CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG KINH DOANH THỰC PHẨM THỦY HẢI SẢN 1. NGƯỜI TIÊU DÙNG – CHỦ THỂ KHÔNG THỂ THIẾU TRONG QUAN HỆ KINH DOANH THỰC PHẨM THỦY HẢI SẢN, NHƯNG LUÔN Ở THẾ YẾU DO SỰ TÁCH BIỆT GIỮA SẢN XUẤT VÀ TIÊU DÙNG 1. Bản chất của hoạt động kinh doanh thực phẩm thủy hải sản Sản xuất và tiêu dùng là hai mặt không thể thiếu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa trên thị trường. Các hoạt động hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật của hầu hết các quốc gia đều tập trung vào tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp được tự do trong việc gia nhập thị trường, sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho thị trường thông qua việc không ngừng cải thiện môi trường đầu tư an toàn, lành mạnh.
Các chính sách, pháp luật về khuyến khích và bảo hộ tự do kinh doanh đã góp phần quan trọng vào việc làm gia tăng các chủ thể cung ứng hàng hóa, dịch vụ trên thị trường với sự đa dạng của các loại hàng hóa, dịch vụ. Người tiêu dùng có nhiều cơ hội lựa chọn hàng hóa, dịch vụ với chất lượng tốt nhất, song sự tách biệt giữa sản xuất và tiêu dùng cộng với quá trình luân chuyển hàng hóa, người tiêu dùng không có cơ hội để xâm nhập và kiểm soát quá trình sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp. Để bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp, Nhà nước ban hành các tiêu chuẩn về chất lượng hàng hóa, dịch vụ và các biện pháp chế tài xử lý đối với hành vi sản xuất cung ứng hàng hóa dịch vụ không bảo đảm chất lượng. Thực tiễn đã chứng minh, doanh nghiệp muốn tiêu thụ hết lượng hàng hóa, dịch vụ do mình cung ứng ngoài việc đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng thông qua việc quan sát mẫu mã, quy trình dịch vụ thì việc bảo đảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ cũng luôn được nhà sản xuất quan quan.
Mặc dù vậy, trong thực tiễn kinh doanh, vẫn còn nhiều hành vi sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa, dịch vụ đã làm suy giảm nghiêm trọng niềm 123doc 7 tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Một điều đáng buồn, số lượng hàng hóa, dịch vụ, nhất là hàng tiêu dùng, lương thực, thực phẩm không đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng bị phát hiện đa phần là các doanh nghiệp trong nước. Mức độ “phổ biến” của hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng được bày bán công khai cộng với những hạn chế về khả năng nhận biết, phân biệt hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng của người tiêu dùng đã dẫn tới sự phản ứng “nói không với hàng Việt”, tự sản xuất hàng hóa, dịch vụ an toàn hoặc lợi dụng tâm lý lựa chọn “sản phẩm sạch”, sản phẩm “an toàn” hoặc lựa chọn hàng hóa có nguồn gốc nước ngoài (hàng nhập khẩu) hoặc tự cấp, tự túc là minh chứng cho sự thất bại thật sự của doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình cạnh tranh với hàng hóa, dịch vụ nước ngoài. Nó hoàn toàn tương phản với nỗ lực lập pháp, sự vào cuộc tích cực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng như làm suy giảm hiệu lực của hệ thống chế tài, xâm phạm quyền lợi của các doanh nghiệp làm ăn chân chính.
Kinh doanh thực phẩm thủy hải sản, về bản chất là hành vi mua bán hàng hóa – một hành vi thương mại điển hình trong Luật thương mại, có đối tượng mua bán là các loại thủy hải sản. Giao dịch kinh doanh thực phẩm thủy hải sản phát sinh không chỉ giữa người kinh doanh sản phẩm thủy hải sản thành phẩm (sản phẩm hàng hóa thủy hải sản) mà còn có liên quan đến kỹ thuật nuôi trồng, quy trình chế biến để bảo đảm tiêu chuẩn an toàn thực phẩm. Hoạt động kinh doanh thủy hải sản cần cân nhắc đến các ngoại lệ, bao gồm: trách nhiệm của toàn xã hội, của Nhà nước, của giới doanh nghiệp và cả những nỗ lực, cố gắng của chính giới người tiêu dùng có tổ chức và kiểm soát điều kiện giao dịch chung.1 Trách nhiệm của nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, trong đó có người tiêu dùng thực phẩm thủy hải sản không chỉ nhằm đảm bảo sự cân bằng lợi ích và sự bình đẳng trên thực tế giữa người sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và người tiêu dùng mà còn để bảo vệ lợi ích của người thứ ba hoặc lợi ích của xã hội. Nói cách khác, Nhà nước chỉ can thiệp vào quan hệ sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng 1 Nguyễn Như Phát, Một số vấn đề lý luận xung quanh Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 2(262)/2010, tr.
123doc 8 của người tiêu dùng khi quyền lợi của chủ thể này bị người khác xâm phạm hoặc bị đe dọa xâm phạm.2 Từ những phân tích trên có thể thấy, hoạt động kinh doanh thủy hải sản chứa đựng đầy đủ các đặc điểm của hành vi kinh doanh và có một số điểm khác biệt là: - Đối tượng kinh doanh là thực phẩm thủy hải sản, có thể là thủy hải sản tươi sống hoặc thủy hải sản đã qua chế biến thành các sản phẩm hàng hóa cụ thể. - Thực phẩm thủy hải sản dễ bị phân hủy theo thời gian, tức là khó bảo đảm được độ tươi cần thiết để làm thực phẩm. Nói cách khác, thủy hải sản rất dễ bị biến đổi tính chất theo thời gian. Do vậy, việc chế biến, kinh doanh thực phẩm thủy hải sản đòi hỏi phản nhanh chóng và phải có thời hạn sử dụng rõ ràng.
- Trong quá trình chế biến thực phẩm thủy hải sản dễ lẫn các tạp chất tự nhiên cũng như các hóa chất nhân tạo do người chế biến cho vào trong quá trình chế biến nên dễ làm biến đổi tính chất, giá trị dinh dưỡng của thực phẩm thủy hải sản. - Từ quy định kinh doanh thực phẩm việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động giới thiệu, dịch vụ bảo quản, dịch vụ vận chuyển hoặc buôn bán thực phẩm3 thì kinh doanh thực phẩm thủy hải sản cũng bao gồm việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động giới thiệu, dịch vụ bảo quản, dịch vụ vận chuyển hoặc buôn bán thực phẩm thủy hải sản. Người tiêu dùng và các phương pháp tiếp cận bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng pháp luật 1. Người tiêu dùng trong pháp luật các nước và Việt Nam Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Cương cho thấy, có nhiều quan niệm về người tiêu dùng như 4 2 Nguyễn Đức Minh, Trách nhiệm của Nhà nước trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Tạp chí Luật học số 12/2008, tr.
3 Khoản 8 Điều 2 Luật An toàn thực phẩm 2010. 4 Nguyễn Văn Cương, Quan niệm về người tiêu dùng trong pháp luật của cacsquoocs gia trên thế giới và vấn đề xây dựng khái niệm người tiêu dùng trong Dự thảo Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, truy cập tại địa chỉ duthaoonline./Quan_niem_ve_Nguoi_tieu_dung. 123doc 9 - Hướng dẫn của Liên Hợp quốc về bảo vệ người tiêu dùng ban hành từ năm 1985 và đã được hiệu chỉnh vào năm 1999, khái niệm người tiêu dùng không được giải thích một cách rõ ràng. Tuy nhiên, theo bản hướng dẫn này người tiêu dùng được hưởng 8 quyền sau đây (1) quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, (2) quyền được an toàn, (3) quyền được thông tin, (4) quyền được lựa chọn, (5) quyền được lắng nghe, (6) quyền được khiếu nại và bồi thường, (7) quyền được giáo dục, đào tạo về tiêu dùng, (8) quyền được có môi trường sống lành mạnh và bền vững.
- Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1993 của Trung Quốc tuy không có điều khoản riêng giải thích khái niệm người tiêu dùng như tại Điều 2 của Luật này có quy định “Trường hợp người tiêu dùng, vì nhu cầu cuộc sống, mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ thì các quyền và lợi ích hợp pháp của mình sẽ được bảo vệ theo quy định của Luật này và trường hợp Luật này không quy định thì sẽ được bảo vệ theo các quy định khác có liên quan của pháp luật.” Điều luật này đã ngụ ý, người tiêu dùng theo quan niệm của pháp luật Trung Quốc chỉ là cá nhân (mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ vì nhu cầu sinh hoạt của mình chứ không phải vì mục đích kinh doanh hoặc hoạt động nghề nghiệp). - Chỉ thị số 1999/44/EC ngày 25/5/1999 về việc mua bán hàng hóa tiêu dùng và các bảo đảm có liên quan (Directive 1999/44/EC of the European Parliament and of the Council of 25 May 1999 on certain aspects of the sale of consumer goods and associated guarantees) giải thích người tiêu dùng là bất cứ tự nhiên nhân (tức là cá nhân) nào … tham gia vào các hợp đồng điều chỉnh trong Chỉ thị này… vì mục đích không liên quan tới hoạt động kinh doanh hoặc nghề nghiệp của mình. - Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam năm 2010 quan niệm người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức. Từ các quan niệm trên về người tiêu dùng cho thấy có sự giống nhau cơ bản về cách luận giải người tiêu dùng là người sử dụng hàng hóa, dịch vụ không nhằm mục đích lợi nhuận.
Tuy nhiên, người tiêu dùng “không có nghĩa vụ phải chứng 123doc 10 minh mục đích mua hoặc sử dụng hàng hóa của mình.”5 Đây chính là điểm “mờ” trong quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, khi mà người mua hàng hóa, dịch vụ không cung cấp rõ mục đích mua bán hàng hóa, dịch vụ về để kinh doanh hay tiêu dùng. Mặt khác, trong thực tiễn, nhiều doanh nghiệp mua hàng hóa về sử dụng vào quá trình sản xuất, kinh doanh, cung ứng dịch vụ thì cũng cần phải xem đó là hành vi tiêu dùng hàng hóa và nếu quyền và lợi ích hợp pháp của những doanh nghiệp này bị xâm phạm thì cũng cần phải giải quyết theo cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.