiện) mà không chuyển giao nghĩa vụ nếu không có sự đồng ý của bên vay; được phân chia thành Legal assignment (theo luật định, đòi hỏi văn bản tuyệt đối và thông báo) và Equitable assignment (theo luật công bằng, linh hoạt hơn nhưng bên mua chịu rủi ro ưu tiên thanh toán).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Hoài Thương đã giải quyết một cách có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý về hoạt động mua bán nợ của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Bằng việc phân tích sâu sắc các quy định từ Thông tư 09/2015/TT-NHNN, cơ chế vận hành của các tổ chức VAMC, DATC, cùng kinh nghiệm so sánh pháp luật Anh và Pháp, công trình đã làm rõ bản chất chuyển giao quyền đòi nợ và thế quyền trong giao dịch nợ xấu. Các giải pháp được đề xuất trong khóa luận mang tính định hướng thiết thực, đóng góp cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện thể chế tài chính - ngân hàng và thúc đẩy sự phát triển minh bạch của thị trường mua bán nợ tại Việt Nam.